Chinese and English | Vietnamese

 

Gặp Gỡ Hòa Thượng Không Phải Là Sự Tình Cờ -

 

Bây Giờ Tôi Cố Gắng Báo Đáp Từ Ân Của Ngài


Báo Vajra Bodhi Sea số tháng 2, 2002. Trang 44.

http://www.drbachinese.org/vbs/publish/381/vbs381p044.htm

Cư Sĩ Bob Olson (Quả Pháp)

 

 

 


Pháp danh của tôi là Quả Pháp (1) và tôi đã được sinh ra tại thành phố Seattle. Trước khi tôi gặp Hòa Thượng, tôi sống hầu như không có mục đích, tôi đi tìm mục tiêu cho đời mình nhưng lại đi lầm đường. Tôi đã từng sử dụng ma túy với một số bạn bè.

Tôi nghe nói về Hòa Thượng từ anh Ron Epstein và Quả Ninh (2). Họ đã tham dự các buổi giảng Kinh Lăng Nghiêm đầu tiên vào năm 1968. Khi tôi 22 tuổi, tôi theo nhóm người thứ hai đến San Francisco và Hòa Thượng lúc đó đang giảng Kinh Lục Tổ.

Vào thời điểm đó, Phật Giáo Giảng Đường còn ở khu phố Người Hoa ở San Francisco trên đường Waverly Place. Tôi đi lên lầu hai với một người bạn của tôi là anh John Scroggs (người sau này trở thành Quả Triêm - Guo Zhan) và bên trong Chùa đang có buổi lễ Lăng Nghiêm. Có khoảng tám hoặc chín người tham gia và Hòa Thượng làm chủ lễ. Khi đến đó, tôi thấy có một luồng ánh sáng màu tím làm cho việc bước chân đi lên lầu hầu như không thể tiếp tục vì các bước chân của chúng tôi trở thành nặng nề hơn với mỗi bước đi lên. Đó là kinh nghiệm mà tôi có khi gặp Hòa Thượng lần đầu tiên.

 

Chùa Thiên Hậu tại đường Waverly Place, San Francisco.

Phật Giáo Giảng Đường ở lầu 4 phía trên cùng trong chùa Thiên Hậu.

 


Trước đó, tôi có nhìn thấy tấm hình của Hòa Thượng tại nhà Quả Ninh. Tôi nhìn vào tấm hình và tấm hình di chuyển khắp nơi, không thể chú tâm vào tấm hình. Tôi nhìn vào tấm hình và chắc chắn là có một cái gì đó về tấm hình.


Tôi đã khá quen với cuộc sống tại Giảng Đường Phật Giáo. Nhưng thỉnh thoảng tôi lén ra ngoài với John. Một buổi tối nọ, chúng tôi đi xuống bãi biển. Một anh chàng trên bãi biển đã tìm cách cướp giật chúng tôi. Chúng tôi không biết. Chúng tôi đã đọc Chú Đại Bi, và cố gắng sử dụng Chú này để khống chế anh ta. Chú thật hữu hiệu vì anh ta không cử động được, chúng tôi chưa bao giờ chạm vào người anh ta, anh ta không cử động được. Chúng tôi trở lại Chùa tối đó. Trong bài giảng tối đó, Hòa Thượng la mắng chúng tôi: "Các con đừng thử chư Bồ Tát, chỉ chư Bồ Tát thử con người!".


Có một lần, sau bài giảng buổi tối của Hòa Thượng về Kinh Lục Tổ, tôi đi ra công viên Golden Gate, ngồi trên một ghế băng và tụng Chú Đại Bi. Bầu trời mở ra và tất cả những quả bong bóng bay ra khỏi bầu trời! Trong mỗi bong bóng có một Bồ Tát Quán Thế Âm đứng cầm một nhánh dương liễu. Tôi nghĩ đó là một cảm ứng từ việc tụng Chú Đại Bi.


Vào đầu thập niên 70, Hoà Thượng đi Nam Mỹ một thời gian. Mỗi ngày chúng tôi nghe các băng giảng của Hòa Thượng. Pháp Sư Hằng Tả (lúc đó còn là cư sĩ) phụ trách việc dọn rác. Tuy nhiên, anh ta đã bỏ không làm sau khi Hoà Thượng rời đi. Một buổi tối, chúng tôi đang nghe Kinh Pháp Hoa do Hòa Thượng giảng một năm trước đó. Bài giảng chưa được ghi lại thành sách, vì vậy một người nào đó đã phải dịch ngay tại chỗ. Thật kỳ lạ là chúng tôi nghe Hoà Thượng nửa đùa nửa thật nói với Thầy Hằng Tả về việc đổ rác. Hẳn nhiên bạn sẽ nói đó là một trùng hợp ngẫu nhiên phải không?


Nhiều điều dường như là trùng hợp ngẫu nhiên, nhưng nếu bạn tích lũy tất cả các sự việc nhỏ, bạn sẽ khám phá ra rằng chúng không phải đều là hoàn toàn ngẫu nhiên. Dần dần, niềm tin của chúng tôi thay đổi từ không tin vào Phật giáo và Hoà Thượng thành tin tưởng hoàn toàn. Khi bạn gần bên Hoà Thượng, nhiều điều "trùng hợp" xảy ra khá thường xuyên!

Hòa Thượng thấy tôi thích về xây dựng, vì vậy ngài khuyến khích tôi có giấy phép hành nghề. Về sau, tôi gắn một lò điện trong phòng của ngài, nhưng vì tòa nhà đã khá cũ và điện áp không phù hợp với lò điện nên tôi đã phải nộp đơn xin chính phủ giấy phép để gắn. Tôi đã sử dụng tên của tôi để xin giấy phép và đã bị từ chối. Tôi hỏi Hoà Thượng và Ngài trả lời, "Sẽ không có vấn đề nếu con sử dụng tên của ta." Vì vậy, lần sau tôi, tôi sử dụng cái tên "Độ Luân" và giấy phép chấp thuận đến rất nhanh. Sau khi gắn lò điện, một viên thanh tra của chính phủ đã đến kiểm tra. Ông nghĩ rằng tôi là "Độ Luân" và nói: "Anh không có vẻ là người Trung Hoa." Tôi nói đùa với anh ta, và trả lời rằng ông cố của tôi là người Trung Hoa.


Quả Bằng nghiên cứu võ thuật, anh biết Thái Cực Quyền, karate, và các kỹ năng võ thuật khác. Khi anh đến Tu viện Kim Sơn vào năm 1972, chúng tôi trao đổi một số kinh nghiệm về võ thuật và anh ở lại để lạy sám hối. Vì Quả Bằng luyện tập võ nghệ, anh thường cần xoa bóp. Một lần, khi tôi xoa bóp cho anh, tôi phát hiện ra một phần dưới của xương sống của anh bị lõm vào, đó là lý do tại sao anh phải chịu rất nhiều đau đón khi anh cúi lạy. Anh phải đặt một bàn trước mặt và dựa vào bàn khi cúi lạy. Qua đó, chúng ta có thể thấy anh thành tâm như thế nào. Một lần nọ, Hoà Thượng đi ngang qua Quả Bằng và cách anh ta chừng năm mét, Hòa Thượng vung cánh tay như đang cầm một cây gậy đánh, và cơ thể Quả Bằng chuyển động một chút. Hai hoặc ba ngày sau đó, khi tôi xoa bóp lại cho anh thì xương sống của anh đã trở thành thẳng và bình thường.

Năm 1981, tôi đến Mã Lai cùng Hoà Thượng và phái đoàn để truyền bá Phật pháp. Có rất nhiều loại ma kỳ lạ và tinh linh tại Mã Lai. Một người đã bị đầu độc bởi tà thuật dùng độc trùng gọi là "cổ" và bị khống chế bởi một số người muốn giết Hoà Thượng. Vì Hoà Thượng truyền bá Chánh pháp, nói sự thật, và cho mọi người thấy bộ mặt thật của những kẻ ngoại đạo, Ngài đã xúc phạm họ. Chúng tôi đang ở một ngôi Chùa tại Kuala Lumpur cùng một hoặc hai nghìn người. Khi người đó đến gần đại chúng, người đó liền ngã xuống đất và chết! Tình hình là rất nghiêm trọng. Một người nào đó đã đưa ông ta đến Hoà Thượng để được giúp đỡ, và đại chúng mở ra lối đi cho họ đi qua. Khi họ đến chỗ Hoà Thượng, họ hỏi ngài là nên làm gì, và Hoà Thượng chỉ ban phước người đó. Việc đó như thể là rắc nước tịnh thuỷ từ một nhánh dương liễu, một thời gian sau đó người đó đã sống lại. Nếu tôi không chứng kiến  điều đó với đôi mắt của mình, tôi sẽ không quá ngạc nhiên như vậy. Một người đã chết, nhưng Hoà Thượng đã cứu anh ta mà không dùng chút sức lực nhỏ nhất.

Năm 1969, có một lần khi Hoà Thượng đang đi bộ ở khu phố Người Hoa ở San Francisco thì một chiếc xe đột nhiên chạy tông vào ngài từ phía sau và Hoà Thượng đã bị đẩy văng xa chừng mười sáu mét. Xe bỏ chạy ngay lập tức. Tôi nghĩ rằng Hoà Thượng biết võ thuật nên ngài không bị tổn thương nghiêm trọng. Mặc dù bị tai nạn và thương tích, Hoà Thượng vẫn lên Pháp toà giảng dạy. Ngài nói, "Hôm nay một người nào đó đã tìm cách giết tôi, nhưng tôi vẫn sẽ thuyết giảng."


Tôi cũng muốn nói về nhân duyên khám phá Thánh Thành. Năm 1974, tôi đến Seattle với Thầy Hằng Thật, Thầy Hằng Lai, Randy Peterson, và John Scroggs để gặp hai tu sĩ đang thực hiện tam bộ nhất bái – Thầy Hằng Cụ và Thầy Hằng Do. Trên đường về, chúng tôi đi qua Bệnh viện Mendocino của Tiểu bang ở Thành phố Talmage. Khi chúng tôi đến đó, tôi thấy một cảnh tượng kỳ lạ. Có rất nhiều người xuất gia đi bộ chậm rãi trong một lô đất trống. Tôi hỏi những người khác là họ có nhìn thấy cảnh đó hay không và tất cả họ đều nhìn thấy. Sau khi chúng tôi trở lại tu viện Kim Sơn, Hoà Thượng hỏi: "Chỗ đó hôm nay như thế nào?" Tất cả chúng tôi đề nghị, "Nơi đó có thể là một trung tâm Phật giáo trong tương lai."


Sau khi mua xong Thánh Thành, tôi sống tại đó. Khi Bảo Điện Vạn Phật Thánh Thành mới được xây dựng, Hoà Thượng khuyến khích chúng tôi thiết lập bài vị cầu an cho cha mẹ chúng tôi để viên mãn hiếu hạnh. Vì vậy, tôi thiết lập một bài vị cho mẹ tôi. Trong thời gian đó, bởi vì bà hút thuốc rất nhiều, bà rất xanh xao và không khoẻ mạnh. Sau khi bài vị được thiết lập chừng sáu tháng, mẹ tôi ngừng hút thuốc lá và màu sắc bình thường trở lại trên mặt bà một năm sau đó. Bà không những lấy lại sức khỏe, mà quan điểm về cuộc sống cũng thay đổi rất nhiều.


Tôi rời Thánh Thành vào năm 1988. Tôi trở lại vào năm 1996 sau khi Hoà Thượng đã nhập Niết Bàn. Quả Tốn [Guo Shun - Craig Cassin, người bấy giờ vừa trở thành một tân tu sĩ] gọi tôi để trợ giúp với dự án xử lý nước thải nhằm có thể tiết kiệm rất nhiều tiền. Sau khi tôi trở lại, tôi khám phá ra rằng tất cả các dự án đều lớn hơn so với trước đây, vì vậy tôi đã ở lại để giúp đỡ Thánh Thành.


Nếu Hoà Thượng đã không cứu tôi, tôi có thể đã chết vào lúc 21 hoặc 22 tuổi. Nếu như vậy tại sao tôi không cố gắng hết sức để đáp lại từ ân của Hòa Thượng? Tôi hy vọng tôi có thể giúp Thánh Thành trong bất kỳ cách nào tôi có thể.


 

Ghi chú:

 

(1) Cư Sĩ Quả Pháp (Bob Olson)

 

Cư Sĩ Quả Pháp (Bob Olson) đã giúp xây dựng Vạn Phật Thánh Thành từ thuở mới thành lập, ông cũng giúp bảo trì các tòa nhà và hệ thống điện nước tại Vạn Phật Thánh Thành cũng như hướng dẫn nhiều người về kỹ thuật xây dựng, bảo trì tại Vạn Phật Thánh Thành.

Xin xem thêm

http://dharmasite.net/Canh_Gioi_Du_Hi_Tam_Muoi_Kho_Nghi_Ban.htm

http://www.dharmasite.net/bdh85/LiengBoSungDi.htm

 

(2) Quả Ninh (Steve Klare), là thầy Hằng Tĩnh. Là một trong năm người Mỹ xuất gia đầu tiên với Hòa Thượng Tuyên Hóa tại Hoa Kỳ.

Trong bài "Nguyên nhân xa xưa về pháp danh xuất gia của chúng tôi" có đề cập các pháp danh của năm người xuất gia đầu tiên này:

 


 

"Trên chuyến bay từ New York tới San Diego, ngày 12 tháng hai năm 1973, Sư Phụ nói:

“Hãy ghi lại:

Tiền Khiêm, Ninh Tĩnh, Hằng Thọ Tiên,

Dật Ẩn, Tu Trì năm đóa sen;

Pháp hội Lăng Nghiêm năm 1968,

Truyền bá Phật pháp hóa hữu duyên. (*)


Đây là một bí mật, hãy khoan để người khác biết được.Ta đã viết bài kệ này nhiều năm về trước. Khi các con thấy bài kệ này, các con sẽ biết rõ mình là ai”. 

Sáng hôm sau tại nhà bà Ưu Bà Di Phương, Sư phụ nói với Hằng Trì, Hằng Hiền và tôi: “Bài kệ thầy nói với các con ngày hôm qua được viết khi thầy đang thủ hiếu bên cạnh mộ mẹ. Ngay lúc đó Lục Tổ và thầy đã đàm luận về những vấn đề này (**). Hôm qua thầy quan sát nhân duyên và thấy những Tỳ Kheo Ni các con có thể biết lời nguyện này được rồi; đó là những việc đã xảy ra nhiều thập niên về trước."

(*) Nguyên văn Hoa ngữ:

前謙寧靜恒授先,逸隱修持五朵蓮;

一九六八楞嚴會,宣揚佛教化有緣。

Tiền khiêm ninh tĩnh hằng thọ tiên,

Dật ẩn tu trì ngũ đóa liên;

Nhất cửu lục bát (1968) Lăng Nghiêm hội,

Tuyên dương Phật giáo hóa hữu duyên.

 

(**) Là thời gian từ năm 1937 đến 1940. Trong quyển Cuộc Đời và Đạo Nghiệp của HT Tuyên Hóa - Giai đoạn ở Trung Hoa trang 117 có ghi lại:

 

Có mt hôm, cũng không phi là ban ngày và cũng không phi là ban đêm, tc ngay lúc tri va nhá nhem ti, Lc Tổ Đại Sư đến. Tôi thy có mt vHòa Thượng ti, mc áo tràng xám, khong 50-60 tui. Ngài nói các đạo lý, dy tôi cách tu hành, bo rng: “Tương lai con sẽ đến nước M, gp các người như vy vy… Xong, Ngài ht nhiên biến mt. Lúc đó tôi cũng không phi ngmơ mà li thy được Lc T, tht kdiu thay!”