Hôm nay, tôi cảm
thấy vừa vui, lại vừa buồn. Tôi vui vì được tiếp
cận với quý vị là những bậc thầy đại thiện tri
thức. Nhưng mặt khác, tôi cảm thấy buồn. Trong quá
khứ, khi đến Vạn Phật Thành và Tu Viện Kim Sơn, tôi
thường được mời lên phát biểu sự hiểu biết của mình
về Phật giáo. Trong thời gian ấy, có một người luôn
luôn ngồi ở đó. Đôi khi ngài chỉ lặng yên lắng nghe
tôi mà không lên tiếng. Có lúc, ngài sửa sai cho tôi
hoặc đưa ra vài lời phê bình. Hôm nay, tôi đang ngồi
đây, nhưng người ấy không còn nữa. Ngài sẽ không bao
giờ sửa sai cho tôi, hoặc giáo hóa tôi. Thực sự hiếm
để tìm một người có thể sửa lỗi cho quý vị. Bây giờ
tôi đã mất người ấy, người là thầy tôi và cũng là Sư
Phụ của quý vị.
Tôi không may
mắn như các quý vị sống tại Vạn Phật Thành và Tu
Viện Kim Sơn Thánh Tự, đã thường xuyên tiếp cận với
Hòa Thượng và nghe sự giáo hóa của ngài. Do nghiệp
chướng nặng nề của tôi, tôi đã phải tranh thủ kiếm
sống trên thế gian này. Tôi không thể đến Vạn Phật
Thành để được tiếp cận Hòa Thượng. Do đó, tôi thực
sự trân quý những lời ngài dạy tôi. Vì thế, tôi cố
gắng hết sức để áp dụng những lời dạy này vào đời
sống của mình. Những lời của ngài cho tôi thì rất
ít, nhưng vô cùng quý báu đối với tôi.
Vào tháng 4 năm
1977, tôi đến Canada để trình bày một bài tham luận
về cơ khí tại một hội nghị bảy ngày. Sau đó, tôi đến
Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự để gặp Hòa Thượng. Ngay vừa
thấy ngài, tôi có một cảm giác rất quen thuộc. Tu
Viện Kim Sơn Thánh Tự lúc ấy nằm trên đường 15,
nhưng tôi có cảm giác đã từng ở đây rồi. Tôi chưa
từng nhìn thấy một vị sư hoặc vào một ngôi chùa Phật
giáo trước đó. Đó là lần đầu tiên tôi đến với Phật
giáo và gặp một vị tăng ─ đó chính là Hòa Thượng.
Tôi đã phải ra ngoài kiếm sống khi mới mười hai
tuổi. Thật vô cùng vất vả. Từ lúc mười hai tuổi, tôi
chưa từng lạy ai hoặc ngay cả có ý nghĩ lạy ai.
Nhưng ngay vừa nhìn thấy Sư Phụ, tôi có một cảm giác
dễ chịu và quen thuộc không thể diễn tả được, giống
như tôi trở về nhà vậy. Có lẽ tất cả quý vị đều có
mái ấm gia đình, cho nên không thể hình dung được
cảm giác của tôi như thế nào. Không ai có thể biết
cảm giác đó ngoại trừ tôi. Ngay lập tức tôi lạy
ngài. Ngài cười và nói, "Nhìn kìa, đây một vị giáo
sư Đại Học bái lạy tôi!".
Sau khi lạy rồi
đứng lên, tôi cảm tưởng mình như một người khác .
Tôi từng là một người rất cứng đầu và không chịu
khuất phục. Sao tôi có thể lạy một nhà sư được? Tôi
không thể diễn tả cảm giác của tôi. Một sự thay đổi
đột ngột đã xảy ra trong tôi. Tôi rất hạnh phúc, và
đã quy y với ngài trong chính ngày hôm đó. Khoảng
mười giờ đêm hôm đó, sau khi tất cả mọi người đã đi
ngủ, tôi ngồi trên băng ghế tại Chánh Điện. Tâm trí
của tôi trống rỗng. Tôi ở trong sự bàng hoàng─ không
thể diễn tả cảm giác của mình. Rồi ngài bước đến và
ngồi xuống bên cạnh tôi. Tôi không nói lời nào, ngài
cũng thế. Chúng tôi ngồi ở đó khoảng mười phút, và
đột nhiên ngài hét lên, "Đoạn dục!" Tôi không sợ, và
cũng không cử động, nhưng tiếng hét "Đoạn dục!" của
ngài giống như tiếng sư tử hống. Nó để lại cho tôi
một ấn tượng sâu sắc. Tôi sẽ không bao giờ quên! Tôi
học Phật giáo từ Lục Tổ Đàn Kinh, nhưng kinh không
đề cập thẳng đến dục, mà nói rằng: "Tâm dục vốn là
nhân của tâm thanh tịnh." Lúc đó, ý tưởng về "Đoạn
dục" thật sự gây ấn tượng cho tôi. Dục thực sự là
đại căn bệnh của tôi, nhưng tôi không nhận ra nó
trước đây. Từ ngày đó trở đi, tôi nhận ra căn bệnh
này. Tôi đã làm theo sự giáo hóa đó trong nhiều năm.
Tôi nỗ lực áp dụng không ngừng, và rất khó khăn. Nó
ảnh hưởng không những đến tôi mà cả gia đình tôi. Về
sau, tôi nhận ra rằng đoạn dục là giáo lý căn bản
của Đức Phật trong tất cả các kinh điển. Đó là sự
giáo hóa đầu tiên của Hòa Thượng dành cho tôi.
Năm sau, năm
1978, tôi tham gia phái đoàn của Hòa Thượng trong
chuyến viếng thăm Đông Nam Á sáu tuần. Đó là thời
gian dài nhất tôi ở gần Sư Phụ và cũng là thời gian
tôi nhận được nhiều giáo hóa nhất. Ở đây, tôi chỉ đề
cập đến một chuyện đã xảy ra.

Phái
đoàn của Hòa Thượng trong chuyến viếng thăm Đông Nam
Á
- Negeri Sembilan,
Malaysia, 1978
Chúng tôi đến
một ngôi chùa Nam Tông, vị trụ trì là Hòa Thượng Sri
Dhammananda, khá có ảnh hưởng trong chính phủ
Malaysia. Trong chùa, Sư Phụ và Hòa Thượng Sri
Dhammananda ngồi ở giữa. Chín người chúng tôi ngồi
quanh Sư Phụ. Hai đệ tử xuất gia của Sư Phụ và tôi
ngồi thiền với mắt nhắm lại. Một cư sĩ, là một giáo
sư Đại Học và là cư sĩ hộ pháp của chùa chất vấn Sư
Phụ, "Tại sao các Pháp Sư của Phật giáo Đại thừa
không tôn kính và lạy Pháp Sư của Phật giáo Tiểu
thừa?" Ông ta nói rất nhiều nhưng tôi không nhớ. Sư
Phụ không trả lời, và vị cư sĩ tiếp tục chất vấn.
Tôi hành thiền cho nên không chú ý đến cuộc trò
chuyện, nhưng vì lý do nào đó không rõ, tôi đứng lên
và lạy người đó. Tôi hỏi ông ta, "Xin vui lòng cho
tôi biết, trước khi tôi lạy, tôi là một người Phật
giáo Đại thừa hay Tiểu thừa? Sau khi tôi lạy, tôi là
một người Phật giáo Tiểu thừa hay Đại thừa?" Ông
không thể trả lời tôi. Lúc đó, một người cư sĩ họ
Hoàng, người đã thỉnh cầu Sư Phụ đi Malaysia nói với
ông ta, "Ông ấy cũng là một giáo sư Đại Học." Từ lúc
đó, vị cư sĩ rất tử tế với tôi mà không còn chất vấn
nữa.
Trong chuyến đi
đó, mỗi sáng chúng tôi có một cuộc họp nhỏ để thảo
luận về những gì chúng tôi đã làm vào ngày hôm
trước. Hòa Thượng ngồi trên ghế cao còn chúng tôi
ngồi trên sàn nhà. Sáng hôm sau, Hòa Thượng rời khỏi
ghế của mình và ngồi xuống sàn nhà bên cạnh tôi.
Ngài nói, "Việc con làm ngày hôm qua tốt lắm!"Tôi
nói: "Sư Phụ, xin đừng khen con. Con không sợ lời
khen của bất cứ ai, bởi vì con không bám chấp và
không quan tâm. Tuy nhiên với Hòa Thượng, con không
thể nhận khi ngài khen con. Con sẽ chấp trước, vì
con quá sung sướng." Ngài nói, "Ta không khen ngợi
con. Ta đang nói sự thật." Điều đó còn càng tệ hại
hơn lời khen ngợi!