Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh

Hán dịch: Ðường, Tây Thiên Trúc, Sa Môn Già Phạm Ðạt Ma
Thiển giảng: Vạn Phật Thánh Thành, Hòa Thượng Tuyên Hóa.

Tựa của Kinh là "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni Kinh." Trong phần giải thích tựa kinh (Tổng thích danh đề), lần trước đã giải thích "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm" nay giải thích phần còn lại của tựa kinh, tức là "Bồ Tát Vô Ngại Ðại Tâm Ðà La Ni Kinh."
Bồ Ðề Hải

 

Kinh Văn:

Âm: "TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ GIẢ, BẤT BỊ NHƯ THỊ THẬP NGŨ CHỦNG ÁC TỬ DÃ, ÐẮC THẬP NGŨ CHỦNG THIỆN SANH GIẢ:

NHẤT GIẢ, SỞ SANH CHI XỨ, THƯỜNG PHÙNG THIỆN VƯƠNG;

NHỊ GIẢ, THƯỜNG SANH THIỆN QUỐC;

TAM GIẢ, THƯỜNG TRỊ HẢO THỜI;

TỨ GIẢ, THƯỜNG PHÙNG THIỆN HỮU;

NGŨ GIẢ, THÂN CĂN THƯỜNG ÐẮC CỤ TÚC;

LỤC GIẢ, ÐẠO TÂM THUẦN THỤC;

THẤT GIẢ, BẤT PHẠM CẤM GIỚI;

BÁT GIẢ, SỞ HỮU QUYẾN THUỘC, ÂN NGHĨA HÒA THUẬN;

CỬU GIẢ, TƯ CỤ TÀI THỰC, THƯỜNG ÐẮC PHONG TÚC;

THẬP GIẢ, HẰNG ÐẮC THA NHÂN CUNG KÍNH PHÙ TIẾP;

THẬP NHẤT GIẢ, SỞ HỮU TÀI BẢO, VÔ THA KIẾP ÐOẠT;

THẬP NHỊ GIẢ, Ý DỤC SỞ CẦU, GIAI TẤT XƯNG TOẠI;

THẬP TAM GIẢ, LONG THIÊN THIỆN THẦN HẰNG THƯỜNG ỦNG VỆ;

THẬP TỨ GIẢ, SỞ SANH CHI XỨ, KIẾN PHẬT VĂN PHÁP;

THẬP NGŨ GIẢ, SỞ VĂN CHÁNH PHÁP, NGỘ THẬM THÂM NGHĨA."

 

Nghĩa: "Vị nào tụng trì Thần Chú Ðại Bi thì chẳng những không bị mười lăm loại ác tử như thế, mà còn sẽ được mười lăm loại thiện sanh:

Một là sanh ra ở nơi thường gặp bậc thiện vương;

Hai là thường sanh ra ở thiện quốc;

Ba là thường gặp thời đại tốt;

Bốn là thường gặp thiện hữu;

Năm là thân căn thường được đầy đủ;

Sáu là Ðạo tâm thuần thục;

Bảy là không phạm cấm giới;

Tám là tất cả quyến thuộc đều hòa thuận, có ân nghĩa;

Chín là đồ dùng, tiền tài, vật thực thường được đầy đủ;

Mười là luôn được người khác cung kính, giúp đỡ;

Mười một là tiền của châu báu không bị kẻ khác cướp đoạt;

Mười hai là những việc mong cầu đều được toại nguyện;

Mười ba là long, thiên, thiện thần thường theo ủng hộ;

Mười bốn là sanh ở nơi nào cũng được thấy Phật nghe Pháp;

Mười lăm là được nghe Chánh Pháp và tỏ ngộ nghĩa lý thâm sâu."

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát lại bạch cùng Ðức Thế Tôn: "Vị nào tụng trì Thần Chú Ðại Bi thì không bị mười lăm loại ác tử như vậy, mà sẽ được mười lăm loại thiện sanh." Mười lăm thứ "thiện sanh" đó là gồm những gì?

 

"Một là sanh ra ở nơi thường gặp bậc thiện vương." Nếu quý vị tụng trì Chú Ðại Bi thì sẽ được sanh trưởng ở những đất nước có vị quốc vương biết tu Ngũ Giới và hành Thập Thiện.

 

"Hai là thường sanh ra ở thiện quốc." "Thiện quốc" tức là một đất nước không có chiến tranh loạn lạc, không có giặc giã đao binh, không có lũ lụt, hỏa hoạn, và cũng không có các bệnh dịch hoành hành. Ngoài ra, dân chúng ở đất nước đó đều là những người rất lương thiện, ai nấy đều chung sống thuận hòa chứ không tàn sát lẫn nhau.

 

"Ba là thường gặp thời đại tốt." Trì tụng Ðại Bi Chú, quý vị sẽ được sanh vào thời thái bình thịnh trị, không gặp cảnh chiến tranh giặc giã.

 

"Bốn là thường gặp thiện hữu." "Thiện hữu" tức là những người bạn tốt, biết khuyến khích quý vị học tập Phật Pháp, chăm chỉ tu hành.

 

"Năm là thân căn thường được đầy đủ." Nếu quý vị thường niệm Chú Ðại Bi thì sáu căn—mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý—của quý vị đều vô cùng xinh đẹp, viên mãn.

 

"Sáu là Ðạo tâm thuần thục." "Thuần" tức là thuần nhất, không hỗn tạp, không xen lẫn gì cả. "Thục" tức là thành thục, chín muồi. Vậy, nếu quý vị tụng trì Chú Ðại Bi, thì cái tâm thuần thành tu Ðạo của quý vị chẳng những kiên cố mà còn sắp thành thục nữa.

 

"Bảy là không phạm cấm giới." Phàm là tu Ðạo, quý vị hễ thọ giới nào rồi thì không được vi phạm giới đó. Trong Giới Luật có bảo quý vị chớ làm việc gì đó song quý vị vẫn cứ làm, như thế là "phạm cấm giới" vậy.

 

"Tám là tất cả quyến thuộc đều hòa thuận, có ân nghĩa." Tất cả bà con họ hàng của gia đình quý vị đều biết cảm ân báo đức lẫn nhau; quý vị tử tế với họ và họ cũng tử tế với quý vị, không ai có lòng ích kỷ hoặc mưu đồ lợi lộc riêng tư.

 

"Chín là đồ dùng, tiền tài, vật thực thường được đầy đủ." Quý vị được sở hữu rất nhiều tài bảo, vật dụng, đồ ăn thức uống; và luôn luôn sống trong sự sung túc, dư dả, không bao giờ bị thiếu thốn.

 

"Mười là luôn được người khác cung kính, giúp đỡ." Hễ ai gặp quý vị cũng đều tỏ ra cung kính và sẵn lòng giúp đỡ quý vị.

 

"Mười một là tiền của châu báu không bị kẻ khác cướp đoạt." Các tài bảo của riêng quý vị thì không bị người khác đến tranh giành, cướp đoạt.

 

"Mười hai là những việc mong cầu đều được toại nguyện." Quý vị ao ước điều gì thì cũng đều được thỏa mãn, vừa lòng đẹp ý.

 

"Mười ba là long, thiên, thiện thần thường theo ủng hộ." Thiên, long, bát bộ, cùng tất cả thiện thần đều luôn luôn phù hộ, che chở cho quý vị.

 

"Mười bốn là sanh ở nơi nào cũng được thấy Phật nghe Pháp." Nếu quý vị trì tụng Chú Ðại Bi thì sanh ra ở xứ sở nào cũng đều được thấy Phật và được nghe Pháp. Nay tuy Ðức Phật đã nhập Niết-bàn, song chúng ta trông thấy tượng Phật thì cũng như được "thấy Phật," và nghe giảng Phật Pháp tức là được "nghe Pháp" vậy.

 

"Mười lăm là được nghe Chánh Pháp và tỏ ngộ nghĩa lý thâm sâu." Những điều quý vị được nghe thì đều thuộc về Chánh Pháp, và quý vị có thể hiểu được những đạo lý rất thâm sâu.

 

 

Kinh Văn:

Âm: "NHƯỢC HỮU TỤNG TRÌ ÐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI GIẢ, ÐẮC NHƯ THỊ ÐẲNG THẬP NGŨ CHỦNG THIỆN SANH DÃ, NHẤT THIẾT THIÊN NHÂN, ƯNG THƯỜNG TỤNG TRÌ, VẬT SANH GIẢI ÐÃI."

 

Nghĩa: "Nếu người nào trì tụng Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni thì sẽ được mười lăm chỗ thiện sanh như thế. Tất cả hàng Trời, người nên thường xuyên trì tụng, chớ sanh biếng nhác!"

 

 

Lược Giảng:

"Nếu người nào trì tụng Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni thì sẽ được mười lăm chỗ thiện sanh như thế. Tất cả hàng Trời, người, nên thường xuyên trì tụng, chớ sanh biếng nhác!" Hết thảy thiên nhân trên các cõi trời cũng như loài người chúng ta ở chốn nhân gian đều nên chuyên cần trì tụng Chú Ðại Bi, và phải nhớ kỹ là đừng lười biếng, xao lãng! Chúng ta cần phải nhớ là chớ nên tham ăn, tham ngủ! Nếu quý vị có thể chú trọng việc trì niệm Chú Ðại Bi như việc ăn uống, quan tâm đến việc trì tụng Chú Ðại Bi như việc ngủ nghỉ, thì tốt biết bao: "Hễ hôm nào mà không tụng Chú Ðại Bi là tôi cảm thấy như thiếu ăn thiếu ngủ vậy!"

Quý vị hãy xem việc trì niệm Chú Ðại Bi cũng thiết yếu như việc ăn uống, ngủ nghỉ; chớ nên giải đãi, lười biếng. Chuyển cái tâm thích ăn thành cái tâm thích trì tụng Chú Ðại Bi, đổi cái tâm thích ngủ thành cái tâm thiết tha tụng trì Ðại Bi Chú; quý vị xem, như thế chẳng phải là kỳ diệu sao?

Kinh Văn:

Âm: QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT THUYẾT THỊ NGỮ DĨ, Ư CHÚNG HỘI TIỀN, HỢP CHƯỞNG CHÁNH TRỤ, Ư CHƯ CHÚNG SANH, KHỞI ÐẠI BI TÂM, KHAI NHAN HÀM TIẾU, TỨC THUYẾT NHƯ THỊ QUẢNG ÐẠI VIÊN MÃN VÔ NGẠI ÐẠI BI TÂM ÐÀ-LA-NI THẦN DIỆU CHƯƠNG CÚ. ÐÀ-LA-NI VIẾT: ...

Nghĩa: Quán Thế Âm Bồ-tát nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội chắp tay đứng thẳng, đối với chúng sanh khởi lòng từ bi, tươi mặt cười nụ, tuyên thuyết chương cú thần diệu Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni. Ðà-La-Ni đó như vầy: ...

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát nói lời ấy rồi, liền ở trước chúng hội chắp tay đứng thẳng, đối với chúng sanh khởi lòng từ bi, tươi mặt cười nụ... "Tươi mặt cười nụ" tức là miệng cười chúm chím, nét mặt lộ vẻ hân hoan. Nếu mặt mày quạu quọ, lầm lì nhăn nhó, thì gọi là "xụ mặt." Quý vị cần phải rạng rỡ tươi vui, chứ đừng nên lúc nào cũng mặt ủ mày chau, hoặc sầm đen lại như đang giận ai vậy.

Lúc bấy giờ, Quán Thế Âm Bồ-tát chắp hai tay lại và đứng ngay ngắn trước mặt Ðức Phật cùng đại chúng, rồi sanh lòng đại từ đại bi thương xót tất cả chúng sanh, Ngài tươi cười rạng rỡ và lập tức tuyên thuyết chương cú thần diệu Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni. Ðà-La-Ni đó như vầy: ...

 

 

Kinh Văn:

NAM MÔ HẮC RA ÐÁT NA ÐA RA DẠ DA.

NAM MÔ A RỊ DA. BÀ LÔ KIẾT ÐẾ, THƯỚC BÁT RA DA. BỒ ÐỀ TÁT ÐỎA BÀ DA. MA HA TÁT ÐỎA BÀ DA. MA HA CA LÔ NI CA DA. ÁN. TÁT BÀN RA PHẠT DUỆ. SÓC ÐÁT NA ÐÁT TẢ. NAM MÔ TẤT KIẾT LẬT ÐỎA Y MÔNG A RỊ DA. BÀ LÔ KIẾT ÐẾ THẤT PHẬT RA LĂNG ÐÀ BÀ. NAM MÔ NA RA CẨN TRÌ. HÊ RỊ MA HA BÀN ÐA SA MẾ. TÁT BÀ A THA ÐẬU DU BẰNG. A THỆ DỰNG. TÁT BÀ TÁT ÐÁ, NA MA BÀ TÁT ÐA, NA MA BÀ GIÀ. MA PHẠT ÐẶC ÐẬU. ÐÁT ÐIỆT THA. ÁN, A BÀ LÔ HÊ. LÔ CA ÐẾ. CA RA ÐẾ. DI HÊ RỊ. MA HA BỒ ÐỀ TÁT ÐỎA. TÁT BÀ TÁT BÀ. MA RA MA RA. MA HÊ MA HÊ, RỊ ÐÀ DỰNG. CU LÔ CU LÔ YẾT MÔNG. ÐỘ LÔ ÐỘ LÔ, PHẠT GIÀ RA ÐẾ. MA HA PHẠT GIÀ DA ÐẾ. ÐÀ LA ÐÀ LA. ÐỊA LỴ NI. THẤT PHẬT RA DA. GIÁ RA GIÁ RA. MA MA PHẠT MA RA. MỤC ÐẾ LỆ. Y HÊ DI HÊ. THẤT NA THẤT NA. A RA SAM PHẬT RA XÁ LỢI. PHẠT SA PHẠT SAM. PHẬT RA XÁ DA. HÔ LÔ HÔ LÔ MA RA. HÔ LÔ HÔ LÔ HÊ RỊ. TA RA TA RA. TẤT LỴ TẤT LỴ. TÔ RÔ TÔ RÔ. BỒ ÐỀ DẠ, BỒ ÐỀ DẠ. BỒ ÐÀ DẠ, BỒ ÐÀ DẠ. DI ÐẾ RỊ DẠ. NA RA CẨN TRÌ. ÐỊA LỴ SẮT NI NA. BA DẠ MA NA. TA BÀ HA. TẤT ÐÀ DẠ. TA BÀ HA. MA HA TẤT ÐÀ DẠ. TA BÀ HA. TẤT ÐÀ DU NGHỆ. THẤT BÀN RA DẠ. TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ. TA BÀ HA. MA RA NA RA. TA BÀ HA. TẤT LỖ TĂNG A MỤC KHƯ DA. TA BÀ HA. TA BÀ MA HA A TẤT ÐÀ DẠ. TA BÀ HA. GIẢ CÁT RA A TẤT ÐÀ DẠ. TA BÀ HA. BA ÐÀ MA YẾT TẤT ÐÀ DẠ. TA BÀ HA. NA RA CẨN TRÌ, BÀN GIÀ RA DA. TA BÀ HA. MA BÀ LỢI THẮNG, YẾT RA DA. TA BÀ HA. NAM MÔ HẮC RA ÐÁT NA ÐA RA DẠ DA. NAM MÔ A LỊ DA. BÀ LÔ KIẾT ÐẾ. THƯỚC BÀN RA DẠ. TA BÀ HA.

ÁN, TẤT ÐIỆN ÐÔ. MẠN ÐÀ RA. BẠT ÐÀ DA. TA BÀ HA.

 

Lược Giảng:

Hiện tại chúng ta đang nghiên cứu Kinh Ðại Bi Ðà La Ni, do đó tạm thời chưa giảng đến bài Chú Ðại Bi này. Chỉ riêng một bài Chú này thôi cũng phải cần rất nhiều thời gian mới giảng giải cho tường tận được; do đó, bây giờ tôi chỉ giảng phần Kinh văn, còn ý nghĩa của Chú (Chú nghĩa) thì để khi nào có cơ hội tôi sẽ giải thích cặn kẽ sau. Và, luôn cả Chú Lăng Nghiêm cũng vậy, trong tương lai, nếu có cơ duyên thuận tiện thì tôi sẽ giảng nghĩa cho quý vị nghe; còn hôm nay thì tôi chỉ giải thích sơ lược về câu đầu và câu cuối của bài Chú Ðại Bi này mà thôi.

Câu đầu tiên của Chú Ðại Bi laø "Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ða Ra Dạ Da."

"Nam mô" có nghĩa là quy y, quay về nương tựa; do đó câu chú trên trở thành "Quy y Hắc Ra Ðát Na Ða Ra Dạ Da," và có nghĩa là "quy y tận hư không, biến Pháp Giới, thập phương tam thế, vô tận vô tận Tam Bảo" (con về nương tựa vô lượng vô biên Tam Bảo ở tận cùng hư không và khắp cả Pháp Giới trong mười phương ba đời). Nói theo đồ hình thì đây là bổn thân của Quán Thế Âm Bồ-tát. Nếu quý vị trì niệm câu chú này thì Quán Thế Âm Bồ-tát sẽ giúp cho mọi sở cầu của quý vị đều được toại nguyện, viên mãn như ý.

Câu cuối cùng của bài Chú Ðại Bi laø "Án Tất Ðiện Ðô. Mạn Ðà Ra. Mạt Ðà Da. Ta Bà Ha." Câu này nghĩa là gì? Câu này hàm ý là tất cả mọi nguyện vọng thiết tha của hành giả đều sẽ mau chóng được thành tựu. Quý vị trì niệm câu Chú này thì những điều nguyện ước hoặc hy vọng của quý vị sẽ không những được thành tựu mà còn thành tựu một cách nhanh chóng nữa.

Trên đây là sơ lược về ý nghĩa của câu đầu và câu cuối của bài Chú Ðại Bi.

 

 

Kinh Văn:

Âm: QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT THUYẾT THỬ CHÚ DĨ, ÐẠI ÐỊA LỤC BIẾN CHẤN ÐỘNG, THIÊN VŨ BẢO HOA, TÂN PHÂN NHI HẠ. THẬP PHƯƠNG CHƯ PHẬT, TẤT GIAI HOAN HỶ. THIÊN MA NGOẠI ÐẠO, KHỦNG BỐ MAO THỤ. NHẤT THIẾT CHÚNG HỘI, GIAI HOẠCH QUẢ CHỨNG: HOẶC ÐẮC TU-ÐÀ-HOÀN QUẢ, HOẶC ÐẮC TƯ-ÐÀ-HÀM QUẢ, HOẶC ÐẮC A-NA-HÀM QUẢ, HOẶC ÐẮC A-LA-HÁN QUẢ, HOẶC ÐẮC NHẤT ÐỊA, NHỊ ÐỊA, TAM ÐỊA, TỨ ÐỊA, NGŨ ÐỊA, NÃI CHÍ THẬP ÐỊA GIẢ. VÔ LƯỢNG CHÚNG SANH PHÁT BỒ-ÐỀ TÂM.

Nghĩa: Quán Thế Âm Bồ-tát tuyên thuyết Chú này xong, đại địa chấn động sáu cách, trời mưa hoa báu xuống lả tả, mười phương chư Phật thảy đều hoan hỷ; thiên ma ngoại đạo sợ hãi đến dựng lông tóc. Tất cả chúng hội đều được quả chứng—hoặc đắc quả Tu-đà-hoàn, hoặc đắc quả Tư-đà-hàm, hoặc đắc quả A-na-hàm, hoặc đắc quả A-la-hán, hoặc đắc Nhất Ðịa, Nhị Ðịa, Tam Ðịa, Tứ Ðịa, Ngũ Ðịa, cho đến Thập Ðịa; vô lượng chúng sanh phát Bồ Ðề tâm.

 

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát tuyên thuyết Chú này xong, đại địa chấn động sáu cách ... "Ðại địa" (cõi đất lớn) tức là mặt đất mà chúng sanh chúng ta đang cư ngụ. Như đã đề cập trong phần trước, sáu loại chấn động của đại địa (lục chủng chấn động) là chấn, hống, kích, động, dũng và khởi.

1) Chấn tức là chấn động (vang dội, rúng động);

2) Hống là gầm rống, gào thét;

3) Kích có nghĩa là va chạm, đập vào nhau.

Chấn, hống và kích là những chấn động thuộc về âm thanh.

4) Ðộng tức là động cựa hướng về phía trên;

5) Dũng là dũng hiện, hàm ý phun vọt lên trên;

6) Khởi tức là vùng dậy, khởi lên.

Ðộng, dũng và khởi là những chấn động về mặt hình thể.

Sáu loại chấn động này lại có thể biến chuyển thành mười tám thứ chấn động khác nhau mà trước đây tôi đã có giảng rồi, và tôi tin rằng quý vị vẫn còn nhớ cho nên không cần phải giảng tỉ mỉ lại nữa!

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng chấn động của đại địa. Sáu loại chấn động có thể xảy ra do: 1) ở thế gian có người thành Phật; 2) có người chứng đắc quả vị A-la-hán; 3) có chư Phật hoặc Bồ-tát tuyên thuyết kinh điển Ðại Thừa.

Ba sự kiện trên là thuộc về phương diện thiện (điềm lành) và khi xảy ra thì cả đại địa đều chấn động sáu cách. Ngoài ra, địa chấn cũng có thể xảy ra do: 1) có Ma-vương xuất hiện (Ma-vương có thể dùng ma lực của mình để làm cho đại địa biến thành chấn động sáu cách); 2) có thiên tai nhân họa xảy ra bởi nghiệp cảm của chúng sanh; 3) trời đất phát sinh tai biến.

Ðịa chấn thì có loại tốt, có loại không tốt. Ðịa chấn xảy ra bởi ba nguyên nhân đầu thì không gây tổn hại gì cho nhân loại cả; còn địa chấn bởi ba nguyên nhân sau thì đều là những tai họa đối với loài người. Thế nhưng, mức độ tác hại do địa chấn gây ra, như tôi vừa nói ban nãy, còn tùy thuộc vào nghiệp cảm của chúng sanh nữa. Mặc dù nói rằng nếu nghiệp lực của chúng sanh quá nặng thì biến cố sẽ xảy ra, nhưng nếu ở nơi đáng lẽ phải có tai ương giáng xuống đó mà có bậc thánh nhân—Phật, Bồ-tát, A-la-hán—ra đời, thì tai ương của nơi đó có thể sẽ chuyển dời sang nơi khác, hoặc có thể từ họa lớn biến thành họa nhỏ, hoặc từ họa nhỏ biến thành tiêu tan. Cho nên, ở thế gian này chẳng có gì là nhất định cả.

Vừa rồi chỉ là sơ lược về ý nghĩa cùng tình hình của hiện tượng địa chấn; nếu đi sâu vào chi tiết, thì còn có rất nhiều quan hệ và nguyên nhân vi tế khác vô cùng phức tạp.

 

Trời mưa hoa báu xuống lả tả. Các thiên nữ ở cõi trời đua nhau rải hoa báu xuống, cứ hết đóa này đến đóa khác liên tiếp rơi xuống như mưa.

 

Mười phương chư Phật thảy đều hoan hỷ; thiên ma ngoại đạo sợ hãi đến dựng lông tóc. Lúc bấy giờ, tất cả chư Phật trong mười phương đều sanh tâm hoan hỷ; còn các Ma-vương và hàng ngoại đạo trên cõi trời thì đều rùng mình khiếp sợ, sợ đến nỗi bao nhiêu lông tóc đều dựng đứng lên cả.

 

Tất cả chúng hội đều được quả chứng—hoặc đắc quả Tu-đà-hoàn, hoặc đắc quả Tư-đà-hàm, hoặc đắc quả A-na-hàm, hoặc đắc quả A-la-hán. Sau khi nghe Quán Thế Âm Bồ-tát tuyên thuyết Chú Ðại Bi xong, trong đại chúng có rất nhiều vị chứng được Sơ Quả A-la-hán, Nhị Quả A-la-hán, Tam Quả A-la-hán hoặc Tứ Quả A-la-hán.1 

Hoặc đắc Nhất Ðịa, Nhị Ðịa, Tam Ðịa, Tứ Ðịa cho đến Thập Ðịa. Lại nữa, trong Pháp Hội cũng có rất nhiều vị chứng đắc được các địa vị của Bồ-tát Ðại Thừa như Nhất Ðịa (Hoan Hỷ Ðịa), Nhị Ðịa (Ly Cấu Ðịa), Tam Ðịa (Phát Quang Ðịa), Tứ Ðịa (Diệm Huệ Ðịa), Ngũ Ðịa (Nan Thắng Ðịa), Lục Ðịa (Hiện Tiền Ðịa), Thất Ðịa (Viễn Hành Ðịa), Bát Ðịa (Bất Ðộng Ðịa), Cửu Ðịa (Thiện Huệ Ðịa), và Thập Ðịa (Pháp Vân Ðịa).

 

Vô lượng chúng sanh phát Bồ Ðề tâm. Ngoài ra, ngay lúc ấy còn có vô lượng vô biên chúng sanh phát khởi tâm Bồ-Ðề rộng lớn.

 

 

(còn tiếp)

------------------------------------

 

 1 "Tu Ðà Hoàn" là tiếng Phạn (Srotàapanna), Trung Hoa dịch là "Nhập Lưu," nghĩa là bậc được dự vào dòng Thánh. Ðây là Sơ Quả, tức là quả vị đầu tiên trong hàng A La Hán.

"Tư Ðà Hàm" là tiếng Phạn (Sakridàgàmin), dịch là "Nhất Lai," nghĩa là bậc còn một lần trở lại cõi trần rồi mới ra khỏi sanh tử; đây là Nhị Quả, quả vị thứ nhì.

"A Na Hàm" là tiếng Phạn (Anàgamin), dịch là "Bất Lai," nghĩa là không còn trở lại Dục Giới nữa. Quả vị này sanh lên cõi trời Ngũ Bất Hoàn và tu cho đến khi chứng quả A La Hán; đây là Tam Quả, quả vị thứ ba.

"A La Hán" là tiếng Phạn (Arhat); đây là Tứ Quả, ngôi vị cao nhất trong hàng Tiểu Thừa. A La Hán có ba nghĩa: 1) Ứng cúng (xứng đáng thọ nhận sự cúng dường của trời và người); 2) Vô sanh (không còn sanh tử, luân hồi nữa); 3) Sát tặc (đã dứt sạch phiền não, nghiệp hoặc).

(còn tiếp)

Trở về trang nhà | Về đầu trang