105.  LẠI LỄ LẠY THÁP XÁ LỢI BÁO ĐÁP TỪ ÂN.

 

Năm bính thân, Vân Công 57 tuổi. Đến mùa hạ, Công đi Kim Sơn tham dự đàn truyền giới. Hòa thượng Đại Định giữ Ngài ở lại qua mùa đông. Năm sau, bính thân, 58 tuổi, Ngài lên đường đi triều bái Lang Sơn lễ bồ tát Đại Thế Chí. Công trở về, thì đến tháng 4,  pháp sư Thông Trí tại Tiêu Sơn, mời Ngài cùng giảng kinh Lăng Nghiêm trước cả ngàn thính chúng. Số là Ngài mất mẹ ngay khi sanh ra đời nên một lần nữa, quyết định tới núi A Dục lễ bái xá lợi, mỗi ngày ba ngàn lạy.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

Sinh vị kiến từ thân

Dục Vương lễ chân thân

Nhật khóa tam thiên khấu

Duy nguyện báo mẫu ân

 

Dịch:

Duy nguyện một lòng đáp mẫu ân

Bên chùa A Dục lạy chân thân

Lọt lòng sớm khuất nhan từ mẫu

Ngày lạy ba ngàn chẳng ngại ngần

 

 

 

106. CƯỠI RỒNG BAY ĐI GẶP MẸ

 

Một hôm, đương lúc thiền quán, giống như trong một cơn mộng mà chẳng phải là mộng, Vân Công bỗng thấy một con rồng dài khoảng mấy trượng bay tới, sắc vàng óng ánh. Ngài cỡi trên lưng rồng, bay lên không tới một nơi phong cảnh đẹp đẽ, đầy hoa cỏ cây cối xanh um, với những đền đài lầu miếu kỳ diệu. Ngài nhác trông thấy mẹ ở trong cung điện nhìn ra ngoài, Ngài lên tiếng thưa gọi: “Xin mời mẫu thân cưỡi rồng này để cùng về Tây phương! ” Rồng hạ xuống thì ngài tỉnh mộng.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

Phi long tại thiên kiến đại nhân

Không trung lâu các ảo tức chân

Thỉnh mẫu đồng vãng Tây phương khứ

Mộng tỉnh y cựu tọa thằng khâm

 

Dịch:

Cưỡi rồng bay bổng gặp từ thân

Điện miếu như tuồng ảo tựa chân

Mời mẹ về Tây miền Cực Lạc

Tỉnh rồi độc thấy bạn bồ đoàn

 

 

  

 

107.  ĐỐT NGÓN TAY CÚNG DƯỜNG PHẬT TRONG LÚC BỆNH NẶNG

 

Lần nào bái xá lợi Vân Công cũng đều tham gia chung với mọi người. Khi kể lại thì không ai nói giống nhau. Lần đầu Công thấy xá lợi to bằng hạt đậu xanh, mầu tía xẫm. Đến khoảng giữa tháng 10, sau khi hoàn lễ hai tạng kinh, Công thấy xá lợi tuy vẫn bằng cỡ như trước nhưng đổi qua mầu đỏ óng ánh. Ngài liền vái lạy và lần này nhận thấy xá lợi lớn bằng hạt đậu vàng, nửa mầu vàng, nửa mầu trắng. Ngài tin chắc là do căn cơ và nhân duyên khác nhau mả xá lợi thị hiện ra có thể khác nhau. Đầu tháng 11 Công mang bệnh, trầm trọng đến độ ngồi cũng không được. Tới ngày 16 thì có nhóm 8 người làm lễ đốt ngón tay cúng dường. Mặc dầu mang bệnh nặng Công vẫn cương quyết tham gia cùng mọi người. Bệnh của Công cũng tiêu tan.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

Hiển Thân Tông Lượng đại từ nhân

Trợ nhân nhiên chỉ phát đạo tâm

Túc nguyện khắc toại chân khoái lạc

Bản hoài dĩ sướng hỷ ung dung

 

Dịch:

Từ bi Tông Lượng, Hiển Thân [1]

Giúp đỡ bạn đạo chu toàn đốt tay

Nguyện xưa thành tựu mừng thay!

Thỏa lòng mong ước từ rầy thảnh thơi

 

 

 

 

 

108. LÊN NÚI VÂN ĐÀI TRÔNG RA BIỂN ĐÔNG HẢI

 

Vào năm kỷ hợi, Vân Công 60 tuổi, có các pháp sư Kết Sâm và Bảo Lâm mời Ngài cùng đi Đan Dương để tu sửa Tiên Đài Quan. Sau đó, Công đi Cú Dung ở tại lều cỏ của ngài Pháp Nhẫn (Xích Sơn Pháp Nhẫn).  Năm canh tý, Ngài 60 tuổi, lại tính đi triều bái Ngũ Đài rồi vào núi Chung Nam ẩn tu. Khi đi qua Dương Châu, Công viếng núi Vân Đài nằm trên ranh giới hai tỉnh Giang Tô và Sơn Đông. Núi cao chót vót lên tận tầng mây nên có tên là Vân Đài (đài mây).

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Đông hải danh sơn cổ Vân Đài

Vô biên ba lãng nhập nhãn lai

Phiền não chúng sinh hà thời độ

Bồ đề Phật quả lực bồi tài.

 

Dịch:

 

Vân Đài danh thắng biển miền đông

Sóng biếc mênh mông ngợp mắt trông

Phiền não chúng sanh lo độ hết

Bồ đề quả Phật gắng vun trồng.

 

 

 

 

 

109. LÊN NÚI THÁI SƠN NHÌN THIÊN HẠ

 

 Về phía bắc thị trấn huyện Thái An, thuộc tỉnh Sơn đông, có núi Thái Sơn, cao bốn mươi dặm và còn được gọi là Đông Nhạc, một danh sơn trong nhóm Ngũ Nhạc. Nơi đây cũng là địa điểm mà các vị minh quân, thánh đế các triều đại xưa thường đến để dâng lễ tế Ngọc Hoàng Thượng Đế, tức vua Nhân Đà La (Indra hay vua Đế Thích). Thắng cảnh và các di tích cổ trên núi này thì nhiều vô số. Có miếu thờ bồ tát Quan Thế Âm (tục gọi là Nương Nương), ở đây người ta cúng dường hoa hương rất là tấp nập.

 

 

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Vân Đài triều bãi đăngThái Sơn

Thiên hạ thương sinh điên đảo điên

Duy thỉnh Quan Âm ai nhiếp thọ

Yết đế yết đế đáo bỉ ngạn

 

Dịch:

Vừa viếng Vân Đài lại Thái San

Đảo điên thiên hạ vẫn trôi lăn

Quan Âm thỉnh nguyện Ngài gia hộ

Yết đế yết đế ba la mật.

 

 

 

 

110. THĂM VIẾNG HANG NA-LA-DIÊN

 

Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm có nói: “Tại nước Chấn Đán (chỉ nước Trung Hoa) có núi tên là núi Hang Na La Diên (Narayana) và tại đây có vô số các bồ tát thuyết pháp.” Địa điểm nói trong kinh chính là chỉ hang này trên đỉnh núi Lao Sơn của bán đảo Sơn Đông. Ngài Hám Sơn, vị cao tăng đời Minh có dựng lên ngôi chùa Hải Ấn bên cạnh hang. Về sau, chùa bị các đạo sĩ phá hủy, đến nay chẳng còn vết tích gì nữa.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh

Na La Diên quật tảo thuyết minh

Vô lượng bồ tát chính diễn pháp

Hữu duyên chúng sinh nhập hóa trung

 

Dịch:

Đọc kinh Phương Quảng Hoa Nghiêm

Từng thấy giới thiệu Na Diên hang này

Vô lượng bồ tát nơi đây

Thuyết pháp hóa độ những ai duyên lành.

 

 

 

 

 

111. CHIÊM BÁI MIẾU KHỔNG TỬ TẠI HUYỆN KHÚC PHỤ

 

Đức Khổng, bậc thánh tối cao trong Nho giáo là vị khai sáng của nền văn hóa Trung quốc. Miếu thờ Ngài Khổng Khâu nằm ở huyện Khúc Phụ tỉnh Sơn Đông, cũng chiếm một địa vị trọng yếu trong lịch sử văn hóa Trung Hoa. Đối với Khổng Trọng Ni, Vân Công vốn có lòng ngưỡng mộ Ngài, về đạo đức cũng như về phương diện văn học, nên qua đây, Công bèn đến chiêm bái miếu và lăng của Ngài để tỏ tấm lòng kính trọng.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Đại tai Khổng Tử đạo đức cao

Vạn thế thiên thu giai sư biểu

Tam thiên môn nhân tòng giáo hóa

Thất thập hiền giả nhập môn tường

 

Dịch:

 

Đạo đức cao vời thánh Khổng Khâu

Bậc thầy tiêu biểu vạn đời sau

Ba ngàn trong số hàng môn đệ

Bẩy chục vị hiền đạt đạo sâu.

 

 

 

 

 

112. NGỦ ĐÊM TRÊN NẮP QUAN TÀI, GẶP KẺ ĂN XIN MÀ  

       KHÔNG KINH HÃI

 

Công nhắm đi về hướng tây. Đêm xuống Ngài nghỉ lại tại một căn chùa đổ nát, bên trong chỉ thấy một cỗ quan tài và trên đó là tấm ván nắp để ngửa. Thấy chẳng có ai ở đây, Ngài bèn ngả lưng trên nắp ngủ. Đến nửa đêm, bên dưới quan tài có tiếng động mạnh nhiều lần, lại có tiếng nói:

   -  Cho tôi ra!

 Công hỏi:

   - Ngươi là người hay ma?

   -  Là người.

_ -  Vậy ngươi là ai !

-  Kẻ đi xin ăn.

Công cười, đứng dậy để cho người đó đi ra. Trông hình dáng y xấu xí như quỷ. Y đi tiểu tiện rồi lại trở về ngủ. Đến sáng Công lên đường.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Tính định ma phục triêu triêu lạc

Vọng niệm bất khởi xứ xứ an

Chính đại quang minh vô sở úy

Đãi nhân như kỷ hữu hà phân

 

Dịch:

Vọng tâm vắng lặng lòng an lạc

Trong định ma hàng sớm tối vui

Chính đại quang minh đâu hãi sợ

Với người đối xử giống ta thôi.

 

 

 

 

113. TRÊN ĐƯỜNG GẶP LÍNH TÂY DƯƠNG MÀ KHÔNG SỢ SỆT

 

Hồi đó có loạn Nghĩa Hòa Đoàn[2] tại các huyện trong tỉnh Sơn Đông. Một hôm đương đi trên đường, Vân Công gặp một binh sĩ người Tây dương[3]. Người đó chĩa súng vào người Công, hỏi Ngài có sợ chết không? Ngài đáp: “Nếu như tôi phải chết dưới tay ông thì cứ bắn đi!” Người đó thấy thần sắc của Ngài không thay đổi và chẳng tỏ vẻ sợ sệt gì nên bảo: “Tốt! Ông có thể đi!” Công tiếp tục lên đường hướng tới Ngũ Đài. Dâng hương xong, Công lại trở về Bắc Kinh vì tình hình loạn lạc.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

Thốt nhiên lâm chi bất khủng kinh

Chỉ duyên nhân quả dĩ phân thanh

Sát nhân thường mạng hào vô thố

Khiếm trái hoàn tiền luật bất dung

 

Dịch:

Bỗng nhiên gặp nạn chẳng kinh hoàng

Nhân quả bởi chưng biện rõ ràng

Thiếu nợ của ai khôn trốn đặng

Giết người đền mạng lẽ chân thường.

 

 

 

 

 

114. THĂM VIẾNG TẠNG KINH KHẮC TRÊN ĐÁ TẠI CHÙA TÂY VỰC

 

Cách Bắc Kinh hơn một trăm dặm đường, thuộc địa phận huyện Phòng Sơn, tỉnh Hà Bắc, là một ngôi chùa cổ rất nổi tiếng. Ở đây qua nhiều đời trong quá khứ, các vị thánh tăng đã từng nối tiếp nhau ứng hiện, và đến đầu triều đại nhà Thanh có hòa thượng Viên Thông trụ trì. Trên đỉnh núi có một cái động, bên trong chứa toàn bộ tam tạng kinh điển khắc trên đá. Công trình khắc kinh bắt đầu từ pháp sư Tĩnh Uyển đời Tùy, trải qua các đời Đường, Tống và đến đời Nguyên mới hoàn tất. Nhiều người đến đây lễ bái nơi này.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Tĩnh Uyển khắc kinh thạch bích gian

Đường Tống Nguyên triều thủy toàn thiên

Chánh pháp cửu trú tỉnh mê mộng

Bát nhã hằng minh giác si manh

 

Dịch:

Khắc kinh vách đá từ Tĩnh Uyển

Qua Đường Tống Nguyên mới khắc xong

Tỉnh mộng bởi còn lưu chánh pháp

Si mê Bát Nhã rọi khai thông.

 

 

 

 

115. VIẾNG CHÙA GIỚI ĐÀI LỄ THÁP TỔ PHI BÁT

 

Vân Công lên núi Đàm Chá thăm viếng đại sư Dị Hạnh, tới chùa Giới Đài lễ tổ tháp thiền sư Phi Bát[4] (dịch nghĩa là cái bát bay). Tại Hồng Loa Ngài tham dự khóa niệm Phật.

Tương truyền rằng vị thiền sư đời Minh nói trên kết lều cỏ trên núi ẩn tu. Vì muốn dựng lên một đạo tràng, thiền sư bèn cho bát bay vào cung vua. Thái hậu trông thấy liền sai lấy vàng cúng dàng đầy bát. Tức thời bát bay trở về núi. Nhờ có vàng thiền sư xây nên chùa Giới Đài. Trong chùa còn bài trí mười cỗ pháp tọa chạm rồng đóng bằng gỗ trầm hương.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Phi bát hóa duyên nhập hoàng cung

Thái hậu bố thí kim mãn doanh

Dĩ thử cao trúc Giới Đài tự

Trầm hương long ỷ thập sư tông

 

Dịch:

Hoàng cung nhắm hướng bát cao bay

Thái hậu lấy vàng chất bát đầy

Vàng cúng trở thành ngôi tự viện

Ghế trầm mười Tổ chạm rồng bầy.

 

 

 

 

 

116. THĂM DI TÍCH CỔ TẠI CHÙA ĐẠI CHUNG

 

Vân Công viếng Đại Chung Tự thăm quả chuông lớn do sư Diêu Quảng Hiếu đời Minh đúc với tám vạn bốn ngàn cân đồng. Chuông cao như một nhà lầu mầy tầng, núm chuông đo cỡ bẩy thước, đường kính chuông chừng một trượng bốn thước[5]. Mặt ngoài chuông là toàn bộ kinh Hoa Nghiêm đúc thành, mặt trong chuông là toàn bộ kinh Pháp Hoa, cùng với toàn thể bài chú Tôn Thắng. Ở viền mép chuông là kinh Kim Cang, còn trên núm chuông là bài chú Lăng Nghiêm. Vua Vĩnh Lạc cho đúc chuông cúng dàng chính là để hồi hướng cho mẹ được siêu thoát.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Miến Điện tuy hữu Đại KimTháp

Chi Na cánh hữu Đại Hồng Chung

Lưỡng giả giai vi lịch sử vật

Thần chung thất nhi phục đắc minh.

 

Dịch:

Miến Điện nổi danh Đại Kim Tháp

Trung Hoa lại có Đại Hồng Chung

Lịch sử rạng tên hai báu vật

Chuông thần còn mất tiếng mãi buông

 

 

 

 

117.          TRỞ VỀ THÀNH NAM TRÚ TẠI CHÙA LONG TUYỀN

 

Đến tháng 5, cuộc bạo loạn của Nghĩa Hòa Đoàn càng thêm dữ dội. Họ lấy khẩu hiệu “Phò Thanh Diệt Dương” để kêu gọi mọi người tham gia. Viên thư ký của tòa lãnh sự Nhật bị giết, sứ thần nước Đức bị giết, đều có sự dung túng của thái hậu và đến ngày 19 thì có chiếu chỉ của nhà vua tuyên chiến với các nước. Ở Kinh Thành loạn lạc lan tràn. Tháng 6 thì Thiên Tân bị thất thủ. Tháng 7 liên quân vây hãm Bắc Kinh. Lúc đó, hoàng tộc và các quan chức triều đình tạm trú ngụ tại chùa Long Tuyền đều khuyên Công cùng đi theo hộ giá về miền Tây.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Thanh vận tương mạt náo Nghĩa Hòa

Bát quốc liên quân nhập khấu ma

Bách bức thái hậu Trường An khứ

Ủng hộ thánh giá hữu đầu đà

 

Dịch:

Vận mạt nhà Thanh dấy Nghĩa Hòa

Liên quân tám nước loạn sơn hà

Trường An thái hậu đi lánh nạn

Hộ giá tùy tòng có đầu đà.

 

 

 

 

 

118.    TỪ BẮC KINH ĐI TRƯỜNG AN

 

Cuộc hành trình ngày đêm liên tục không ngưng nghỉ, gian khổ vô cùng. Đi đến huyện Phụ Bình thì mới nghe có cánh quân cần vương của Sầm Xuân Huyên ở Cam Túc đến cứu ứng. Đoàn quân hộ giá đưa vua và triều đình ra ngoài Trường Thành, sau đó qua Nhạn Môn Quan vào Sơn Tây. Tại chùa Vân Môn, nhà vua gặp một vị lão tăng, lúc đó đã 124 tuổi. Vua ban vải mầu vàng và sai cất lên một công trình kỷ niệm để tặng sư. Hành trình lại tiếp tục tới Bình Dương, đâu đâu cũng thấy hoang tàn và đói.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Nhất nhân hữu khánh triệu nhân lại

Vạn tính vô cô đa đảo huyền

Xa mã tây hành thân kinh lịch

Biến địa cơ hoang thái khả lân

 

Dịch:

Một người phước lớn triệu người may

Trăm họ vô can tai vạ đầy

Xe ngựa quân vương thân chứng kiến

Hoang tàn đói khổ thảm thương thay.

 

 

  

 

 

 119.    CẦU MƯA CỨU NẠN HẠN HÁN

 

Dân địa phương mang rau khoai sọ, rau khoai nước để cung tiến vua. Vua và thái hậu đều dùng, cho là ăn được. Đến Tây An, Vua ngự tại tòa phủ viện. Trong dân chúng đã có người đói đến nỗi phải ăn thịt các tử thi nên có đạo dụ của vua cấm đoán việc này. Trong thành phố thì có tám địa điểm phát cơm cho dân, cũng như có những trạm như vậy tại các thị trấn lớn nhỏ xung quanh vùng. Tuần phủ Sầm Xuân Huyên mời Công đến chùa Ngọa Long để làm lễ cầu mưa tuyết xuống cứu nạn hạn hán. Sau khóa lễ, viện chủ Đông Hà mời Công ở lại chùa, nhưng vì không hợp với khung cảnh quá ồn ào, Công bèn thầm lặng ra đi.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Trị thế khuyển thắng loạn thế nhân

Tạo thứ điên bái hiển trung thần

Biến địa hoang hạn dân cơ cận

Phủ đài thỉnh công đảo cam lâm

 

Dịch:

Thời loạn làm người thua kiếp khuyển

Tôi trung mới rõ lúc nguy cơ

Nơi nơi hạn hán dân tình đói

Tuần phủ thỉnh Công cầu đảo mưa

 

 

 

 

120.    TRÚ TRONG HANG SƯ TỬ TẠI NÚI GIA NGŨ ĐÀI

 

Tháng 10 Công lên Chung Nam Sơn trú trong hang Sư Tử, núi Gia Ngũ Đài, trong cảnh u tĩnh, hoang dại, ý muốn tránh sự qua lại thăm viếng. Ngài đổi danh hiệu thành Hư Vân. Nơi đây thiếu nước, Công đun tuyết để uống, hái lá cây cỏ dại để ăn. Trong vùng núi non này, kể ra có các vị như hòa thượng Bản Xương thì trú tại núi Phá Thạch, Diệu Liên tại miếu Quan Địa, Đạo Minh tại động Ngũ Hoa. Còn các vị hòa thượng khác như Diệu Viên, Tu Viên, Thanh Sơn thì mỗi người cũng trú một nơi ở phía sau núi.

 

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Vạn lý Chung Nam ẩn thánh hiền

Bách thiên tỳ khưu tụ Trường An

Công kim cánh danh cư Sư động

Chuyên tâm trí chí khổ tu tham.

 

Dịch:

Vạn dặm Chung Nam ẩn thánh hiền

Trăm ngàn hòa thượng tụ Tràng An

Đổi tên Công trú hang Sư Tử

Bền chí khổ tu tĩnh lặng tham

 

 

 

 

 

121. TỰ MÌNH CANH TÁC, TỰ MÌNH ĂN, TỰ MÌNH TU

 

Pháp sư Thanh Sơn, người đất Tương, được mọi người tôn kính, cũng trú ở gần nên qua lại với Vân Công thường xuyên. Năm sau đó, vào tháng 8 có các pháp sư Phục Thành, Nguyệt Hà và Liễu Trần đến. Khi gặp Công, các vị nói trên tỏ vẻ sửng sốt, cho biết rằng mấy năm qua không ai biết tin tức của Ngài, nay thì mới hay Ngài “ngủ”ở chỗ này. Công cười đáp: “Chỗ này! Được! Còn chỗ kia thì là thế nào?” Ăn khoai xong, mọi người tới núi Phá Thạch trú. Nghe nói lão hòa thượng Pháp Nhẫn gặp điều phiền hà muốn đến nơi đây.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Hóa Thành, Dẫn Nguyệt, Phục Giới sư

Thúy Vi sơn thượng tương địa hồi

Công vị vô khao hướng bạch hổ

Đa hung thiểu cát hậu quả nhiên

 

Dịch:

 

Hóa Thành, Dẫn Nguyệt cùng Phục Giới

Lên núi Thúy Vi thăm trở về

Thế đất Công xem hướng bạch hổ

Quả nhiên, tốt ít xấu nhiều bề

 

 

 

 

 

122. ĐI ĐƯỜNG SẨY CHÂN RỚT XUỐNG HỐ TUYẾT

 

Vào tiết đông chí, lão pháp sư Thanh Sơn bảo Công đi Tràng An, kiếm các đồ cần dùng. Trên đường về gặp trời mưa tuyết. Lên tới núi hướng về căn lều cỏ mới, Ngài men theo khúc đường có vách đá dựng đứng, thì sẩy chân rớt xuống hố tuyết. Ngài kêu cứu thì có thượng nhân Nhất Toàn trú tại căn lều gần đấy chạy tới kéo Công lên. Áo trong áo ngoài đều ướt, ngặt vì tuyết còn rơi có thể ngập núi, nên Công đành lội tuyết đi ngay trong đêm đến chỗ trú của pháp sư Thanh Sơn. Sư trông thấy hình dáng nhếch nhác của Công, lại trách Công là quá khờ khạo chẳng làm nên công chuyện gì. Công cười đáp lễ trở về nơi của mình và trú ở đây qua năm.

 

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Vi nhân phục vụ đọa tuyết quật

Phản bị kha xuy bất tế đồ

Nhâm lao nhâm oán nhâm đạo viễn

Chứng thánh chứng quả chứng tổ sư

 

Dịch:

 

Giúp người hố tuyết sẩy chân sa

Còn bị khinh khi trách dại khờ

Gánh chịu oán phiền nhằm đạo cả

Chứng hiền chứng thánh chứng tổ sư

 

 

 

 

 

123. NHẬP ĐỊNH NỬA THÁNG TRONG HAI NĂM

 

Năm tân sửu, Vân Công 62 tuổi. Lão hòa thượng Pháp Nhẫn dẫn các đệ tử tới, nhưng về sau bị thua kiện trong một vụ tố tụng với dân địa phương nên lại trở về miền Nam. Sự thất bại đó cũng là do vấn đề phong thủy gây ra. Một hôm vào khoảng cuối năm đó, Công luộc khoai ăn và trong lúc chờ khoai chín Ngài ngồi kiết già thiền định. Qua năm sau, nhâm dần Công 63 tuổi, pháp sư Phục Thành và một số các vị khác tu ở những lều cỏ lân cận, đi ra ngoài gặp nhau chúc tết, đều lấy làm lạ vì không thấy Ngài đi ra, mà họ lại thấy toàn là vết chân hổ xung quanh căn lều của Ngài. Khi họ vào lều thì thấy Công vẫn còn trong định, nên lấy khánh gõ để đánh thức và hỏi Công đã ăn chưa.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Vu tại phủ trung độ dĩ thục

Khải thị môi trường doanh thốn chư

Chúng nhạ nhập định cánh bán nguyệt

Phanh tuyết chử vu bão tiếu hồ

 

Dịch:

Nấu khoai khoai chín đã lâu

Mở nồi một tấc mốc cao phủ đầy

Nửa tháng vào định chẳng hay

Nực cười nấu tuyết nấu khoai lạ đời

 

 

 

124. TRÁNH CẢNH THÙ TIẾP TRONG ĐÊM RA ĐI

 

Pháp sư Phục Thành và các vị khác đi khỏi thì sau đó, mọi người ở các nơi xa gần, cả tăng lẫn tục đều kéo đến thăm hỏi. Vì muốn tránh cảnh thù tiếp nên trong đêm Công mang các vật tùy thân đeo lên vai rồi lên đường, hướng tới một nơi không cây cỏ. Mới đầu Công lên núi Thái Bạch trú trong hang núi. Chẳng bao lâu, pháp sư Giới Trần dò theo dấu vết của Công cũng lần tới, rồi hai bên ước hẹn cùng đi thăm núi Nga Mi. Tại đây Công ngắm cảnh ánh sáng Phật thì thấy cũng giống như khi ngắm cảnh đó tại núi Kê Túc. Đêm xem hàng vạn ngọn đèn trời sáng rực chẳng khác gì đèn trí huệ tại Ngũ Đài Sơn.

 

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Tích ngõa bảo điện lễ Chân Ứng

Niên du nhĩ thuận lãnh tụ tăng

Tông môn tri thức tham học bão

Hoan lưu sổ nhật hựu đăng trình

 

Dịch:

 

Lễ ngài Chân Ứng chùa mái thiếc

Tuổi ngoại sáu mươi bậc trưởng tôn

Tham học cửa thiền là lãnh tụ

Hân hoan Công ở lại vài hôm

 

 

 

 

125. DÂY BUỘC THUYÊN ĐỨT, RỚT XUỐNG NƯỚC CHẨY XIẾT

 

Công xuống núi, đi men hồ Tẩy Tượng, qua chùa Đại Nga, cánh đồng Trưởng Lão, điện Tỳ Lô, tới huyện Hiệp Giang. Đến thôn Ngân thì phải qua sông Lưu Sa, nhưng chờ từ buổi sáng đến trưa, con đò mới tới. Mọi người lên đò, Công nhường cho sư Giới Trần lên trước, tay thì chuyển hành lý lên cho sư, nhưng, vừa tính bước lên thuyền, thình lình giây buộc thuyền bị đứt. Lúc đó nước chảy xiết, tay phải của Công bíu chắc giây thuyền, còn ở trên thì người quá đông và nếu chòng chành một chút thì thuyền có thể bị lật. Bởi vậy, Công giữ nguyên vị thế, không nhúc nhích và để dầm mình dưới nước cho đến chiều tối.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Phan thuyền tòng lưu độ khổ ách

Y thấp túc phá huyết nhiễm hà

Sái Kinh quan phùng thiên hàn vũ

Lữ điếm bất lưu tăng già da

 

Dịch:

Đeo thuyền dầm nước vượt khổ ách

Đá cắt chân đau máu đỏ dòng

Qua ải Sái Kinh mưa đổ lạnh

Bên đường quán chẳng chứa du tăng

 

 

 

 

126. KHÔNG CHO TẠM TRÚ TRONG CHÙA PHẢI NGHỈ ĐÊM DƯỚI SÀN SÂN KHẤU

 

Một mái chùa ở phía ngoài đường lộ, trong có một vị tăng duy nhất trụ trì.  Xin vào tạm trú trong chùa mà không được chấp thuận, Vân Công và pháp sư Giới Trần phải nghỉ đêm ở ngoài, dưới sàn của một sân khấu diễn kịch. Đất ướt, quần áo ướt, trời rét, mình run lạnh, hai vị nhờ sư trụ trì bán cho một ít rơm rạ thì vị sư mang ra cho hai bó, nhưng vì rơm ướt nên đốt lên mà rơm không cháy. Hai vị đành chịu vậy, ngồi chờ trời sáng, rồi mua kiều mạch[6] ăn cho đỡ đói. Chân đau nhưng Công cố chịu đựng, lại tiếp tục lên đường.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Hỏa nhiên sơn thượng phóng hồng quang

Kim Sa giang lý nhất sắc hoàng

Phổ Hiền đại sĩ đa kỳ diệu

Quan Âm bồ tát thánh tích chương

 

Dịch:

Núi lửa phun cao đỏ rực trời

Kim Sa mặt nước sắc vàng tươi[7]

Phổ Hiền bồ tát bao mầu nhiệm

Thánh tích Quan Âm hiện sáng ngời

 

 

 

 

 

127.  ĐÓNG CỬA ẨN TU TẠI CHÙA PHƯỚC HƯNG

 

 

Hai vị đi núi Kê Túc triều bái, nghỉ qua đêm bên gốc cây, lại nghe tiếng mõ và tiếng khánh tử cổng đá vang ra. Sáng hôm sau leo lên Kim Đỉnh dâng hương xong, Công lại nghĩ tới sự tàn tạ của các đạo tràng thờ Phật và chư Tổ ở nơi đây, cũng như tình trạng đáng chê trách trong quy luật tăng già ở toàn vùng Vân Nam, do đó Công phát nguyện kết lều cỏ tạm trú để tiếp dẫn đại chúng, nhưng điều đó lại gặp sự cấm đoán bởi lề lối cha truyền con nối của chùa miếu tại địa phương. Trong lòng than tiếc, Công đi Côn Minh thì có cư sĩ Sầm Khoan Từ mời về trú tại chùa Phước Hưng. Công đóng cửa ẩn tu, có pháp sư Giới Trần giúp đỡ rồi tạm trú ở đấy qua năm.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Quý mão Công niên lục thập tứ

Nghinh Tường phóng sinh hữu hùng kê

Tính cực háo đấu thương đồng loại

Công giáo niệm Phật thọ tam quy.

 

Dịch:

Sáu mươi tư tuổi tại Nghinh Tường

Gà trống một con được phóng sanh

Ưa đá hung hăng Công dẫn dụ

Quy y niệm Phật vẻ thuần thành

 

 

 

128. SAU KHI QUY Y GÀ TRỐNG NIỆM PHẬT VÃNG SANH

 

Quy y xong, con gà trống đó không đấu đá nữa, lên cây đậu, không đụng chạm tới cả loài sâu bọ, cũng không ăn gì ngoài những thứ mà người ta cho. Về sau gà niệm Phật rồi đứng yên một chỗ mà tịch. Vân Công có một bài ghi sự tích này như sau:

          

Hung dữ chú gà tánh bẩm sanh

Mổ mào đá bạn chẳng nương tình

Quy y biết sợ tâm cuồng hết

Chay tịnh một nơi giữ hạnh lành

Mắt hướng ánh vàng[8] chăm chú ngắm

Gáy ra tiếng Phật khéo thuần thành

Nhiễu quanh ba lạy an nhiên tịch

Có khác gì chăng Phật chúng sanh ?[9]

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Hùng kê niệm Phật thượng vãng sanh

Ngô nhân khởi khả bất tinh cần

Niệm tư tại tư bất gián đoạn

Nhất tâm bất loạn ngộ vô sanh

 

Dịch:

 

Niệm Phật chú gà cũng vãng sanh

Là người sao chẳng dốc lòng thành

Niệm rồi lại niệm không ngưng nghỉ

Chẳng loạn nhất tâm chứng vô sanh

 

 

 

129. TẠI AM BÁT VU DỜI TẢNG ĐÁ LỚN

 

Vân Công còn đóng cửa ẩn tu thì có tín đồ các nơi kéo đến. Mọi người đều khẩn khoản mời Công ra giảng kinh. Từ đó các pháp hội được tổ chức khắp mọi nơi trên toàn vùng Vân Nam. Đề đốc Lý Phước Hưng thỉnh Công trụ tại chùa Sùng Thánh. Công thì cho hay rằng nguyện của Ngài là có một chỗ trên núi Kê Túc làm nơi đón nhận tăng và tiếp đại chúng. Tri huyện Bảo Xuyên được lệnh của đề đốc để lo về vụ này và sau đó tìm được am Vu Bát để Ngài trú. Bên phải cổng chùa có một tảng đá lớn cao 9 thước 4 tấc, bề rộng đo được 7 thước 6 tấc[10], theo phong thủy thì chủ về bạch hổ. Công cầu xin thần lực của hộ pháp giúp đỡ và các tăng xúm lại di chuyển tảng đá nói trên.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Chiêu công bách dư thạch nan di

Công kỳ hộ pháp trợ thần lực

Quái thạch ban gia chúng xưng dị

Thịnh đức cảm cách thái diệu kỳ

 

Dịch:

Trăm người lay đá đá nằm trơ

Thần lực Vân Công mới cậy nhờ

Đá tảng chuyển ngay ai nấy lạ

Nhiệm mầu cảm ứng đức bao la.

 

 

 

 

130. TRÊN ĐƯỜNG GẶP THIỀN SƯ THIỀN-TU KHỔ CỰC SỬA ĐƯỜNG

 

Vì nhu cầu tu sửa chùa Công phải xuống núi đi quyên góp. Qua Hòa Mộc Thụ, Công gặp một vị tăng đương sửa đường. Công lễ chào nhưng vị đó không đáp lại. Đến chiều tối hai bên ngồi đối diện. Sáng ngày hôm sau, vị tăng nấu cơm ăn thì Công giúp đốt lửa. Khi cơm chín vị đó chẳng mời nhưng Công vẫn lấy cơm ăn. Làm đường thì vị tăng vác cuốc còn Công thì bưng cái sàng cùng góp sức. Hơn mười ngày mà không ai nói một lời. Ở cùng một nơi, làm cùng, nghỉ cùng, hòa hợp như vậy!

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Thô lạc sổ bách lộ nan hành

Sở tăng thiền tu nguyện địa bình

Khổ hạnh sổ thập vĩnh bất thoái

Cao hỹ hưu tai thán kỳ phùng

 

Dịch:

Con lộ mấy trăm dặm gập ghềnh

Thiền Tu tự lực nguyện san bình

Khổ công mấy chục năm bền chí

Cao đẹp thay và cũng kỳ phùng

 

 

 

 

131.  CÙNG LUẬN THIỀN VỀ TRĂNG VÀ CÙNG NHAU CẢ CƯỜI

 

Có một đêm trắng sáng tỏ như ban ngày, Công ngồi kiết già trên một tảng đá lớn. Vị tăng thầm lặng đến sau lưng Công rồi quát lớn: “Làm gì ở chỗ này?” Công từ từ mở mắt và chậm rải đáp: “Xem trăng.” Vị tăng hỏi: “Trăng ở đâu?” Công đáp: “Hào quang sáng đẹp.” Vị tăng nói:

 

                                Nhiều mắt cá khó bề phân biện

                                Thấy cầu vồng nhận lầm mầu ráng[11]

 

Công đáp lại:

 

                           Hào quang chứa vạn tượng, không kim không cổ

                           Chẳng thuộc về âm dương, chẳng ngại chẳng ngăn[12]

 

          Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Bỉ thử đại tiếu nhất quán thông

Thâm dạ thỉnh hồi thụy mông lung

Kim Sơn đắc nhất hưu yết xứ

Chung nhật bình địa bất thi công

 

Dịch:

 

Một lời thông suốt cùng cười lớn

Về ngủ đi thôi đêm đã khuya

Từ thuở Kim Sơn xong chỗ hết[13]

Sửa đường đã sửa tựa như chưa

 

 

  

 

132. LÀM LỄ TỤNG KINH VÀ THÍ THỰC CHO MỘT VỊ SƯ

 

Công đi tới Đằng Xung thì tạm trú tại hội quán của tỉnh Tương (Hồ Nam). Chưa kịp trút bỏ hành trang xuống thì đã thấy có những người mặc đồ tang tới, lễ lạy Công và mời Công đi tụng kinh. Công cho hay rằng Ngài tới không phải về vụ tụng kinh thì tang gia đáp rằng ắt là đại sư sẽ đi tụng kinh cho một vị trong giới hòa thượng của các Ngài. Lúc đó, nhân viên trông coi hội quán cũng thưa lên : “Đại sư nên đi ! Mấy người này là chắt của vị thái sử họ Ngô, một bậc thiện nhân. Khi sắp mất, thái sử nói sẽ làm tăng và sẽ có một vị cao tăng tới siêu độ cho mình.”

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Niệm kinh thí thực mãn lai phục

Hạp ấp quan thân nguyện quy đồ

Khẩn lưu Đằng Việt mộ duyên cấp

Dũng dược lạc quyên cự khoản thâu.

 

Dịch:

Thí thực tụng kinh pháp hội đông

Quan dân toàn hạt nguyện quy Công

Việc quyên nên khước từ Đằng Việt [14]

Hăm hở gom tiền ngoài ước mong

 

 

 

133. TẠI PENANG HOẰNG PHÁP GIẢNG KINH

 

Vân Công trở về am.Với các khoản quyên được nên chùa có lương thực. Công truyền giới, hoằng dương chánh pháp. Về sau, trên đường Ngài nhiễm bệnh sốt rét rừng; tại Liễu Động thì giáo hóa cho sư Định Như; đến Miến Điện có cư sĩ Cao Vạn Bang tiếp đón và dẫn Công triều bái tòa Đại Kim Tháp (Shwedagon); rồi Công đáp tàu thủy đi Penang. Khi tầu cập bến thì có sự kiểm tra y tế và hành khách bị đưa lên núi cách ly vì có bệnh dịch trên tầu. Từ từ mọi người được cho ra về, duy còn một mình Công phải ở lại rồi bị bắt phải uống thuốc độc cho chết, nhưng Công được một người quê quán vùng Phúc Kiến cứu sống. Đến chùa Cực Lạc thì Ngài khỏi bệnh rồi ở đây giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Di y tồn tâm phả ngận độc

Nhân bản vị tử dục phẫu phúc

Khởi ý đại đức Phật a hộ

Tuy phục độc tễ hữu nhược vô

 

Dịch:

Y sinh man rợ tâm tàn độc

Chưa chết đã toan mổ bụng Công

Đức lớn ai hay còn Phật độ

Uống vào thuốc độc vẫn như không

 

 

 

 

 

134.    VỀ NƯỚC CỨU VÃN NẠN CHÙA 

 

Vân Công nhận được điện tín của toàn thể các tăng vùng Vân Nam cho hay về nạn chính phủ thâu rút đất đai tài sản của chùa. Đại sư Ký Thiền nhắc Công về nước để cùng tìm cách cứu vãn tình trạng này. Năm bính ngọ, 67 tuổi, Công đi về nước. Thuyền ghé Đài Loan, Công thăm chùa Linh Tuyền, đến Nhật Bổn thăm các chùa nổi danh. Thời đó tình hình ngoại giao giữa hai nước Trung Nhật rối ren nên sự qua lại của chư tăng hai nước không còn được tự do. Tháng 3 Công về nước, lên đất liền tại Thượng Hải.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Diệu Lão hồi quốc chúc giảng kinh

Pháp Hoa Dược Sư kế xiển minh

Cát Long Linh Sơn giảng Lăng Già

Tiền hậu quy y vạn dư danh

 

Dịch:

Diệu Lão hồi hương cậy giảng kinh

Pháp Hoa rồi giảng Dược Sư tiếp

Lăng Già tại Linh Sơn Cát Long[15]

Quy y cả vạn người phát nguyện

 

 

 

 

 

135.   CÙNG NHAU VỀ KINH ĐÔ THỈNH NGUYỆN  

 

Công cùng đại sư Ký Thiền và đoàn đại biểu Phật giáo, tất cả đi về kinh đô để trình lên lời thỉnh nguyện. Đến nơi thì trú tại chùa Lương Hiền. Pháp sư Pháp An chùa Long Tuyền, là chủ nhiệm coi về tăng sự, pháp sư Đạo Hưng chùa Quan Âm, pháp sư Giác Quang cùng một số các vị khác tiếp đãi và cung ứng các tiện nghi hết sức nồng hậu. Mọi người bàn thảo với nhau về phương cách tiến hành làm sao để cứu vãn nạn của chùa. Ví thử hồi đó không có bàn tay của Công và các vị kể trên thì không ai hiểu rồi số phận của Phật giáo sẽ ra sao.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Tam Vũ diệt Phật Phật bất diệt

Nhất tái hộ giáo giáo phục hưng

Tiến kinh thỉnh nguyện bạt thiệp khổ

Lưu đắc công huân truyền cổ kim.

 

Dịch:

Tam Vũ[16] diệt Phật Phật chẳng tiêu

Phục hưng hễ có đạo tâm nhiều

Về kinh thỉnh nguyện bao gian khổ

Rực rỡ huân công gương mãi nêu

 

 

 

 

 

136.       CÁC VỊ VƯƠNG CÔNG VÀ ĐẠI THẦN HỘ PHÁP

 

Hồi đó thân vương Túc Thiện Kỳ mời Công đến giảng về giới luật cho bà vợ chánh thất của ông. Lại một số vương công cùng các quan đại thần quen biết lúc trước, khoảng thời gian Công theo đoàn hộ giá vua và hoàng hậu lánh về miền tây năm canh tý (1900), nay gặp lại, họ đều tận lực ra công hộ pháp nên sự đệ trình thỉnh nguyện tiến hành thuận lợi. Kết quả là có đạo dụ ban hành đình chỉ lệnh cũ.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Lưu Ly đại vương diệt Thích chủng

Tần Bà Sa La thỉnh Mục Liên

Túc thân vương tử vi hộ pháp

Toại tâm mãn nguyện phụng dụ hoàn

 

Dịch:

 

Vua Lưu Ly xưa diệt họ Thích

Tần Bà Sa La thỉnh Mục Liên

TúcThiện Kỳ thân vương hộ pháp

Công thành phụng chỉ trở về Điền[17]

 

 

 

 

 

137.   VỀ NÚI VỚI SẮC PHONG PHẬT TỪ HỒNG PHÁP ĐẠI SƯ

 

Vân công được Hoàng đế ban cấp một bộ Tam Tạng kinh, một cỗ xe loan đủ bộ, một y mầu đỏ tía, một ấn bằng ngọc và một tích trượng như ý.

Đạo sắc ghi: “Sắc phong cho vị trụ trì Hư Vân danh hiệu ‘Phật Từ Hồng Pháp Đại Sư’, để phụng chỉ này trở về núi truyền giới giúp nước giúp dân. Quan đại thần coi việc nội vụ thông tri đạo sắc cho trụ trì Hư Vân hay đặng lãnh các thứ ban cấp trở về núi, chấn hưng sơn môn, tiện việc truyền bá giáo pháp. Quan dân đều phải thành tâm tuân phụng bảo hộ, không được coi thường Dụ này”.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Phật Từ Hồng Pháp Tôn

Thỉnh nguyện chí dĩ thân

Phụng chỉ hồi Chúc Thánh

Bố giáo hóa quần luân

 

Dịch:

Ngài Phật Từ Hồng Pháp

Thỉnh nguyện đã viên thành

Phụng chỉ về Chúc Thánh[18]

Giáo hóa độ quần sanh

 

 

 

 

 

 

138.   HÒA THƯỢNG GIỚI NGUYÊN DIỆU LÃO VIÊN TỊCH

 

Năm đinh mùi Công 68 tuổi. Xuân năm ấy, Công vận chuyển số kinh tạng về, vừa đến Hạ Môn thì có điện tín từ Cổ Sơn cho hay lão hòa thượng Diệu Liên đã viên tịch tại Quy Sơn hồi tháng giêng. Ngài liền gấp rút đi ngay về núi để xây tháp. Mưa tầm tã đổ xuống trong nhiều ngày. Ngày mồng 10 tháng 4 nhập tháp thì ngày mồng 8 trời tạnh ráo. Đến mồng 10, các quan, thân hào nhân sĩ và dân chúng lũ lượt kéo đến tấp nập. Đồ cúng lễ bầy lên trên một trăm cái bàn. Khi dâng lễ, niệm chú “biến thực chân ngôn” thì hốt nhiên có một trận gió lốc nổi lên rồi bay vút lên không trung. Đỉnh tháp phóng lên một vầng ánh sáng mầu.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Hà quang quán tháp thấu cửu tiêu

Chiêm ngưỡng xưng thán Diệu Công cao

Cung tất hồi tự bàng đà vũ

Cảm ứng đạo giao bất thố hào

 

Dịch:

Ánh mầu tháp chiếu chín tầng mây

Chiêm ngưỡng tán dương công đức dầy

Xong lễ vào chùa mưa trút nước

Đạo giao cảm ứng nhiệm mầu thay

 

 

 

 

 

 

139.  MỘT NGƯỜI ÂU TÂY TIN PHẬT CÚNG DƯỜNG TĂNG

 

Trên đường vận chuyển kinh, Công mang tro cốt của hòa thượng Diệu Liên đi Penang. Cả ngàn người tiếp rước. Tụng kinh, niệm chú “biến thực chân ngôn”, lại gió lốc nổi lên, rồi hào quang chiếu sáng như trước. Một đời lấy việc xây chùa để kết duyên, công hạnh âm thầm của cố hòa thượng quả là khó thể nghĩ bàn. Vân Công giảng Tâm Kinh, rồi đáp thuyền đi Thái Lan. Trên thuyền có một người Anh hỏi chuyện Công, nói được tiếng Hoa. Qua câu chuyện trao đổi thì người này lại là vị lãnh sự tại Vân Nam. Vị lãnh sự này hỷ cúng ba ngàn đồng.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Hóa hành Trung ngoại độ dương nhân

Lạc trợ thâu tương tam thiên ngân

Nhược phi chí đức yên như thử

Nhân duyên ân cập thú dữ cầm

 

Dịch:

Nước ngoài hoằng pháp độ người Âu

Hỷ cúng ba ngàn một lúc thâu

Hạnh ngộ phải chăng nhờ đức lớn

Gieo duyên cầm thú cũng ơn sâu

 

 

 

 

 

 

140.   LẶNG LẼ NHẬP DỊNH

 

Một hôm Công vào định, kéo dài luôn 9 ngày. Tin đồn làm chấn động kinh thành Thái Lan. Vua và các quan tại kinh đô, cho đến một số các thiện nam tín nữ đều đến đảnh lễ Công. Công ra định và giảng kinh xong thì nhà vua mời vào cung tụng kinh. Cung dưỡng trai tăng hàng trăm loại. Mọi người tâm thành quy y từ các quan, nhân sĩ đến thứ dân, kể ra đến mấy ngàn đệ tử. Ôi! Người ta chỉ thích những chuyện kỳ dị! Chưa nhập định thì chẳng ai biết tới, nhập định rồi mới biết tới Công.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Quốc vương quy y tín tam bảo

Đại thần đảnh lễ học nhất thừa

Sĩ nhân sùng bái tu vô thượng

Tứ dân đồng hóa nhập không môn

 

Dịch:

Nhà vua quy tam bảo

Quan mộ lý nhất thừa

Sĩ học đạo vô thượng

Dân đồng hướng cửa không.

 

 

 

141.       MANG BỆNH BẠI LIỆT GẶP NGÀI CA DIẾP TRONG MỘNG

 

Sau lần vào định, chân của Công bị tê, sau đó thì toàn thân bị liệt, tay không cầm được đũa, ăn cơm phải có người bón. Mắt thì không nhìn thấy gì, nói năng khó khăn. Thầy thuốc chữa trị cũng không khỏi. Mọi thứ đều buông xuôi hết, ngoại trừ vụ hối phiếu khâu trong cổ áo, chẳng ai biết tới. Công nghĩ tới chuyện nhân quả, mắt nhỏ lệ, bèn cầu xin Ngài Ca Diếp gia hộ. Pháp sư Diệu Viên ở bên cạnh rót trà, Công cầu Ngài Ca Diếp rồi uống trà. Trong mộng Công thấy tôn giả Ca Diếp. Ngài dặn dò Công luôn luôn giữ y và bát bên cạnh mình và dùng hai thứ đó kê vào đầu làm gối. Công khỏi bệnh.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Miễn huyễn hốt hãn dũ trầm kha

Ký ngữ Diệu sư cầu dược Đà

Mộc trất dạ minh sa nhị vị

Tái cầu xích đậu tác chúc hợp

 

Dịch:

Toát lạnh mồ hôi bệnh hiểm qua

Nhờ sư Diệu hỏi thuốc Hoa Đà

Dạ minh sa, mộc trất hai vị

Sau hỏi nấu cùng đậu đỏ ăn

 

 

 

 

 

142.   VUA THÁI  LAN CÙNG CÁC QUAN DÂN TIỄN CHÂN

 

 

Sau khi được bình phục Vân Công tiếp tục giảng bộ luận Đại Thừa Khởi Tín. Chùa Cực Lạc tại Penang phái hai pháp sư Thiện Khâm và Bảo Nguyệt tới Thái để đón rước Công. Vua Thái, các hoàng thân, các quan cùng các vị thiện tín hộ pháp đều đến tiễn chân với các khoản hỷ cúng rất hậu. Nhà vua còn tặng Ngài một khu đất tại Động Lý có diện tích  chừng 300 khoảnh[19]. Công chuyển số đất này cho chùa Cực Lạc và hòa thượngThiện Khánh lập tại đây một công xưởng làm nhựa cao su. Công và hòa thượng trú tại đồn điền này qua năm sau.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Sung thực đạo đức hữu quang huy

Viên tu vạn hạnh vô luân tỷ

Mỹ đại thánh thần nho suy trọng

Tín trụ hạnh hướng Phật lý vi

 

Dịch:

Đạo đức đủ đầy trong tỏa sáng

Tu tròn vạn hạnh chẳng ai bì

Mỹ đại thánh thần Nho trân trọng

Tín trụ hạnh hướng Phật huyền vi

 

 

143.    PHƯƠNG TIỆN ĐỂ NHẮC MỌI NGƯỜI,

     CÔNG ĐÓNG CỬA ẨN TU TẠI PENANG  

 

Mùa xuân năm mậu thân, công 69 tuổi. Ngài cùng hòa thượng Thiện Khánh đi Selangor, đến chùa Quan Âm Các. Chùa này do chính hòa thượng sáng lập. Sau đó quay về Ipoh, thăm các động Tích Lịch lớn và nhỏ; đến chùa Cực lạc, giảng Đại Thừa Khởi Tín và phẩm Hạnh Nguyện. Tín đồ quy y rất đông. Giảng kinh xong, và, coi như phương tiện để nhắc nhở, Công đóng cửa, tạm nghỉ giảng kinh và tham thiền, không tiếp khách. Công trú tại đây qua năm.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Nhiệt náo trường trung độ xuân thu

Xả kỷ vân nhân bất tự ưu

Thành khủng hậu học đọa thử bệnh

Công cố thị hiện yểm quan tu

 

Dịch:

Trong chốn lao xao trải mấy xuân

Quên mình vất vả vị tha nhân

Ngại người coi nhẹ đường tu tập

Thị hiện ẩn tu Công bế quan

 

 

 

  

 

144.      VẬN CHUYỂN BỘ LONG TẠNG VỀ QUỐC TỰ

 

 

Năm kỷ dậu, 70 tuổi, Công vận chuyển bộ Long Tạng đi Ngưỡng Quang (Yangon). Khi tới nơi có cư sĩ Cao Vạn Bang tiếp rước và mời về nhà. Hơn một tháng sau, cư sĩ đưa tiễn Công tới Mandalay đồng thời cung tặng một tôn tượng Phật, ở thế nằm, bằng ngọc. Công tới Tân Nhai thì tạm gửi tôn tượng tại Quan Âm Đình. Ngài mướn hơn 300 ngựa chở đồ, rồi cả đoàn chừng một ngàn người, cùng ngựa khởi hành, qua Đằng Việt, Hạ Quan, tới địa phương nào cũng có sự đón tiếp. Cuộc hành trình kéo dài mấy chục ngày, tất cả đều bình an vô sự.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Ngưỡng Quang hộ pháp Cao Vạn Bang

Tài lực nhân thí phi tầm thường

Kham ta mạt pháp nhân đa chướng

Tái như Cao Quân cánh vô song

 

Dịch:

Cư sĩ họ Cao ở Ngưỡng Quang

Hộ trì bố thí chẳng tầm thường

Than cho mạt pháp nhiều ma chướng

Sánh với họ Cao ai sánh bằng

 

 

 

 

145.        TRÂU CẦU CỨU, ĐỒ TỂ ĐỔI NGHỀ

 

Kể lại lúc đến Đằng Việt, Công trú tại chùa Vạn Thọ. Đương khi Công ngồi nói chuyện với đề đốc Trương Tùng Lâm, bỗng thấy một con bò vàng tới quỳ ngay phía trước, mắt nhỏ lệ và theo sau đó là đồ tể Dương Thắng Xương cùng một số người nữa đến. Ngài nói với con bò rằng nếu muốn sống thì phải quy y tam bảo. Bò gật đầu và Ngài cho bò thọ tam quy. Tiếp theo đó, chủ của nó là người đồ tể liền nguyện đổi nghề khác, quy y rồi giữ trường chay. Người này được vị đề đốc mướn làm công cho một cửa tiệm.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Dĩ dương dịch ngưu Tuyên Vương tâm

Ân cập cầm thú chính thi nhân

Mạnh Kha văn thử thiên lý chí

Hoàng ngưu quy y vạn cổ tân

 

Dịch:

Dê đổi lấy bò chuyện vua Tuyên[20]

Nhân từ cầm thú hưởng ơn trên

Nghe tin thầy Mạnh đi ngàn dặm

Quy Phật bò vàng tuyệt cổ kim

 

 

 

 

 

146.                   RỒNG CHÀO ĐÓN KINH

              CÁC QUAN TIẾP NHẬN CHIẾU CHỈ

 

Khi đoàn tiến vào phủ Đại Lý, sấm chớp ầm ầm, hồ Nhĩ Hải nổi sóng, ở trên thì rảng mây mầu sắc biến ảo, bầy ra quang cảnh dị kỳ. Trời không mưa, cho đến khi về tới chùa rồi  sau khi cử hành đại lễ tiếp rước kinh một cách an toàn xong, lúc đó mưa lớn mới đổ xuống. Sau ngày nói trên, ngày nào trời cũng tạnh ráo. Ai nấy đều nói đây là do Long Vương chào đón kinh. Hồi đó, vị tổng đốc kiêm hai tỉnh Vân Nam và Quý Châu là Lý Kinh Hy, thống lãnh các quan và thân hào đi tiếp nhận chiếu chỉ và nghênh đón kinh tạng, đều tận mắt trông thấy điều kỳ dị và đều tán thán Phật pháp vô biên.

 

 Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Nhất lộ bình an vô trích vũ

Thiên chúng hạo đãng hữu thụy vân

Lạp nguyệt tam thập chính hương hội

Hoan đằng vạn chúng đắc vị tằng

 

Dịch:

Một giọt chẳng mưa suốt lộ trình

Ngàn người chung hưởng áng mây lành

Ba mươi tháng chạp hội hương chánh

Vạn chúng mừng vui mấy thưở bằng

 

 

 

 

 

147.                    MỘT NIỆM TỪ, HAI PHONG THƯ

 

Năm Canh Tuất, Công 71 tuổi. Từ ngày có lệnh cấm không được lấy tài sản của chùa mấy năm trước, đến ngày kinh tạng được rước về núi thì giới luật đã được dần dần tuân thủ trong giới tăng già ở nơi đây. Gia quyến tổng đốc họ Lý đều quy y, rồi các tăng sĩ và tội nhân được phóng thích. Mùa hạ năm đó, Công nhận được 2 bức thư của gia đình do Cổ Sơn chuyển tới. Thời gian 50 năm thoáng qua như trong chớp mắt. Nhân đó Công có thơ vịnh, trong có câu như: “Chỉ thử nhất sinh thanh bạch nghiệp” v.v. nghĩa là : suốt một đời chỉ làm cho trong sạch nghiệp . . .

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Nhất niệm từ bi vạn Phật hoan

Lục độ tu thành chúng thánh nguyên

Cửu phẩn liên hoa nghinh Diệu Tịnh

Mãn luân minh nguyệt chiếu Công nham

 

Dịch:

Một niệm từ bi vạn Phật vui

Tu thành lục độ gốc các thánh

Chín phẩm đón mừng ni Diệu Tịnh[21]

Hang Công vằng vặc ánh trăng soi

 

 

 

 

148.      CÂY DẺ GIÀ NỞ HOA ƯU ĐÀM

 

Đáp ứng lời cung thỉnh của tăng già và các tín đồ hộ trì Phật pháp, Vân Công giảng bộ kinh Lăng Nghiêm. Khi Công lên tòa thuyết giảng thì cây dẻ già ở trước sân chùa bỗng nở rộ mấy chục bông hoa ưu-bát-đàm, lớn bằng cái chậu, hình giống như hoa sen, mầu thì vàng ròng, nhụy tỏa hương, bên trong rổng rang tinh khiết. Hoa giữ hương sắc như vậy luôn trong mấy tháng, không bị tàn úa. Ai trông thấy cũng cho là chuyện lạ, chưa từng sẩy ra.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Lão thụ thông linh hiến diệu cung

Trĩ đồng ngưỡng thủ vọng tiên hoa

Tăng già hàm thuyết kỳ hoa thụy

Đàn việt quy kính thắng bồ đề.

 

Dịch:

Cảm ứng cây già cống hiến thiêng

Trẻ thơ ngóng cổ ngắm hoa tiên

Tăng già xưng tán điềm hoa quý

Thiện tín quy y hướng bồ đề.

 

 

 

 

149. TIẾP NỐI TUỆ MẠNG TRUYỀN PHẬT GIỚI

 

Năm tân hợi, Công 72 tuổi. Để vun trồng pháp khí, Công nghĩ tới việc đào tạo giới tăng sĩ trẻ. Xuân năm đó, Ngài truyền thọ Thiên Phật đại giới tại chùa Chúc Thánh.  Các đệ tử cầu giới từ bốn phương đến đông nghẹt, tới cả ngàn người. Chiếu theo thứ lớp nghi lễ trong tăng sự, ba đại giới đàn sa di, tỳ kheo, và bồ tát cử hành trong 53 ngày và được thành tựu viên mãn. Các đệ tử cầu giới đều tín thọ phụng hành.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Chánh pháp trụ thế Phật vi sư

Tượng mạt đương y mộc xoa thi

Công tục tuệ mạng truyền bảo giới

Ngô sài pháp thân quán khái thời

 

Dịch:

Đức Phật là thầy thời chánh pháp.

Đến đời tượng mạt nương thi la[22]

Nối dòng tuệ mạng Công truyền giới

Tưới gội pháp thân đại chúng nhờ

 

 

 

 

150. TIẾP NỐI TỔ ĐĂNG MỞ THIỀN THẤT

 

 

Xét thấy tình trạng đạo chư Tổ suy vi, gia phong trong Tông môn thì lỏng lẻo, nên sau kỳ truyền giới, với dụng tâm đề xướng Thiền tông,Vân Công cho cử hành trong 49 ngày một khóa tu thiền. Khóa tu chú trọng về tọa hương, lên chánh điện, qua đường, giữ uy nghi nghiêm túc, tuân thủ quy ước chặt chẽ, theo ý nghĩa “giới sinh định, định phát sinh trí tuệ”, ngỏ hầu giữ đèn chư Tổ rạng chiếu, nước pháp của các bồ tát được thông dòng, mãi cho đến các đời mai sau.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Lăng Nghiêm đại định diệu tổng trì

Tam ma thiền na vô sở ty

Nhược vấn trực chỉ tây lai ý

Cuồng tâm hiết xứ tức bồ đề

 

Dịch:

Định Lăng Nghiêm tổng trì mầu nhiệm

Tam muội thiền na khó nghĩ nghì

Dám hỏi ý gì từ Tây lại

Tâm cuồng ngừng tắt ấy bồ đề

 

 

 

 

 

151.  TỔNG BINH LÝ CĂN NGUYÊN PHÁ HỦY CHÙA

 

Tân hợi là năm có cuộc cách mạng tại Trung Hoa, vua Tuyên Thống thoái vị. Khắp mọi nơi sẩy ra nạn phá chùa miếu, hủy tượng, đuổi tăng. Vị tướng chỉ huy tỉnh Vân Nam lúc đó là Lý Căn Nguyên từng lãnh đạo số lính tráng đi đập các tượng, phá các chùa, giết hại tăng ni. Nhận thấy Vân Công chỉ là một nhà sư nghèo mà làm sao lại được lòng dân đến như vậy, ai nấy đều ủng hộ Công, nên Lý Căn Nguyên cho là điều kỳ quặc, rồi truyền lệnh cho bắt Ngài. Tình thế quả là nguy ngập!

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Chư tự tăng đào Công bất nhiên

Như thuộc nghiệp báo hà tỵ yên

Dĩ thân tuẫn Phật tỳ kheo chí

Chúng duyệt thành phục nguyện hoạn nạn

 

Dịch:

Bỏ chùa tăng trốn ngoại trừ Công

Nghiệp báo tránh chi chẳng bận lòng

Theo Phật xả thân tỳ kheo nguyện

Mọi người hoan hỷ nạn cùng chung

 

 

 

 

152.    MỘT VÀI LỜI CHUYỂN DỮ THÀNH LÀNH.

 

Vị tổng binh ra quân, đóng trại tại chùa Tất Đàn và cho hủy bức tượng Đại Vương bằng đồng trên đỉnh núi Kê Túc, đồng thời phá các điện đường thờ Phật và chư Thiên. Công lập tức đi xuống núi để tìm gặp họ Lý. Lính gác vốn biết Công, khuyên Công đừng vào  và phải mau mau trốn đi nhưng Công cứ đi thẳng vào. Trông thấy Lý và Triệu Phan đương ngồi nói chuyện, Công làm lễ chào. Lý giận dữ lớn tiếng: “Phật giáo thì dùng để làm gì? Ích lợi gì?” Công đáp: “Thánh nhân lập giáo là để cứu đời, mang lại lợi ích cho dân. Nói về điều cơ bản là làm việc lành, tránh điều ác. Từ ngày xưa chánh trị và tôn giáo đều đi chung với nhau, chánh trị đem lại ổn định cho dân, tôn giáo dẫn dắt dân. Phật giáo thì dạy người điều phục tâm. Tâm lại là gốc của vạn vật. Nếu cái gốc mà chân chánh thì vạn vật sẽ an ổn, do đó mà thiên hạ được thái bình.” Lúc đó với sắc mặt bớt giận dữ, vị tổng binh lấy tay chỉ vào tượng Phật.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Hóa hung vi cát hỹ!

 

Dịch:

Chuyển dữ thành lành vậy!

 

 

 

 

 

153.   VÀI CÂU NÓI, ÁC ĐỔI RA THIỆN

 

Lý nói: “Mấy cái tượng nặn bằng đất, đẽo bẳng gỗ kia thì có công dụng gì? Chẳng là phí tiền của sao?” Công đáp: “Phật nói tới pháp tướng. Tướng là để tượng trưng pháp, nếu không lấy hình tướng để biểu hiện pháp thì pháp Phật không mở rộng được. Công dụng của tướng chính là khởi lên niềm kính sợ trong lòng người ta vậy! Nếu như lòng người mà không biết tới kính trọng, e sợ thì chẳng việc ác nào mà không dám làm, không việc làm nào mà chẳng ác, từ đó mà thành ra loạn, tai họa vậy. Kìa như tại Ni Sơn[23] người ta tô tượng đức Thánh, Đinh Lan[24] khắc hình cha mẹ, các từ đường tại Trung Hoa, rồi các bức tượng đồng ở các nước khác, đâu chẳng phải là khiến cho mọi người có chỗ để nương về mà khởi lòng kính ngưỡng trong tâm? Công hiệu không thể nghĩ bàn. Còn nói về lý tột cùng, như thấy tướng mà không chấp tướng thì tức là thấy Như Lai. Họ Lý hiện rõ nét mặt vui tươi bèn kêu trà nước, bánh để cùng Công đàm thoại.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Cải ác hướng thiện hỹ!

 

Dịch:

 

Chuyển ác thành thiện vậy!

 

 

 

 

154. NGHE THẤU LỜI GIẢNG, ĐỨNG DẬY NGHIÊM CẨN ĐẢNH LỄ

 

Lý hỏi: “Cớ sao lại có những vị sư không tốt lành?” Công đáp: “Giới tăng già cũng có phàm thánh khác nhau, do đó không thể vì một hai người xấu mà xóa bỏ hết. Há lại có chuyện nhân một vài nho sĩ không ra gì mà trách mắng Khổng Tử? Nay như tiên sinh thống lãnh quân đội, tuy cùng trong quân kỷ nghiêm minh, nhưng có phải ai ai cũng đều thông minh chính trực như tiên sinh chăng? Biển kia không bỏ sót một con cá, một con tôm, nên mới gọi là biển cả.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Phật pháp tánh hải vô bất dung

Tăng hoằng thánh hóa dụng di cùng

Hiệp thống linh giáo túc nhiên lập

Kính lễ lập chánh hựu cúc cung

 

Dịch:

Pháp Phật như biển chứa hết thảy

Nhờ tăng lời Thánh rải muôn phương

Tổng binh nghe thấm nghiêm trang đứng

Đảnh lễ đứng ngay lại cúi lưng.

 

 

 

 

155.   TỐI HÔM TRƯỚC THỌ GIÁO, NGÀY HÔM SAU ĐỔI KHÁC

 

Tối hôm đó, họ Lý giữ Công ở lại thọ trai. Đốt đèn lên, hai bên đàm luận về lý nhân quả một cách rành rẽ và nói đến nghiệp báo như mạng lưới ràng buộc chằng chịt; do nghiệp quả nhân duyên mà nói đến thế giới và chúng sanh nối tiếp nhau ra sao. Câu chuyện đã hứng thú, ý nghĩa lại càng thâm sâu. Tiếp chuyện Công, có lúc họ Lý điểm vào bằng những lời nồng ấm, có lúc trên dung nhan biểu lộ sự kính nể, rồi thốt nhiên, bùi ngùi thở dài: “Pháp Phật bao la như vậy, nay tôi lại phá chùa hại tăng, gây thành nghiệp nặng, biết làm sao bây giờ!”

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Công vân phong khí thời sử nhiên

Cực lực bảo hộ công đại yên

Lý công đại duyệt dụy y giáo

Đồng tăng sơ thực thượng điện tham

 

Dịch:

Công rằng thế cuộc khiến xui nên

Hộ pháp công to hãy kết duyên

Lý nghe mừng rỡ vâng lời dạy

Cùng chúng ăn chay cũng lễ thiền

 

 

 

 

 

156.    SÁM HỐI QUY Y TAM BẢO

 

Đến ngày mồng 4 tháng 8, trong núi hiện ra hào quang ánh vàng, tử đỉnh núi xuống tới chân núi, cây cỏ thảy đều biến thành mầu vàng ối. Tương truyền rằng trong núi vốn có ba loại hào quang, mầu của Phật quang, mầu bạc và mầu vàng. Mầu Phật quang thì đôi lúc xuất hiện, còn hào quang mầu bạc và vàng thì rất hiếm thấy. Tổng binh họ Lý rất lấy làm cảm khái trước sự việc đó, giữ lễ thầy trò đối với Vân Công, xin quy y tam bảo, rồi cung thỉnh Công làm tổng trụ trì núi Kê Túc, sau đó dẫn quân lính xuống núi. Về sự việc này, nếu chẳng phải vì sức mạnh cảm hóa từ cái đức tuyệt vời của Công, há có thể chuyển đổi  được tâm niệm chỉ trong một khoảnh khắc như vậy! Ngoài Công ra ai làm được chuyện đó?

 

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Uy vũ bất khuất đại trượng phu

Nghị nhiên vãng kiến chí hà như

Kham tiếu phạ tử tham sinh bối

Đào chi yêu yêu tại kỳ đồ

 

Dịch:

Đại trượng phu uy vũ chẳng sờn

Một lòng quyết gặp giữa ba quân

Cười người sợ chết cùng tham sống

Gặp khúc hiểm nguy vội lánh thân

 

 

 

 

 

157.   ĐI THƯỢNG HẢI THÀNH LẬP TỔNG HỘI PHẬT GIÁO

 

Qua hiến chương mới, Phật giáo Thượng Hải có chỗ mâu thuẫn với hội Phật giáo các nơi và người ta gửi điện mời Công đến. Tại đây, Công gặp và thương nghị với các pháp sư Ký Thiền, Trị Khai, Phổ Thường, Thái Hư, Nhân Sơn, và Đế Nhàn rồi cùng thỏa thuận đặt trụ sở Tổng Hội Phật Giáo tại chùa Tịnh An. Tại Nam Kinh, Công gặp Tôn Dật Tiên, bàn việc sửa đổi điều lệ về hội đoàn. Sau đó, Công cùng pháp sư Ký Thiền đi Bắc Kinh, gặp Viên Thế Khải. Ở chùa Pháp Nguyên, ngài Ký Thiền  nhuốm bệnh rồi ngồi mà viên tịch.  Công đưa linh cữu của ngài trở về Thượng Hải, rồi tổ chức khai mạc ngày thành lập Tổng Hội Phật Giáo.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Phật Giáo Tổng Hội thiết Tịnh An

Điền Kiềm Tạng văn Công đái hoàn

Ấn Tuyền Lý công hàm giới thiệu

Thái Tùng Pha đẳng ngoại hộ hiền

 

Dịch:

Chùa Tịnh An thành nơi Tổng Hội

Điền Kiềm Tạng[25] văn thư mang về

Lý Ấn Tuyền[26] gửi thư giới thiệu

Dặn Thái Tùng Pha khéo hộ trì

 

 

 

 

 

158.  CHIM SÁO NIỆM PHẬT A DI ĐÀ

 

Năm nhâm tý, Công 73 tuổi. Trở về Vân Nam, Công lo việc tổ chức phân hội, khai mạc đại hội tại cung Văn Xương, rồi mời pháp sư Liễu Trần đứng ra lập phân hội tại Quý Châu. Các vị lạt ma Tây Tạng đến dự rất đông. Có chương trình mở các trường học Phật giáo, lập các đoàn truyền bá đạo, cũng như thành lập các y viện và các cơ sở từ thiện. Có người đến cúng một con sáo biết nói để làm lễ phóng sinh. Trước khi con sáo quy y, học niệm Phật thì nó ăn thịt nhưng sau đó, nó chỉ ăn đồ chay rồi, có một hôm nó bị chim ưng bắt đi.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Phi khứ không trung nhưng niệm Phật

Tận thử báo thân sinh Cực Lạc

Hồ vi vạn vật chi linh giả

Nhân bất như điểu luyến Ta bà

 

Dịch:

 

Sáo đã bay cao còn niệm Phật

Báo thân này hết vãng sanh Tây

Loài người ưu tú trong muôn vật

Tham sống với chim sánh chẳng tầy

 

 

 

 

159.  HỒN OAN ĐÒI MẠNG BÁO CỪU

 

Năm quý sửu, 74 tuổi, do công việc của phân hội đòi hỏi, Công phải đi về kinh đô. Tại đây Công gặp Hùng Hy Linh và tổng lý nội các là Nhiệm Khả Trừng, và  được các vị này ra sức giúp đỡ và hộ trì Phật giáo[27].  Năm sau, giáp dần, 75 tuổi, Công trở về núi Kê Túc lo việc trùng tu các chùa và tu viện. Công đi Tây Tạng, thăm 13 ngôi đại tự. Năm ất mão, Công 76 tuổi. Sau kỳ truyền giới, một hôm, có cô con gái, 18 tuổi, con của một hiếu liêm họ Đinh ở huyện Đặng Xuyên, thình lình bị mê man bất tỉnh. Đến khi tỉnh thì tức khắc đổi giọng nói như một người nam, rồi mắng người cha: “Ngươi cậy quyền thế vu cáo ta là trộm cướp, để đến nỗi ta bị mất mạng. Ta chính là Đổng Chiêm Bưu đây! Ngươi còn nhớ không? Nay Diêm Vương cho phép ta báo cái thù 9 năm đó!” Nói rồi, cô ta cầm dao rượt đuổi người cha.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Nhân quả bất khả đào

Tạo nghiệp tất thọ báo

Kim nhật quỷ sách mạng

Vãng thời tâm táng chiêu

 

Dịch:

 

Nhân quả không thể trốn

Nghiệp tạo quả báo theo

Hồn ma nay đòi mạng

Bởi trước tâm ác chiêu

 

 

 

160.       GIẢI OAN, GIẢNG GIỚI LUẬT, SÁM HỐI

 

Hàng ngày, hễ mỗi lần hồn ma đến thì cô gái lại biến đổi sắc mặt và thái độ. Không những gia đình bị rối rắm, thôn xóm cũng bị phiền nhiễu. Vào khoảng đó, núi Kê Túc phái hai vị tăng là Tố Cầm và Tố Trị đi  Đặng Xuyên để lo công việc chùa. Nhân đi ngang qua nhà họ Đinh, hai vị này trông thấy đông người đương đứng coi hành động hung hãn của hồn ma nhập vào cô gái. Một vị lên tiếng bảo:

    - Ta khuyên ngươi đừng có làm vậy mà phá mất sự an ổn của vùng này.

Con ma đáp:

    - Thầy là người xuất gia, chớ có can thiệp vào đây!

Vị tăng nói:

    - Vốn là chẳng có gì liên quan đến ta, nhưng sư phụ ta dạy rằng oan phải giải, chẳng nên thắt lại, vì càng thắt oán càng sâu, khi nào mới kết liễu.

 Ma nghĩ ngợi một lát rồi nói:

    -  Sư phụ của thầy là ai?

    -  Sư phụ ta là hòa thượng Hư Vân tại chùa Chúc Thánh.

Ma bảo:

    -  Tôi nguyện xin quy y và thọ giới.  

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên Hóa:

 

Thân tống chí Kê Sơn

Vân Công thuyết giới đàn

Tòng thử giải oan kết

Đặng Xuyên kết hội sám

 

Dịch:

 

Đưa hồn ma đến Kê Túc

Vân Công giảng giới đàn

Oan kết liền được giải

Đặng Xuyên lập hội sám

 

 

161.   BỊ NGHI OAN MẮC NẠN TÙ TỘI

 

Năm bính thìn, Công 77 tuổi. Nghĩ tới bức tôn tượng bằng ngọc mà cư sĩ Cao Vạn Bang cung tiến, cách nay đã mấy năm rồi, vẫn còn gửi tạm tại đình Quan Âm, Công muốn tìm cách mang tượng về. Lại được nghe thổ dân trong vùng đó rất tin Phật, Công bèn du hành đến các vùng biển miền Nam đặng thăm cho biết tình hình. Công đi Miến Điện giảng kinh, sau đó đáp thuyền đi Tân Gia Ba. Tại đây có sự kiểm tra và Công bị nghi oan thuộc thành phần cách mạng. Người ta bắt và giam Công lại, từ 6 giờ sáng cho đến 8 giờ tối thì có một đệ tử từng quy y với Công là Hồng Thịnh Tường tới xin bảo lãnh luôn cả 6 vị tăng, đóng tiền cho mỗi người là 5 ngàn đồng. Sau khi được phóng thích, Công đến ngụ tại tiệm buôn của cư sĩ họ Hồng qua năm, rồi lo gom góp phương tiện vận chuyển bức tượng ngọc.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa

 

Vu vi cách mạng đảng

Bị phòng tù lục tăng

Linh ngữ cộng hoạn nạn

Phật quốc đồng hóa sanh

 

Nghi oan làm cách mạng

Sáu tăng đều bị nhốt

Cùng trong vòng tù tội

Hóa sanh nơi đất Phật

 

 

 

 

 

162.    NÂNG TẢNG ĐÁ LỚN KHIẾN AI NẤY ĐỀU BỘI PHỤC

 

Năm đinh tỵ, Công 78 tuổi. Cuộc vận chuyển tôn tượng Phật ngọc từ đình Quan Âm trở về núi Kê Túc cần mướn tới 8 nhân công khuân vác. Đi được 10 ngày thì gặp vùng núi cao hiểm trở, chưa có dấu chân người tới. Một hôm đi qua núi Dã Sơn, một ý tưởng thoáng qua trong số phu khiêng tượng là trong Phật ngọc có chứa vàng và châu báu, nên họ đặt tượng xuống đất và bảo rằng họ không đủ sức khiêng. Giá cả thuê mướn như vậy thì phải tính lại, họ coi như bị thiệt thòi và mọi lời khuyên giải đối với họ đều vô hiệu quả. Trước tình hình đó, rồi nhác thấy một tảng đá lớn có thể nặng tới mấy trăm cân, Công bèn trỏ tảng đá và hỏi rằng bức tượng và khối đá cái nào nặng hơn. Mọi người đều trả lời là đá nặng hơn tượng gấp hai ba lần. Công đi tới dùng sức mình và nâng tảng đá lên. Các phu vác trông thấy thảy đều hãi sợ và bội phục. Họ bảo: “Hòa thượng đúng là một vị Phật sống!” Tôn tượng vận chuyển về tới núi Kê Túc, các phu vác được thưởng hậu hĩnh và họ ra về.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

                 Hộ pháp mặc trợ dã

 

Dịch:

 

          Thần hộ pháp ngầm giúp sức

 

 

 

 

163.  PHÁP HỘI THỦY LỤC, RÁNG MÂY CẢM ỨNG ĐIỀM LÀNH

 

Năm mậu tuất, Công 79 tuổi. Đường Kế Nghiêu, vị tư lệnh quân đội tỉnh Vân Nam cung thỉnh Công về Côn Minh để lo tổ chức Phật sự. Công mang theo đệ tử Tu Viên. Giữa đường gặp cướp, nhưng rồi bọn cướp lại bị Công dùng lời thuyết phục.Về đến thành phố, Đường Kế Nghiêu thỉnh cầu Công giúp đỡ ba việc: (1) Lập một đàn tràng lớn, cầu Phật gia hộ đặng giải tiêu mọi tai nạn và siêu độ các vong linh; (2) Xây cất một đại tùng lâm để hoằng dương Phật pháp; (3) Lập một trường đại học từ thiện để giáo dục lớp thanh niên. Công cũng đưa ra ba điều kiện, cấm làm thịt gia súc, đại xá tội phạm và phát chẩn cứu tế. Tất cả mọi điều Công đưa ra đều được đáp ứng. Năm ất vị, Công 80 tuổi. Pháp hội khai mạc, các ngọn nến khi thắp lên thì hoa đèn rộ nở, tựa như những bông sen, ánh sáng mầu tỏa rực khắp nơi. Sau 49 ngày, pháp hội viên mãn, đến lễ tống thánh thì trên không trung hiện ra những ráng mây hình tràng phan và tàn lọng rực rỡ.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

         Cảm ứng nan tư

 

Dịch:

 

         Cảm ứng khó lường

 

 

 

164.   CẶP NGỖNG NIỆM PHẬT VÃNG SINH

 

Năm canh thân, Công 81 tuổi. Đường Kế Nghiêu mời Công về trú tại chùa Hoa Đình. Sau đó ít lâu, họ Đường đi Hương Cảng. Một hôm Trương Chuyết Tiên mang đến chùa Vân Thê[28] để phóng sinh một cặp ngỗng trống mái và nhờ Công thuyết giảng cho chúng được quy y. Hai con ngỗng cúi đầu xuống đứng lặng nghe. Giảng về giới xong thì thấy chúng có giáng điệu hoan hỷ. Từ đó, chúng đi theo mọi người lên chánh điện tụng kinh, đi nhiễu Phật, cứ như vậy trong ba năm. Đến ngày nọ, trước Phật, con ngỗng mái nhiễu Phật ba vòng, nó đứng thẳng người lên rồi tịch. Chẳng bao lâu sau, con trống cũng làm như vậy. Ngỗng chết rồi mà bộ lông của chúng vẫn thấy tươi tốt như lúc còn sống. Xác ngỗng được đặt trong một cái hòm nhỏ bằng gỗ rồi chôn xuống đất.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Nhất thiết chúng sinh hữu Phật tính

Bách thiên tam muội chứng bồ đề

Vạn vật nguyên lai bổn nhất thể

Tam giới vô tư nhiệm tự thích

 

Dịch:

Hết thảy chúng sanh có Phật tính

Trăm ngàn tam muội chứng bồ đề

Vạn vật vốn cùng chung một thể

Ba cõi đâu riêng mặc sức về

 

 

 

 

 

165.      CỨU CÔ GÁI VÀ HÓA ĐỘ HAI HỌ

 

Năm tân dậu, Công 82 tuổi. Cố Phẩm Trân là chủ nhiệm tỉnh Vân Nam. Năm đó trời làm lụt, rồi hạn hán, tiếp theo là nạn dịch với bệnh yết hầu lan tràn. Mọi công trình xây dựng phải đình hoãn lại. Một hôm Công đi về thành phố. Lúc trở về núi, nhân ngồi nghỉ bên gốc cây, Công lượm được một gói đồ và mở gói ra thì thấy bên trong có nữ trang gồm xuyến vàng, vòng ngọc, đồng hồ, với 8 ngàn tiền Vân Nam và hơn một vạn đồng tiền quan Pháp (francs). Tất cả đều được Công gói lại tính để chờ có dịp sẽ giao hoàn cho chủ. Trời đã gần tối, Công phải trở vê. Khi đến hồ thì trông thấy một cô gái nhẩy xuống nước, Công bèn cứu lên, hỏi han thì biết cô này họ Chu, bị gả cho ông họ Tôn, một cấp chỉ huy trong quân đội. Vì bị làm nhục, tức khí cô gái trốn đi nên sẩy ra sự việc như trên. Công hóa độ cho cả hai bên gia đình, đồng thời truyền giới quy y cho họ.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Thất kim dục tự sát

Cáp ngộ hoạt bồ tát

Chửng cứu ly khổ hải

Tôn Chu cộng hiến hoa

 

Dịch:

 

Mất của toan tự sát

Duyên may gặp bồ tát

Vớt người lìa bể khổ

Tôn Chu cùng dâng hoa

 

 

 

 

166.    LƯỢM ĐƯỢC VÀNG CỨU TẾ NẠN DÂN

 

Năm nhâm tuất, Công 83 tuổi. Chùa Hoa Đình bắt đầu công trình trùng tu. Năm xưa người con thứ của vua A Dục trông thấy một bầy chim phượng mầu xanh biếc nên đặt tên núi là Bích Kê sơn. Nay, ở đây thì lại đào được một tấm bia trên có khắc hai chữ “Vân Thê”. Trong khu rừng đàng sau chùa mọi người còn lượm được một bao, trong đựng vàng bạc và tiền, đáng giá trên hai mươi vạn đồng. Ý kiến chung muốn giữ số tiền đó cho chùa, nhưng Công thì chủ trương hiến cho nhà nước để dùng vào việc giúp đỡ cô nhi quả phụ và những nạn nhân cùng khổ trong nạn dịch vừa qua. Ai nấy đều tán đồng như vậy.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Lộ bất thập di cổ thánh thời

Tài đương nghĩa thủ tư nhân tri

Cơ cẩn bố thí năng tế chúng

Xả kỷ tòng thiện đại đức sư.

 

Dịch:

Chẳng nhặt của rơi thời thánh cổ

Được tiền phi nghĩa lẽ nào theo

Tiền mang bố thí khi dân đói

Vì thiện quên mình quả đức siêu

 

 

 

 

 

167.  LỄ CẦU TUYẾT CUỐI MÙA XUÂN TIÊU NẠN DỊCH YẾT HẦU

 

Mấy năm liền thiên tai hoành hành tại Vân Nam. Bệnh yết hầu phát tác dự dội. Luôn mấy tháng trời không mưa. Người chết vô kể trong số quan dân binh lính. Mọi người nhớ lại chánh sách nhân đức năm xưa của Đường Kế Nghiêu, do đó mới đồng lòng làm kiến nghị xin mời họ Đường trở về làm chủ nhiệm tỉnh Vân Nam. Họ Đường lên chùa xin Công lập đàn cầu mưa, nhờ vậy mà trời mưa lớn trong ba ngày, nhưng dịch yết hầu vẫn chưa lui, vì phải có tuyết xuống mới mong trị được bệnh này. Lúc đó đã là cuối xuân rồi, Đường Kế Nghiêu lại xin Công lập đàn cầu tuyết. Đàn được thiết lập. Sau đó tuyết đổ xuống dầy tới một thước (đơn vị cũ). Mọi người đều cho rằng Phật pháp quả là khó lường.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Mộ xuân thụy tuyết phân phân phiêu

Tiêu trừ hầu dịch cứu đồng bào

Đường công thiện chính thiên tâm chuyển

Trưởng lão từ nguyện Phật lực chiêu

 

Dịch:

 

Điềm vui mưa tuyết cuối mùa xuân

Dịch yết hầu tiêu cứu nạn dân

Thiện chánh họ Đường trời cảm ứng

Lòng từ trưởng lão Phật gia ân

 

 

 

 

 

168.  CHÙA  ĐI GẶT LÚA TRONG CẢNH HOANG VẮNG

 

Năm quý hợi, Công 84 tuổi. Trong thời kỳ này có một vài kỳ tích lạ. Có vụ hỏa thiêu xác một bà họ Lý và khi lửa đốt lên hóa thành hình bông sen. Trên ngôi mộ của ni sư Đạo Minh thì có tổ kiến đùn lên giống như hình một cái tháp. Thiền sư Cụ Hành, tự đốt mình hóa thân về Tây Phương. Năm giáp tý, Công 85 tuổi. Công tác tập trung vào việc tu sửa các chùa tháp. Năm ất sửu, Công 86 tuổi. Công truyền giới giảng kinh, tổ chức các khóa nhập thất dài hạn. Năm bính dần, Công 87 tuổi. Hồi này trong hạt Vân nam có nhiều cướp bóc, dân chúng lo sợ, lúa chín mà không dám đi gặt về. Công đứng xin với quân đội đừng ngăn trở để cho phép các tăng đi gặt lúa. Từ đó cả ngàn người kéo nhau đến chùa để có gạo ăn. Mới đầu ai nấy có cơm ăn, kế đến phải ăn cháo, rồi nước cám, sau chỉ còn nước uống đỡ đói v.v. Chùa và mọi người cùng cam chịu khổ với nhau. Thấy vậy dân chúng hết sức cảm động ! 

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Thủy tắc đồng thực phạn

Kế nhi ẩm chúc tương

Chung chí khang hòa thủy

Tăng tục cộng chưng thường

 

Dịch:

Mới đầu có gạo có cơm 

Sau đành húp cháo đỡ cơn đói lòng

Cuối cùng hòa cám nước trong

Tăng tục cam chịu cùng chung qua ngày.

 

 

 

 

169.  ĐIỀM LÀNH : HOA SEN NỞ Ở VƯỜN RAU VÀ TRÊN CÂY MAI

 

Thời gian Công trụ trì chùa Vân Thê, Ngài lo sắm sửa vật liệu, rồi kiếm nhân công giúp việc xây cất và chính Công cũng đích thân lao động như họ. Sau khi xây xong các phòng cho chư tăng thì mỗi năm đều có đàn truyền giới, giảng kinh sách và tọa thiền. Năm bính dần, đương trong kỳ truyền giới thì cây mai khô ở sân trước chánh điện bỗng nở ra mấy chục đóa hoa sen trắng, đồng thời các vườn rau trước và sau chùa cũng rộ nở hoa sen mầu xanh, trong hoa đều có hình hóa Phật, giống như trong kinh[29] nói:

 

Nay ta Lô Xá Na

Ngồi trên đài hoa sen

Ngàn bông sen vây quanh

Trên hiện ngàn Thích Ca

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Khô mai khai liên hoa

Chủ lâm thần trợ phát

Chư Phật lai gia hộ

Thiên diệp thiên Thích Ca

 

Dịch:

Mai khô nở liên hoa

Chúa rừng ra tay giúp

Chư Phật đều gia hộ

Ngàn cánh ngàn Thích Ca

 

 

 

 

170.     ĐI HƯƠNG CẢNG VÀ CỔ SƠN

 

Năm đinh mão, Công 88 tuổi. Có các công trình xây dựng như cất lầu chuông U Minh. Năm mậu thìn Công 89 tuổi. Để quyên tiền đúc tượng, Công cùng với cư sĩ Vương Cửu Linh đi Hương Cảng. Hồi đó chủ nhiệm tỉnh Quảng Đông là Trần Chân Như cho một phái viên đưa Công đến Quảng Châu. Công đi thăm núi Bạch Vân Sơn. Trần Chân Như muốn thỉnh Công về trụ trì chùa Nam Hoa đặng có thể chấn hưng lại đạo tràng Tào Khê, nhưng Công không nhận. Công đi Cổ Sơn, giảng kinh ở đây, sau đó thăm chùa A Dục bái xá lợi và kế đó đi triều bái Phổ Đà Sơn. 

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

Vị mộ thiện duyên thiệp sơn xuyên

Phổ linh đồng luân chủng phước điền

Hữu duyên tức tài vô lậu quả

Đương diện thố qua vạn kiếp nan

 

Dịch:

Khuyến khích chúng sinh gieo ruộng phước

Khắp nơi quyên góp vượt quan hà

Duyên may gieo được nhân vô lậu

Vạn kiếp uổng trôi dịp bỏ qua

 

 

 

 

171.    ĐẢM NHIỆM TRỤ TRÌ CHÙA DŨNG TUYỀN

 

Năm kỷ tỵ, Công 90 tuổi. Tháng giêng Công đi từ Thượng Hải về Cổ Sơn, lễ tháp của chư Tổ. Nhân dịp đó, chủ tịch tỉnh Phúc Kiến kiêm bộ trưởng hải quân là Dương Ấu Kinh (Thụ Trang) cùng vị cựu chủ tịch của tỉnh này là Phương Thanh Đào, cả hai dẫn một nhóm viên chức cùng các thân hào, cả tăng lẫn tục, với các cư sĩ hộ pháp đến để ngỏ lời giữ Công ở lại trụ trì tại Cổ Sơn. Nơi này vốn là chỗ Công xuống tóc xuất gia năm xưa, lại chạnh nhớ tới đức lớn của chư tổ, trước ơn nghĩa đó lòng Công cảm thấy khó thể từ chối trách nhiệm này. Công nhận lời để lo liệu công việc chấn hưng chùa.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Dũng Tuyền cổ sát Đường đại hưng

Cao tăng long tượng độ quần manh

Vân Công phi tích trú thạch cổ

Chỉnh đốn tông phong giáo hóa hành

 

Dịch:

Dũng Tuyền chùa cổ tự đời Đường

Lớp lớp cao tăng nối pháp đăng

Công dời trượng trụ hòn trống đá[30]

Chỉnh đốn tông phong pháp diễn dương

 

 

 

 

172.    HAI CÂY THIẾT THỤ NỞ HOA DƯỚI THỀM

 

Năm canh ngọ, Công 91 tuổi. Mọi sự được giải quyết xong xuôi ổn thỏa. Cứ đến xuân sang là kỳ truyền giới. Công mời hòa thượng Văn Chất làm yết ma. Trong khi Công thuyết giảng kinh Phạm Võng thì hai cây thiết thụ[31] trước thềm nhà phương trượng nở rộ các bông hoa. Theo truyền thuyết thì một cây là do chính tay Mân Vương trồng, còn cây kia do chính tổ Thánh Tiễn trồng và chúng là những loại cây tăng trưởng rất chậm, cả ngàn năm mới nở hoa một lần. Để ghi nhận điềm cát tường này, Công có bài kệ trong có câu “Ưu đàm chẳng phải hoa tầm thường v v. . .”

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Bồ tát diễn pháp chúng hộ trì

Phóng quang hiện thụy chính cập thì

Không trung truyền báo long thiên tán

Thiết thụ khai hoa thế hy kỳ

 

Dịch:

Bồ tát nói pháp chúng hộ trì

Điềm lành hiển hiện quả tức thì

Trên không loan báo trời rồng tán

Thiết thụ nở hoa chuyện hy kỳ

 

 

 

 

173.   TRỌNG GIỚI LUẬT MỞ HỌC VIỆN

 

Năm tân mùi, Công 92 tuổi, được mọi người xem như vì sao bắc đẩu trong Thiền tông. Ngài đề xướng pháp môn thượng thừa “Chẳng lập văn tự, truyền ngoài giáo lý, chỉ thẳng nhân tâm, thấy tánh thành phật và lấy tâm ấn tâm”. Ngoài ra, nhận thấy giới tăng già trong đời mạt pháp thường coi nhẹ về giới luật, do đó Công thành lập học viện giới luật nhằm giáo hóa lớp trẻ tuổi, nêu cao chánh pháp, rồi mới luật sư Từ Chu làm chủ giảng. Số tăng sĩ học viên lên tới sáu bẩy chục người.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Đề xướng mộc xoa tạo tăng tài

Thập phương học giả quy khứ lai

Chủ giảng luật sư ủy Từ lão

Đại xiển thi la kim cương giới

 

Dịch:

Mộc xoa đề xướng tạo tăng tài

Tìm học tới lui từ khắp nơi

Ủy nhiệm Từ công vai chủ giảng

Kim cương giới luật lại triển khai

 

 

 

 

174.   ÔNG LÃO THẦN LONG VƯƠNG THỌ GIỚI

 

Năm nhân thân, Công 93 tuổi. Giữa mùa truyền giới, xuân năm đó, có một ông già, tóc râu bạc trắng, diện mạo thanh tú, đi thẳng vào nhà phương trượng rồi quỳ xuống xin với Công để được thọ giới. Hỏi tên họ gì thì ông già trả lời là họ Dương, quê quán tại Nam Đài Kiều, tỉnh Phúc Kiến. Lúc ấy có một tăng, tên Diệu Tông mới thọ giới cũng vốn là người Nam Đài, nhưng sư Diệu lại không biết ông già đó là ai. Sau kỳ bồ tát giới thì không ai thấy ông lão nữa. Diệu Tông trở về Nam Đài và khi ghé qua miếu Long vương thấy diện mạo bức thần tượng giống hệt ông già thọ giới.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Long vương cầu giới hóa lão ông

Bồ tát giới tất vô ảnh tung

Diệu sư kinh quá Long thần trắc

Giới điệp đoan nhiên tại thủ trung.

 

Dịch:

Hóa lão ông Long vương cầu giới

Bồ tát giới xong thấy mất tăm

Long miếu sư Diệu ghé thăm

Giới điệp thần tượng còn cầm trong tay

 

 

 

 

 

175.  THỜI LOẠN VẪN ĐÓN NHẬN KHÁCH TĂNG

 

Năm quý dậu, Công 94 tuổi. Quân đội Nhật Bản chiếm đóng Sơn Hải Quan. Lòng dân hoang mang, quân lính tán loạn, tình trạng bất an lan tràn khắp mọi nơi. Lộ quân thứ 19 tại vùng Phúc Kiến nổi loạn khiến các chùa trong toàn tỉnh đều phải đóng cửa, không tiếp nhận khách tăng, duy còn chùa Cổ Sơn nơi Công Trụ trì thì vẫn đón nhận những vị từ đường biển ghé vào, do đó chư tăng từ khắp các ngả trên biển tụ tập tại Cổ Sơn lên tới khoảng một ngàn năm sáu trăm người. Kết quả là vấn đề lương thực rất thiếu thốn, nhưng mỗi ngày một người cũng được một bát cơm và một bát cháo.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Phật giáo kỷ nhiệm đảm Như Lai

Tăng già cơ khát thân thọ hoài

Hoạn nạn điên bái tất ư thị

Thế biến lưu ly cánh nghi tài

 

Dịch:

Dấn thân gánh vác việc Như Lai

Tăng chúng đói no dạ quan hoài

Hoạn nạn cam go là hẳn thế

Loạn ly càng rõ hạnh tu dầy

 

 

 

 

 

176.  BA LẦN BÁO MỘNG LỤC TỔ KÊU VỀ

 

Năm giáp tuất, Công 95 tuổi. Kỳ giới đàn mùa xuân, Công mời hòa thượng Ứng Từ giảng kinh Phạm Võng. Một đêm nọ, vào tháng hai, trong khi đương ngồi kiết già, như tuồng trong giấc mộng mà chẳng phải là mộng, Công thấy Lục Tổ đến nói với Công: “Đã tới lúc ông phải trở về”. Ngày hôm sau Công kể lại cho đệ tử là Quán Bổn nghe. Quán Bổn tìm lời an ủi Công. Đến tháng tư, có một đêm trong 3 lần chiêm bao, Lục Tổ lại về dục Công đi. Công rất lấy làm lạ. Chẳng bao lâu sau, chủ tịch tỉnh Quảng Đông là Lý Hán Hồn phái Ngô Chung Thạch và các nhân viên mang thư đến cung thỉnh. Công nhận lời.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Lục Tổ tam mộng thôi tốc hồi

Bách quan vạn dân nghinh pháp khu

Bảo Lâm đạo tràng trùng quang nhật

Khổ hạnh lão tăng khiêu thổ thời

 

Dịch:

 

Ba lần báo mộng Tổ kêu đi

Ngàn vạn quan dân đón pháp về

Tự viện Bảo Lâm ngày khởi sắc

Một phen khổ hạnh lại đến kỳ

 

 

 

 

177.    NGƯỜI THỌ GIỚI HỔ QUY Y

 

Đến mùa đông, các tín đồ hộ pháp một lòng cầu xin thọ giới. Nhận thấy nhà cửa hư hỏng, tường vách đổ nát, Công cho dựng phòng ốc bằng tre, dùng tranh lợp mái, tạm làm nơi trú ngụ cho đại chúng. Số quyến thuộc của các viên chức và thân hào trong tỉnh Quảng đông và Triều Châu đến tham dự khoảng mấy trăm người, họ mang theo cả lính đi bảo vệ. Số người quy y rất là đông. Trong đêm ngày 17 tháng 11, đương lúc thuyết giảng về bồ tát giới thì có một con hổ đến quy y. Mọi người đều kinh hoàng. Công giảng cho hổ nghe về giới quy y thì hổ liền khấu đầu ba lần, tỏ ra ngoan ngoãn. Công nói câu kệ sau :

 

Hổ thức quy y Phật

                                                Chánh tính vô lưỡng dạng

                                                Nhân tâm dữ thú tâm

                                                Đồng nhất quang minh tạng

 

Dịch:

                                                Hổ biết quy y Phật

                                                Tánh đúng là như vậy

                                                Tâm người cùng tâm thú

                                                Đều là quang minh tạng

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Thú vương lễ pháp vương

Quy y hộ giới đàn

Niên niên lai triều bái

Nguyệt nguyệt trì giới hương

 

Dịch:

 

Vua thú lạy vua pháp

Quy y hộ giới đàn

Hàng năm lại triều bái

Tháng tháng trì giới hương

 

 

 

 

 

178.   CÂY BÁ KHÔ HÂN HOAN NỞ LỘC

 

Năm ất hợi Công 96 tuổi. Xuân năm đó tướng Lý Hán Hồn đổi qua miền đông khiến cho việc trùng tu chùa thiếu người hỗ trợ. Sau kỳ truyền giới, đáp ứng lời mời của tổ chức Đông Hoa Tam Viện tại Hương Cảng, Công đến đây chủ trì khóa lễ siêu độ thủy lục rồi sau đó, Công ghé qua Cổ Sơn mời pháp sư Viên Anh đảm nhiệm chức vị trụ trì. Về lại Nam Hoa, Công tu bổ Tổ điện, Quan Âm đường và xây cất các phòng ốc để làm nơi trú ngụ. Qua tháng 11 thì ba cây bá (bách) đàng sau chùa, về phía bắc của đình Phục Hổ và phía nam của suối Trác Tích, trồng lên từ đời Tống, nguyên đã khô héo từ mấy trăm năm, nay bỗng mọc ra cành tươi mới.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Khô bá hân hân hựu hướng vinh

Sinh khí bột bột lạc ý nùng

Bút giả thân đổ tư kỳ tích

Chí đức cảm vật mị bất ứng

 

Dịch:

 

Già khô cây bá bỗng xanh tươi

Nhựa sống tràn dâng tỏ ý vui

Người viết đích thân xem tận mắt

Cỏ cây cũng cảm đức cao vời

 

 

 

 

 179.   CÁO TRẮNG QUY Y THỌ GIỚI

 

Năm bính tý, Công 97 tuổi. Mùa xuân là kỳ truyền giới. Sau đó là các cuộc viếng thăm của chủ tịch nhà nước Lâm Tử Siêu, viện trưởng Cư Chính và tướng Tưởng Giới Thạch. Các vị này tới thăm chùa và trợ giúp vào các công trình trùng tu. Hồi đó, đơn vị quân đội trú đóng tại Tào Khê là đoàn quân thứ 16. Lâm Quốc Canh, vị chỉ huy của đoàn quân, một hôm, mang đến chùa một con cáo lông trắng, để chùa phóng sanh. Sau khi giảng giới cho cáo quy y xong, Công cho mang cáo vào núi thả ra, nhưng nó không đi mà ở lại chùa như loài chó nuôi trong nhà vậy. Về sau, cáo bị xe cán, Công nói kệ để siêu độ cho cáo.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Bạch hồ quy y cánh linh thông

Tưởng công sậu chí viễn tương nghinh

Nhập trượng dẫn công xuất kiến khách

Bỉ thử ác thủ tiếu doanh doanh

 

Dịch:

Cáo trắng quy y chuyện dị kỳ

Chợt đâu tướng Tưởng viếng Tào Khê

Công ra tiếp khách từ xa đến

Cùng nắm tay nhau cười hả hê

 

 

 

 

 

180.  LẠT MA TÂY TẠNG QUY Y

 

Năm đinh sửu, Công 98 tuổi. Sau kỳ truyền giới mùa xuân, Công đi Quảng Châu giảng kinh do hội cư sĩ tại đây cung thỉnh. Hồi đó vì lòng ngưỡng mộ đạo đức của Công, nên có vị lạt ma Tây Tạng là Kim Cương thượng sư Vinh Tăng Kham Bố, cùng La Cách Cánh Tang, dẫn một số hơn 10 người Tây Tạng tới xin quy y với Ngài. Sau đó, một số tăng và các chúng hộ pháp ở Phật Sơn mời Công đến chủ trì lễ khai quang bảo tháp tại chùa Nhân Thọ. Xong việc, Công trở về Nam Hoa tiếp tục lo các công trình tu bổ tự viện.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Quảng khai pháp diên độ hàm thức

Đại xiển giáo nghĩa hóa manh xuy

Tây Tạng hoạt Phật lai quy kính

Đông Chấn tỳ kheo đệ nhất chi

 

Dịch:

 

Trải chiếu pháp sinh linh hóa độ

Nghĩa đạo mầu giảng dụ người si

Lạt ma Tây Tạng quy y

Tỳ kheo bậc nhất chỉ về miền Đông

 

 

 

 

181.  QUÁ NGỌ NHỊN ĂN NHẰM VIỆC CỨU TẾ

 

Năm mậu dần, Công 99 tuổi. Như thường lệ mùa xuân có kỳ truyền giới. Sau đó giảng kinh rồi Ngài đi Hương Cảng chủ trì pháp hội đại bi cho tới mùa thu mới trở về Nam Hoa. Năm ất mão, Công 100 tuổi. Vào mùa truyền giới thì chiến nạn lan rộng, số người thọ giới càng đông, từ các nơi đổ về. Công đề xướng hàng ngày bỏ ra 2 tiếng đồng hồ tụng sám hối, nhằm giải tiêu các tai kiếp và siêu độ các chiến sĩ trận vong trong cuộc chiến kháng Nhật, đồng thời ra lệ quá ngọ không ăn, bỏ bữa ăn chiều để dành một phần lương thực cống hiến nhà nước dùng vào việc cứu tế. Mọi người đều tán thành.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Từ thiện vi hoài chẩn tai dân

Tu Đạt trưởng giả cấp cô bần

Lão nhân phương ngoại niệm xích tử

Giảm thực tiết y cứu quần luân

 

Dịch:

 

Việc từ thiện một lòng cứu nạn

Tu Đạt Đa[32] xưa hẳn thế này

Thương dân đói khổ đó đây

Bớt ăn bớt mặc giúp ai khốn cùng.

 

 

 

 

 

182.  CỨU ĐÓI CHẲNG TÍCH LŨY TIỀN

 

Năm canh thìn, Công 101 tuổi. Thời gian sau kỳ truyền giới là lúc Quảng Châu bị chiếm đóng. Các cơ quan dân sự và quân đội phải di tản về Khúc Giang. Tăng già thập phương cũng đổ xô về, nên Ngài phải cho tu sửa lại chùa Đại Giám ở Khúc Giang, coi như một tu viện phụ thuộc của chùa Nam Hoa. Công cũng cho tu sửa lại cả chùa Nguyệt Hoa để có đủ chỗ cho mọi người.

Năm tân tỵ, Công 102 tuổi. Các công trình xây dựng hoàn thành rất mau chóng. Với số tiền thâu góp được khoảng trên hai chục vạn đồng, Công hiến cho chính phủ để gom vào quỹ cứu đói.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Đại địa chúng sinh hữu Phật tính

Đại đức cao tăng bồ tát tâm

Đại xả bố thí châu pháp giới

Đại hỷ tịch nhiên nhập định trung

 

Dịch:

 

Đại địa chúng sinh có Phật tính

Đại đức cao tăng tâm bồ tát

Đại xả bố thí trùm pháp giới

Đại hỷ tĩnh lặng vào trong định.

 

 

 

 

 

183. THẦN CÂY LONG NÃO XIN THỌ GIỚI

 

Năm nhâm ngọ, Công 103 tuổi. Mùa xuân vào kỳ truyền giới, có một thiện nam đến, tự xưng thuộc họ Trương, quán tại Khúc Giang, 34 tuổi và xin được thọ giới xuất gia. Khi được hỏi đã xuống tóc với vị thầy nào thì y nói không có thầy. Hỏi đã chuẩn bị y và bát của người xuất gia chưa thì trả lời rằng không có. Công ban cho pháp danh là Thường Nhục. Y tỏ vẻ trầm lặng, siêng năng và chu đáo. Khi ba giới đàn kết thúc viên mãn thì y đã biến mất. Qua năm sau, Công nằm mộng thấy y đến đòi tờ giới điệp, Ngài mới hay y là vị thần cây long não[33].

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Lão Chương cầu giới diệc kỳ duyên

Ký vô bát cụ thiểu sư phó

Công khai phương tiện tứ pháp hiệu

Tam đàn thọ tất cánh yểu nhiên

 

Dịch:

 

Họ Trương cầu giới lạ lùng thay

Chẳng bát chẳng y cũng chẳng thầy

Phương tiện tạm bầy ban pháp hiệu

Giới xong biến dạng chẳng ai hay.

 

  

 

 

184.  MÁY BAY ĐỊCH ĐỤNG NHAU BỐC CHÁY TIÊU

 

Mùa thu, Công cho tu sửa am Vô Tận. Một hôm 8 chiếc máy bay của quân địch đến bay lượn trên không nhiều vòng. Thời gian này đúng là lúc rất đông các yếu nhân trong chính phủ đến chùa, họp bàn chuyện quốc sách. Phi cơ tuần thám trên không, không chịu bay đi. Công ra lệnh tất cả các tăng chúng trở về phòng, đừng chạy đi đâu, còn riêng Ngài thì lên chánh điện, thắp hương rồi ngồi kiết già. Máy bay địch thả bom xuống. Bom rớt ngoài chùa, ở bờ sông trong khu rừng, còn máy bay thì có hai chiếc đụng nhau, bốc cháy tiêu tan. Từ đó về sau máy bay địch không tới nữa.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Địch cơ oanh tạc thế mãnh hung

Nam Hoa tự thượng thám quân tình

Phật lực hộ trì kinh vô hiểm

Toàn bằng lão tăng định hóa công

 

Dịch:

 

Máy bay oanh tạc thế dữ hung

Quanh chùa do thám lượn trên không

Kinh hoàng thoát hiểm nhờ ơn Phật

Toàn cậy công phu định của Công

 

 

 

 

185. ĐƯỢC BỒ TÁT VI ĐÀ BÁO MỘNG VÀ PHÁT TÂM

 

Đến tháng 11, chủ tịch Lâm Tử Siêu cùng các viên chức nhà nước phái các ông Khuất Ánh Quang và Trương Tử Liêm đến cung thỉnh Công đi Trùng Khánh để tổ chức pháp hội “cứu quốc tiêu tai”. Năm quý vị, Công 104 tuổi. Quan chức chính phủ lần lượt thiết tiệc trai mời Ngài. Tháng 3 thì Ngài trở về Nam Hoa. Hồi đó cư sĩ Trịnh Tử Gia, người Triều Châu đến chùa cho hay ông nguyên là một thương gia ở Hương Cảng. Khi quân Nhật chiếm đóng Cảng, ông thấy trong giấc mộng một võ sĩ mặc áo giáp vàng trỏ phương hướng cho ông trốn chạy, nay tới chùa Nam Hoa được trông thấy dung mạo bồ tát Vi Đà, ông mới biết đó chính là vị thần trỏ đường mà ông đã gặp trong giấc mộng.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Tử Gia mộng Vi Đà

Cảm ân dục báo đức

Thỉnh nguyện tu tự miếu

Thủ trợ hải hội xá

 

Dịch :

Tử Gia mộng Vi Đà

Cảm ơn muốn báo đức

Nguyện tu sửa chùa miếu

Cất ngay nhà hải hội

 

 

 

186.  RỒNG ĐEN QUY Y CHÁNH PHÁP

 

Năm giáp thân, Công 105 tuổi. Y sĩ Tạ Song Hồ ở tỉnh Giang Tây có dẫn một ni cô, pháp danh Tuệ Diễn, mới xuất gia, đến xin Ngài cho thọ giới. Một hôm, đương lúc quá đường nhiễu Phật, sư cô hốt nhiên ngất xỉu, chốc lát sau mới tỉnh dậy. Khi ba đàn truyền giới kết thúc, sư cô Tuệ Diễn mới quỳ xuống bạch với Ngài sự việc cô thường bị quỷ hắc long ám. Nay cô được truyền giới, con quỷ rồng đen đó không dám tới kề cận với cô nữa và nó cũng muốn xin được thọ u minh giới đặng cải tà quy chánh. Con quỷ bèn mượn thân của ni cô rồi vẽ ra hình một con rồng đen, đầu là đầu rồng, thân là thân người. Ni cô Tuệ Diễn cầm tấm hình đó lên để xin thọ giới. Ngài chấp thuận.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Hắc long tác trúy loạn nữ trinh

Tuy nhiên xuất gia nhưng cựu xâm

Nam Hoa thọ giới kỳ thánh giả

Nhất đồng thọ giới viễn ly thân

 

Dịch:

 

Con quỷ rồng đen ám gái trinh

Đi tu quỷ vẫn đeo bên mình

Nam Hoa cầu giới nơi chân thánh

Cùng thọ giới xong quỷ dứt tình

 

 

 

 

187.  ONG NÚI KÉO VỀ THỔ PHỈ ĐẾN

 

Mùa hè chùa Nam Hoa mở pháp hội thủy lục. Trước đó một tháng, có một loại ong rất lớn cỡ bằng ngón tay cái, kéo về nhiều vô số, làm tổ ở hai hành lang của pháp đường. Công trình xây tổ của chúng quả là khéo léo. Công cùng ông Sầm Học Lữ và một số cư sĩ có đến xem. Ngài bảo loại ong đầu người này rất hiếm thấy, nếu xuất hiện thì sẽ có sự chẳng lành. Đến tháng 11, quân Nhật chiếm Triều Châu, rồi bọn thổ phỉ lại tới chùa ăn cướp. Khoảng nửa giờ sau khi chúng bỏ đi, thì có người của Công phái đến rước cư sĩ Sầm Học Lữ về chùa Vân Môn. Điều này cho thấy dự báo của Công thật là kỳ diệu!

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Sơn phong kết sào thổ phỉ lai

Tứ phương phong động loạn thế thái

Dự ngôn tiên triệu ngữ quả trúng

Đãi chí hữu sự tiếp nhĩ hồi

 

Dịch:

 

Ong rừng làm tổ cướp kèm theo

Ong dậy bốn phương biến loạn nhiều

Quả đúng như lời từng dự báo

Tới ngày ắt rước chẳng chờ lâu.

 

 

 

 

188.  DÂN LÁNH NẠN, THỢ KHÔNG LẤY TIỀN CÔNG

 

Năm ất dậu, Công 106 tuổi. Miền bắc tỉnh Quảng Đông bị quân Nhật chiếm đóng. Dân lánh nạn đến chùa rất đông. Mới đầu còn được ăn cháo gạo, sau thì chỉ còn ăn bột khoai. Trong cảnh binh loạn khó khăn trăm bề, vào khoảng năm dân quốc thứ 32, tướng Lý Hán Hồn cùng các vị hộ tống Ngài di chuyển về chùa Đại Giác, núi Vân Môn. Trước cảnh tượng hoang phế nơi đây, mặc dầu thời cuộc loạn ly, Công vẫn bắt tay vào các công trình tu sửa, đặng trùng hưng lại tự viện. Những toán thợ tham gia, làm hồ, làm mộc, làm gạch ngói v.v. tạm thời góp sức mà không lấy tiền công lao.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Ly loạn hưng công bội gian cự

Cánh gia nạn dân tăng phụ đảm

Nguyện đồng cam khổ dữ hoạn nạn

Tái kỳ công giả bất chi tiền

 

Dịch:

 

Khởi công thời loạn bội gian nan

Còn phải cưu mang số nạn dân

Cam khổ nguyện cùng trong hoạn nạn

Lạ kỳ công thợ miễn chi tiền

 

 

 

 

189.  CÂY ĐÀO CHÙA LỤC DUNG BIỂU HIỆN ĐIỀM LÀNH

 

Năm bính tuất, Công 107. Đệ nhị thế chiến kết thúc. Tại các tỉnh, các công chức trở về làm việc như xưa. Như thường lệ, chùa Nam Hoa mở đàn truyền giới và giảng kinh. Chính phủ gửi thông tư kêu gọi các chùa trong toàn quốc tụng kinh siêu độ cho các chiến sĩ trận vong. Vân Công đi Quảng Châu thể theo sự cung thỉnh của các quan chức và thân hào tại nơi đây, để chủ trì đàn cầu siêu tại chùa Tịnh Tuệ (tức chùa Lục Dung). Vào ngày 17 tháng 9, cây đào của chùa rộ nở hoa, phô mầu sắc xán lạn chưa từng có. Trên một vạn người chiêm ngưỡng.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Hữu tình vô tình giai tùy hỷ

Thiện nhân ác nhân tận tham quan

Phi đào cửu nguyệt phóng hoa nhụy

Long Hoa tam hội nguyện tương phùng.

 

Dịch:

 

Hữu tình vô tình đều tùy hỷ

Người lành kẻ ác đến xem chung

Hoa đào tháng chín phô mầu sắc

Ba hội Long Hoa nguyện trùng phùng

 

 

 

 

190. TỪ XA VẠN DẶM HÒA THƯỢNG AN TỪ ĐI GẶP VÂN CÔNG

 

Năm đinh hợi, Công 108 tuổi. Ngài về chùa Nam Hoa truyền giới, giảng kinh, sau đó đi Hương Cảng, Áo Môn, Trung Sơn, Thạch Kỳ và một vài nơi khác để chủ trì các pháp hội. Năm mậu tý, Công 109 tuổi. Từ Song Thành, đường xa vạn dặm, hòa thượng An Từ, pháp danh là Độ Luân, đi đến gặp Vân Công. Qua lời trao đổi, Ngài biết vị khách tăng là một pháp khí, bèn ấn chứng công phu, truyền lại pháp mầu tâm ấn, đồng thời giao phó trọng trách chủ nhiệm Giới Học Viện, chờ một ngày nào cơ duyến đến.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Công kiến ngã ngôn như thị

Ngã kiến Vân Công chứng như thị

Vân Công dữ ngã giai như thị

Phổ nguyện chúng sinh diệc như thị

 

Dịch:

 

Thấy ta Công nói như vậy

Ta thấy Công chứng như vậy

Vân Công với ta đều như vậy

Nguyện mọi chúng sinh cũng như vậy.

 

 

 

 

 

191. CƯ SĨ JENNINGS QUY Y

 

Sau kỳ truyền giới mùa xuân, Vân Công đi hoằng pháp tại Quảng Châu và Hương Cảng. Đến mùa đông có một nữ cư sĩ người Mỹ là Ananda Jennings, đi máy bay từ Mỹ qua, muốn tìm ấn chứng về đạo. Cha nữ cư sĩ vốn là một linh mục Thiên Chúa giáo, chồng cũng là một giáo đồ, riêng bà thì tự mình nghiên cứu về thần học, đã từ 20 năm. Nhận thấy Thiên Chúa giáo chưa tới được chỗ rốt ráo, bà đổi qua tu theo đạo Phật. Tại Ấn Độ, bà đóng cửa ẩn tu trong vòng 4 năm và tự cảm thấy được khai ngộ. Trước công hạnh về thiền của Vân Công, bà đem lòng kính ngưỡng nên bà tìm đến Nam Hoa, xin quy y và được ban cho pháp danh là Khoan Hoằng. Sau khóa tu thiền, Vân Công đứng cùng với bà Jennings và thiền sư Độ Luân chụp hình làm kỷ niệm.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Đệ tử mãn đại thiên

Hằng sa số bất hoàn

Kim cử Chiêm Ninh sĩ

Lược dĩ biểu nhất đoan

 

Dịch:

 

Đệ tử khắp đại thiên

Nhiều hơn cát sông Hằng

Kể về chuyện Chiêm Ninh

Lược cử một trường hợp

 

 

 

 

192.  CỨU NẠN TĂNG GIÀ TRONG TINH THẦN VÔ ÚY

 

Năm kỷ sửu, Công 110 tuổi. Mùa xuân, truyền giới xong, Công trở về chùa Vân Môn. Tại đây Ngài cho tiến hành một công trình tô tượng để trang nghiêm toàn bộ các điện thờ, tổng cộng được trên 80 pho tôn tượng. Ngài đi Hương Cảng giảng kinh. Một hôm, trong buổi đàm đạo, cư sĩ Sầm Học Lữ hỏi Ngài ở đâu có được sự an ổn trước thế cuộc đổi mới này. Ngài bảo: “Đối với người học đạo thì chỗ nào cũng là quê hương. Buông bỏ hết mọi thứ thì ngay đó là đạo tràng. Cư sĩ cứ an tâm đi!”. Họ Sầm giữ Công ở lại Hương Cảng để hoằng pháp nhưng Ngài trả lời rằng việc đó đã có người đảm nhiệm. Ngài còn lo việc hỗ trợ cho giới tăng già, kể tới hàng vạn người đương ở tại đại lục.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Duy hộ giáo nạn cứu tăng già

Thệ báo Phật ân phó thang hỏa

Vô úy tinh thần phấn tam muội

Hữu vi hạnh nguyện việt vạn kiếp

 

Dịch:

Cứu vãn tăng già khi pháp nạn

Vào lửa đền ơn Phật cũng cam

Tinh thần vô úy nung định lực

Hạnh nguyện rải xa muôn kiếp sau

 

 

 

 

 

193. Biến cố Vân Môn chịu cực hình

 

Năm canh dần, Vân công 111 tuổi. Ngài vẫn đi Nam Hoa để làm lễ truyền giới, sau đó mới trở về Vân Môn. Tại thiền đường, khóa thiền hoạt động có tính cách trường kỳ. Có người đã được khai ngộ. Năm sau, tân mão, Công 112 tuổi. Mùa xuân, đương trong kỳ truyền giới thì đột ngột biến cố sẩy ra. Ngày 24 tháng 2 âm lịch bỗng thấy có hơn một trăm người mang vũ khí đến bao vây chùa. Họ gom các tăng lại, nhốt tất cả trong thiền đường và không cho một ai được tự do đi lại, đồng thời giam giữ Công trong thất của Ngài, không cho ăn uống, cấm cả việc đại tiểu tiện, thẳng tay tra khảo. Bọn họ mặc sức lục lọi, đào xới hết mọi nơi, chửi bới và đánh đập mọi người.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Khảo đả sách kim tiền

Chúng tăng bất tri vân

Độc bách tăng trung thụy

Huyết lưu lặc đoạn căn.

 

Dịch:

Tra khảo đòi tiền bạc

Chúng tăng biết nói chi

Bức hại vị đức tăng

Máu chảy xương sườn gãy

 

 

 

 

 

194. GẶP ĐỨC TỪ THỊ LẠI TRỞ VỀ

 

Đến ngày mồng 3 tháng 3 thì thương thế của Công trở nên trầm trọng. Ngài ngồi như khi tọa thiền, nhưng mắt chẳng nhìn, miệng chẳng nói, không ăn, không uống. Các thị giả Pháp Vân và Khoan Thuần luôn ở bên cạnh. Số người lạ kia thì ra sức hành hạ Công, chân đạp, tay thì dùng roi đánh, mặc cho chí mạng. Đến ngày 11, Ngài ngả xuống nằm theo thế “cát tường”, hơi thở không còn nữa và mạch thì dừng lại, nhưng thân thể còn ấm áp. Ngày 12, Công lại hồi sinh và kể lại rằng trong giấc mộng Ngài đã lên nội viện cung trời Đâu Xuất. Nơi đó được trang nghiêm rất mực hoa lệ, thế gian không thể sánh kịp. Ngài thấy bồ tát Di Lặc ngồi trên tòa thuyết pháp, rồi lại thấy cả các ngài Chí Thiện, Tử Bá v.v. Ngài A-Nan thì giữ vai duy na, còn Công ngồi ở vị trí thứ 3.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Duy tâm thức định pháp

Từ Thị thân khẩu tuyên

Nghiệp duyên tạm hồi khứ

Sự cánh tái phục hoàn

 

Dịch:

Trong định pháp duy thức

Đức Từ Thị miệng truyền

Nghiệp duyên hãy tạm lui

Xong việc lại trở về

 

 

 

 

 

195. MỞ CUỘC ĐIỀU TRA VÀ CÙNG NHAU ĐI CHẶT CỦI

 

Đến giai đoạn này, các tăng chúng vẫn không được tự do, thậm chí ăn cơm cũng có kẻ canh gác. Qua tháng 5, tin tức về biến cố lan truyền đến Bắc Kinh và nhà đương cuộc phái về chùa một ủy ban điều tra gồm các ủy viên thuộc trung ương và cấp tỉnh. Khi hỏi đến Vân Công thì ngài đáp chẳng có chuyện gì. Ngài chỉ nói là tai bị điếc và mắt thì mờ.

Tai biến của chùa Vân Môn chấm dứt nhưng lương thực thì cạn hết. Ngài bảo với mọi người rằng :“Nghiệp nặng của ta mà lụy đến đại chúng, phải chịu khổ cực, thiếu ăn. Các vị ở lại hay đi nơi khác thì cứ tự nhiên.” Ngài nói như vậy mà không ai chịu bỏ đi, rồi tất cả cùng nhau đi chặt củi để bán lấy tiền mua gạo nấu cháo cùng ăn. Công khóa tu tập vẫn như thường lệ.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Đăng sơn trảm sài tân

Phó thị hoán bạch mễ

Ký vô nỉ ngã tha

Hòa hợp chân nhất thể.

 

Dịch:

Lên  núi cùng chặt củi

Gánh ra chợ đổi gạo

Chẳng ta, người, ai khác

Hòa hợp chung một thể

 

 

 

196. TỪ VÂN MÔN ĐI BẮC KINH

 

Năm nhâm thìn, Công 113 tuổi. Thương thế và bệnh tình của Ngài thuyên giảm ít nhiều. Ngài hướng dẫn đại chúng thiền tập và tu đạo, đồng thời chỉnh đốn dọn dẹp lại sau vụ tàn phá. Từ tháng giêng đến tháng ba năm ấy, liên tiếp 4 lần Công nhận được điện tín mời Ngài đi Bắc Kinh. Các nhân viện được phái đến để hộ tống. Ngài bảo với các đệ tử rằng : “Đã đến lúc ta phải đi để cứu vãn pháp nạn.” Nhân dịp Ngài viết mấy câu thơ như sau:

 

Ngọa duyệt ngũ đế tứ trào

Bất giác thương tang kỷ độ

Thọ tận cửu ma thập nạn

Liễu tri thế sự vô thường

 

Dịch:

Trải qua năm đế với bốn trào

Bao độ đổi thay biển hóa dâu

                        Nạn nọ tai kia thân thọ lãnh

                        Vô thường sự thế nghĩa thâm sâu

 

Ngày mồng bốn tháng tư Ngài cùng bốn thị giả lên đường đi Bắc Kinh.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

Công nguyện phó Bắc Bình

Vãn giáo cứu ni tăng

Thập phương đại đoàn kết

Nhất trí lực thực hành

 

Dịch:

Công nguyện đi Bắc Kinh

Cứu pháp nạn cứu tăng

Mười phương cùng đoàn kết

Một lòng góp sức chung

 

 

 

 

197. HƯỚNG DẪN KHÓA TU QUAN ÂM TẠI CHÙA TAM PHẬT

 

Khi Vân Công gần tới Thiều Châu thì đã thấy trên một ngàn thiện nam tín nữ nghinh đón Ngài từ đàng xa cả mười dặm đường. Công trú tại chùa Đại Giám. Các tín đồ đến đãnh lễ rất đông, nghẹt các đường lộ. Ngày mồng 10, Ngài đáp xe lửa Việt Hán hướng về bắc. Đến Vũ Xương thì trú tại chùa Tam Phật. Lúc ấy các vết thương lại phát đau. Cư sĩ Trần Chân Như chăm lo thuốc thang cứu chữa và thương thế Công có phần thuyên giảm. Hòa thượng Ứng Hâm bèn thỉnh Công hướng dẫn khóa Quan Âm. Có hơn hai ngàn người quy y. Khi pháp sự xong, mặc dầu vết thương chưa lành hẳn, Ngài lại tiếp tục lên đường đi Bắc Kinh. Đại chúng mời Ngài cùng chụp hình chung để làm kỷ niệm.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Lão bệnh bạt thiệp vị chúng mang

Tráng chí hạo nhiên lăng tiêu nhưỡng

Đồ kinh Tam Phật lưu đạo ảnh

Đan tâm nhất điểm báo Pháp vương.

 

Dịch:

Lặn lội thân già bệnh trọng mang

Vì ai dũng khí ngất trời xanh

Dừng chân Tam Phật lưu đạo ảnh

Một tấc lòng son báo Pháp vương

 

 

 

 

198. ĐẾN KINH THÀNH TRÚ TẠI CHÙA QUẢNG TẾ

 

Vân Công vịnh bài thơ như sau:

 

Nghiệp phong xuy tống đáo Vũ Xương

Lão bệnh trì khu lụy chúng mang

Tam nguyệt yêm lưu Tam Phật tự

Nhất trường tai nạn nhất tàm hoàng

Vô tâm dục khóa lâu đầu hạc

Hữu nguyện đồng đăng tuyển Phật trường

Thượng tưởng ngọc tuyền Quan Tráng Mậu

Năng ư ngôn hạ ngộ chân thường.

 

                         Dịch:

 

Nghiệp duyên đưa đẩy tới Vũ Xương         

Già bệnh lụy người chạy thuốc thang

Ba tháng im hơi Tam Phật tự

Một phen tai nạn luống bàng hoàng

Lòng nào mong cưỡi trên lưng hạc

Vốn nguyện cùng lên tuyển Phật trường

Tưởng đến Ngọc Tuyền[34] Quan Tráng Mậu[35]

 Ngay lời vừa thốt ngộ chân thường.

 

Ngày 28 tháng 7 Ngài đáp xe lửa Kinh-Hán, từ Hán Khẩu đi Bắc Kinh. Khi đến Kinh thành, Ngài được mọi người tiếp đón, gồm các vị trưởng lão các chùa, rồi các đoàn thể cùng các vị như Lý Nhiệm Triều, Diệp Thoái Am v.v. Ngài trú tại chùa Quảng Hóa, về sau mới đổi về chùa Quảng Tế.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Mạt pháp nhân tâm nguy

Thánh tăng đạo tâm vi

Thiên cổ thùy công huân

Vạn thế ngưỡng quang huy.

 

Dịch:

Thời mạt pháp nhân tâm nguy

Thánh tăng ít đạo tâm suy

Ngàn năm gương công đức

Vạn thế ngưỡng quang huy.

 

 

199. NHẬN SỰ CÚNG DÀNG BA VẬT QUÝ VỚI TƯ CÁCH ĐẠI DIỆN PHẬT GIÁO TOÀN QUỐC

 

Do pháp sư Viên Anh cùng một số các vị khác khởi xướng tại chùa Quảng Tế, Ngài thành lập Hiệp Hội Phật Giáo Trung quốc. Được mọi người đề cử làm hội trưởng, nhưng với lý do già và bệnh, Ngài suy từ mà chỉ nhận chức hội trưởng danh dự mà thôi. Hiệp hội thỉnh nguyện với nhà đương cuộc các điều sau :

  1. Nghiêm cấm việc phá chùa, hủy tượng và đốt kinh tại bất cứ tại địa phương nào.

  2. Không được bắt các tăng ni hoàn tục.

  3. Ruộng đất sỡ hữu của chùa sau ngày bị quốc hữu hóa sẽ được giao hoàn lại phần nào cho tăng ni canh tác làm phương tiện tự túc.

Thỉnh nguyện trên được chấp thuận.

Ngài nhân danh đại diện cho Phật giáo toàn quốc thâu nhận ba món báu vật do nước Tích Lan gửi tặng.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Phật đà xá lợi tử

Bối diệp đạt ma kinh

Bồ đề đạo bảo thụ

Ngã sư thân thủ nghinh.

 

Dịch:

Trân quý xá lợi Phật

Kinh viết trên lá bối

Cây bồ đề đạo quả

Vân Công Ngài thọ nhận.

 

 

 

 

200. PHÁP HỘI LỚN CHO THẾ GIỚI HÒA BÌNH

 

Đến tháng 10, dân chúng Thượng Hải bầy tỏ ý muốn lập một pháp hội để cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Họ thương nghị với nhau đề cử cư sĩ Phương Tử Phan cùng một số người tới Bắc Kinh cung thỉnh Ngài về chủ trì pháp hội. Ngày 11 tháng 12, Ngài đến Thượng Hải giữa rừng hoa và cờ của trên một ngàn người đi nghênh rước. Tính theo âm lịch thì pháp hội khởi đầu vào ngày 26 tháng 10. Phụ giúp trong pháp hội thủy lục có các hòa thượng Ứng Từ, Tĩnh Quyền bên cạnh 10 vị đại đức cùng với 72 vị tăng khác. Pháp hội kéo dài đến ngày 14 tháng 12 âm lịch mới hoàn mãn với sự tham dự lũ lượt của các thiện tín.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Pháp hội kỳ cầu thế hòa bình

Đạo tràng thù thắng các an ninh

Tiêu tai miễn kiếp di lệ khí

Tăng phúc diên thọ giáng cát tinh

 

Dịch:

Nguyện cầu thế giới hòa bình

Đạo tràng thù thắng an ninh mọi loài

Miễn trừ kiếp nạn tiêu tai

Điềm lành phước thọ cả hai dồi dào.

 

 

 

 

 

201.TỊNH TÀI QUY Y CÚNG DƯỜNG CHƯ TĂNG VÀ CÁC ĐẠO TRÀNG CỔ

 

Trong suốt thời gian pháp hội có trên bốn chục ngàn người đến quy y. Họ đến từ các tỉnh trên toàn quốc, có khi đi xa cả ngàn dặm đường. Có tất cả 10 địa điểm để tiếp nhận người đến xin quy y, chia thành các ban ghi danh và cấp phát giấy chứng nhận. Tịnh tài thâu được đều giao hết lại cho ban tổ chức pháp hội, còn Ngài thì không nhận một đồng nào. Số

 tiền đó dùng để phân phát cho tất cả mọi nơi, như tứ đại danh sơn thì có Phổ Đà Sơn, Ngũ Đài Sơn, Cửu Hoa Sơn và Nga Mi Sơn. Như bát danh sát- tám đạo tràng cổ - kể ra là Thiên Đồng, Dục Vương, Cao Mân, Linh Nham, Dũng Tuyền, Quán Tông, Thất Tháp, Địa Tạng.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Bác thi năng tế chúng

Khổng viết duy thánh đương

Cung dưỡng cổ danh sát

Công đức vĩnh lưu phương

 

Dịch:

 

Thi ân rộng khắp cứu dân đông[36]

Khổng Tử nói ấy là bậc thánh

Cúng dường đạo tràng cổ

Công đức mãi tiếng thơm

 

 

 

202. CÁC PHÁP HỘI CỬ HÀNH LIÊN TIẾP TẠI TÔ CHÂU VÀ HÀNG CHÂU

 

Năm quý tỵ Công 114 tuổi. Ngày mồng 9 tháng giêng, tại chùa Ngọc Phật Ngài cho mở khóa thiền kéo dài trong hai thất (14 ngày). Khi thiền thất kết thúc, đoàn thể Phật giáo tại Hàng Châu phái Đỗ Vĩ tới thỉnh Ngài về nơi đây để chủ trì pháp hội. Ngài trú tại chùa Tĩnh Từ. Mấy ngàn người tới xin quy y. Kế đó Ngài đi Tô Châu cũng làm chủ pháp hội chiếu theo lời mời của hòa thượng Diệu Chân. Sau ngày pháp hội, Ngài viếng Hổ Khâu lễ bái tháp của tổ Thiệu Long. Trông thấy quang cảnh điêu tàn, Ngài lại khởi phát việc trùng tu tháp để nơi này trở lại cương vị danh thắng như xưa.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Phó Hàng sự tất chí Cô Tô

Pháp hội trùng trùng bất tu hưu

Hổ Khâu tái lễ Thiệu Tổ tháp

Hủy nhi phục hưng tự thiên thu

 

Dịch:

Hàng Châu xong việc đến Cô Tô

Pháp hội liên miên chẳng nghỉ ngơi

Tháp Tổ Thiệu Long thân lễ bái

Phế tàn lại dựng để ngàn thu

 

 

 

 

203. THAM BÁI TƯỢNG PHẬT BẰNG ĐÁ TẠI VÂN CƯƠNG

 

Thể theo lời mời của pháp sư Nam Thông, Ngài đến chùa Lương Sơn chủ trì pháp hội. Hàng ngàn người từ các nơi đến xin quy y. Tháng 3 Ngài trở về Thượng Hải và đến tháng 4 thì có điện mời Ngài đi Bắc Kinh. Ngài lại trú tại chùa Quảng Tế. Đại biểu Phật giáo các nơi về kinh tập họp và Hiệp Hội Phật Giáo Trung Quốc chính thức được thành lập. Đại hội đồng nhóm họp đề ra những nghị quyết trọng yếu và sau khi kết thúc Ngài đến Đại Đồng thuộc tỉnh Sơn Tây để triều bái tượng Phật bằng đá tại hang Vân Cương, một kỳ quan vĩ đại về nghệ thuật điêu khắc. 

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa

 

Nghệ thuật tinh điêu Vân Cương Phật

Cử thế giai xưng vĩ đại tác

Ngã sư tối hậu vưu triều lễ

Suất thân thùy phạm vật không qua

 

Dịch:

Phật đá Vân Cương nghệ thuật tinh

Tán xưng vĩ đại chẳng ngoa danh

Tôn sư lại quyết thân triều bái

Gặp dịp nêu gương tự chính mình

 

 

 

 

204. TRÙNG TU NGÔI CHÙA CỔ ĐỂ TƯỞNG NIỆM CÔNG ĐỨC CỦA TỔ SƯ

 

Ngài rời khỏi kinh đô đi Vũ Xương. Pháp sư Thuận Thành mời Ngài chủ trì hai kỳ thiền thất tại chùa Bảo Thông. Sau đó Ngài lên núi Lư Sơn trú tại chùa Đông Lâm. Đến tháng 6 một nhóm thiền tăng đi từ Vĩnh Tu, núi Vân Cư tìm đến Ngài tham bái, có kể lại rằng trong thời gian quân Nhật chiếm đóng, chùa Chân Như đã bị họ thiêu rụi, chỉ còn lại Phật Tỳ-lô-giá-na. Nay thì tôn tượng đồng đó vẫn còn trơ trơ, ngự tọa giữa cảnh hoang tàn cỏ dại. Ngài buồn nhớ tới công lao khai sáng của tổ Đạo Dung vào năm Nguyên Hòa đời Đường, rồi từ đó biết bao anh kiệt xuất hiện. Ngài thấy trùng tu là lẽ đương nhiên.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa

 

Vân Cư Chân Như Vân Công cư

Từ bi tam muội từ mẫu bi

Tổ sư đạo tràng thệ trùng kiến

Bồ tát hạnh nguyện vô dĩ thời

 

Dịch:

 

Vân Công ở Vân Cư Chân Như

Từ bi tam muội từ mẫu bi

Chùa cổ Tổ xưa thề dựng lại

Hạnh nguyện bồ tát chẳng biến suy.

 

 

  

 

205. NÚI VÂN CƯ KẾT LỀU CỎ CƯ TRÚ

 

Ngày mồng 5 tháng 7 Vân Công lên núi Vân Cư, trú ngụ trong một gian chuồng bò. Khoảng tháng 9 một số đệ tử của Ngài từ Quảng Châu tìm đến, rồi kể cả các vị xuất gia từ mọi nơi đến nữa, tính khoảng trên năm chục người. Đến tháng 10, do tin tức truyền lan rộng, giới tăng già mười phương kéo đến, mỗi ngày một đông. Hai bữa ăn mỗi ngày và cũng may mắn là có cư sĩ Giản Ngọc Giai cung phụng. Năm giáp ngọ, Vân Công 105 tuổi. Ngài cho xây cất một số gian phòng cho các tăng cư trú, dựng pháp đường, chánh điện v.v…Tháng 11, chuồng bò bị cháy, Ngài phải làm một mái bằng cỏ để che rồi Ngài vẫn trú ở đấy. Thiền thất bắt đầu.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Kết mao an cư tâm địa quảng

Cổ thạch phu tọa tánh thiên khoan

Vân Công chí thử toàn phóng hạ

Bất hưu hưu thời diệc hưu hưu.

 

Dịch:

 

An cư lều cỏ tâm trùm khắp

Tĩnh tọa núi xưa tánh bao la

Vân Công tới lúc lòng rũ sạch

Chẳng nghỉ ngơi mà vẫn nghỉ ngơi

 

 

 

 

 

 

206. THỊ HIỆN ĐAU BỆNH NẰM THẾ CÁT TƯỜNG

 

Năm ất vị Vân Công 116 tuổi. Năm đó chùa xây thêm được nhà bếp Hương Tích và Ngũ Quán đường và một kỳ thiền thất được tổ chức. Năm bính thân, Công 117 tuổi. Tính nhắn tin cho người biên soạn tập sách đến Vân Cư nhưng thư thì chưa gửi được. Chánh điện và Thiên Vương điện và một số công trình khác được xây cất thêm. Pháp sư Hải Đăng được mời làm trụ trì. Vân Công giảng kinh và chủ trì hai kỳ thiền thất. Năm đinh dậu, Ngài 118 tuổi. Các điện đường khác được hoàn tất và hơn một trăm tôn tượng cũng được tô xong. Ngài giảng kinh và cho mở ba kỳ thiền thất. Số tăng sĩ cư trú trên hai trăm vị. Năm mậu tý, Ngài 119 tuổi. Cư sĩ Chiêm Lệ Ngô giúp sức kiến tạo tháp Hải Hội. Năm kỷ hợi Ngài 120 tuổi. Đến hạ và thu thì Ngài nhuốm bệnh kịch liệt.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

Hóa cánh phóng hạ quy khứ lai

 

Dịch:

Việc giáo hóa đã buông rồi! Ngài ra đi..

 

 

 

 

207. ĐẠI BÁT NIẾT BÀN CHỨNG VÔ SANH

 

Ngày 12 tháng 9 âm lịch, biết trước thời khắc lúc ra đi, Vân Công giối giăng lại, dặn dò các đệ tử đời sau phải ráng sức tinh tấn, siêng năng tu giới định tuệ, diệt tắt tham sân si, vì pháp quên thân mình và luôn sống trong tình thương kính nhau. Ngài nói bài kệ như sau:

 

“Tôm chẳng xuống nước vì thương mạng kiến

Ta muốn thả sông vui lòng thủy tộc

Làm mồi cho họ xin hiến thân này

Để độ chúng sanh cùng chứng bồ đề

 

Xin các bạn đạo

Chớ có ưu sầu

Sanh tử theo nghiệp

Như tầm làm kén

Tham mê chẳng dừng

Vui buồn tự trói

Muốn giải nạn này

Gắng công tu tập

Khéo đạt vô sanh

Sáng rõ tâm địa

Dứt tình oán ghét

Thoát hiểm luân hồi

Tu ba học tịnh

Kiên trì bốn niệm

Thệ nguyện viên thành

Mọi thứ đều huyễn

Như sương như chớp

Chứng ngộ chân không

Vạn pháp một thể

Hợp tan vui buồn

Như bọt nước trôi

Sau khi ta tịch và thân này đã thiêu hóa xong thì các vị hãy lấy tro xương nghiền nát ra, trộn lẫn với dầu, đường và bột làm thành những viên nhỏ rồi tất cả rải xuống sông để cống hiến cho loài thủy tộc. Tròn được nguyện ước đó, ta vô cùng cảm tạ.

Hư Vân, người trả nợ đảnh lễ.” (1)

 

Ngài nhập niết bàn vào giờ vị (từ 11:00 đến 1:00 giờ), ngày mậu thìn, tháng giáp tuất, năm kỷ hợi.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

 

Bách trấp quy khứ bát niết bàn

Thiên vạn tái lai độ nhẫn kham

Nhất thiết hữu tình giai kiều thủ

Thùy dân vô nguyện bất trùng chiêm

Kỳ Công mãn chúng nguyện

 

Dịch:

 

Trăm hai mươi tuổi nhập niết bàn

Ngàn vạn mong về độ nhẫn kham (2)

Hết thảy hữu tình nay trông ngóng

Còn ai chẳng ước lại ngưỡng chiêm

Cầu xin Công thỏa nguyện đại chúng!

 

 

(1)恤蟻命不投水。吾慰水族身擲江。析諸受我身願供。同證菩提度眾生。請各法侶不必憂慮。生死循業。如蠶縛繭。貪迷不休。囚閒憂喜。欲除此患。努力修煉。妙契無生。明通心地。斷愛憎情。脫輪迴險。參淨三學。堅持四念。誓願圓成。質幻露電。證悟真空。萬法一體。離合悲歡。隨緣泡水。吾死後。化身畢。請各位將吾骨灰。碾成細末。以油糖麥共骨灰和好。做成丸果。請送放河中。以供水族。滿吾所願。感謝無盡。還債人虛雲頂禮。」

(2) Nhẫn kham : hay Kham nhẫn tức chỉ cõi Ta-bà


 

 

 

208. LẬP PHÁP HỘI ĐẠI BÁT NHÃ ĐỂ HỒI HƯỚNG CÔNG ĐỨC

 

Ngày 15 tháng 9 âm lịch, hòa thượng Độ Luân hay tin Vân Công viên tịch. Ngày 16, hòa thượng triệu tập toàn thể các tín đồ hộ pháp và ra quyết định tổ chức ba kỳ niệm phật, luôn trong ba tuần, bắt đầu từ ngày 17. Bốn chúng tham gia đông đảo. Ngày mồng 10 tháng 10 thì khởi đầu cho một pháp hội tụng kinh Bát Nhã, đủ sáu trăm quyển, kéo dài trong 140 ngày, cho tới ngày mồng 1 tháng 3 năm sau mới xong. Đàn tràng được thiết lập tại Phật Giáo giảng đường, phòng A trên lầu 12 của tòa nhà Du Viên, tọa lạc tại số 31 đường Hoàng Nê Dũng, Hương Cảng[1]. Bốn chúng đều hoan hỷ tham gia pháp hội, đồng thời có người được phái đi thỉnh xá lợi về, rồi tháp được xây lên để thờ xá lợi.

 

Kệ tán của hòa thượng Tuyên hóa:

Thống ngã thiên nhân sư thượng sư

Thành bỉ Tịnh độ thánh trung thánh

Duy vọng lân mẫn sinh chúng sinh

Tái lai độ hóa tình hữu tình

 

Dịch:

Thương ôi! Thầy ta, thầy trời người

Đã về Tịnh độ nơi hàng Thánh

Chỉ mong thương xót đám chúng sinh

Tình, hữu tình lại trở về độ


 

[1] Đường Hoàng Nê Dũng còn có tên là đường Thành Hòa - Bào Mã địa (như đã ghi trong nguyên văn, bản chữ Hán 跑馬地成和道)vì lúc xưa nơi đây là trường đua ngựa.

 


[1]  Hiển Thân, Tông Lượng: 2 vị tăng tại A Dục Vương tự, đã tận tình chăm sóc thuốc thang cho hòa thượng Hư Vân và, trong buổi lễ đốt ngón tay cúng dường Phật, đã dìu Ngài tới tham dự.

 

[2] Nghĩa Hòa Đoàn: Một phong trào bài ngoại chủ trương bạo lực, từng gây nên những chính biến lớn tại Trung Hoa hồi cuối thế kỷ 19, cuối trào Mãn Thanh.

[3] Người Tây Dương: Đây chỉ người ngoại quốc gốc Âu tây nói chung.

[4] Phi Bát thiền sư: Chỉ thiền sư Tri Huyễn đời Minh. Do sự tích bình bát của thiền sư bay vào hoàng cung hóa duyên mà người đời xưng tụng với danh hiệu là Phi Bát thiền sư.

 

 

[5] Cân, trượng và thước: Đây chỉ các đơn vị đo lường xưa. Để có một ý niệm về kích thước của quả chuông khổng lồ nói trên, tính theo hệ thống thập phân hiện đại thì các tài liệu cho hay trọng lượng của chuông là 46. 5 tấn, bề cao là 6.9 m, đường kính chuông là 3.3 m (Phật Quang Đại Từ Điển, Giác Sinh Tự, tr. 6796)

[6] Kiều mạch: một loại ngũ cốc

[7] Kim Sa : sông Kim Sa

[8] Ánh vàng: Chỉ tướng hảo của Phật trên tòa sen.

[9] 好鬥成性此雞雄。傷冠拔羽血流紅。知畏奉戒狂心歇。素食孤棲不害蟲。兩目瞻仰黃金相。念佛喔喔何從容。旋繞三撲奄然化。眾生與佛將無同

 

[10] Thước và tấc: Chỉ các đơn vị đo lường chiều dài thời xưa. Tính theo hệ thống thập phân hiện đại thì 1 thước = 0.3333…mét. Nguyên văn chữ Hán ghi bề cao là 9,4 tấc (thay vì 9 thước 4 tấc) và bề rộng là 7,6 tấc (thay vì 7 thước 6 tấc), vậy phỏng đoán có sự nhầm lẫn khi ấn hành (tham khảo Hư Vân Hòa Thượng Niên Phổ).

[11]徒多魚目真難辨。休認虹霓是彩霞

[12]光含萬象無今古。不屬陰陽絕障遮

[13] Thiền viện Kim Sơn là nơi thiền sư Thiền Tu được khai ngộ năm 24 tuổi. Nguyên văn “hưu hiết xứ ”(休歇處) tạm dịch là xong chỗ hết, một thuật ngữ dùng trong nhà thiền để chỉ tình trạng khai ngộ.

[14] Các giới chức và nhân sĩ địa phương cung thỉnh Ngài trụ trì tại Đằng Việt nhưng Công từ khước vì bận việc lạc quyên cho Kê Túc Sơn.

[15] Cát Long: tức Cát Long Pha (Kuala Lumpur)

[16] Tam Vũ: chỉ vua Thái Vũ Đế triều Bắc Ngụy, vua Vũ Đế thời Bắc Chu và vua Vũ Tông đời Đường. Người đời sau truyền lại câu “Tam Vũ diệt Phật” là để nhắc tới các thời pháp nạn dưới triều các vị vua kể trên.

[17] Điền: Một tên khác của tỉnh Vân Nam

[18] Hộ Quốc Chúc Thánh Thiền Tự  là tên được nhà vua tặng thêm cho ngôi chùa mà hòa thượng Hư Vân trụ trì

[19] Khoảnh: đơn vị cổ xưa đo diện tích. Tính theo đơn vị hiện tại thì lô đất nói trên tương đương với 4,500 acres.

[20] Dê đổi lấy bò: Tề Tuyên Vương đời Chiến quốc thấy một con bò run lập cập vì nó sắp bị làm thịt để lấy máu tô chuông. Nhà vua động lòng thương bảo chủ con bò lấy con dê thay thế nó (Mạnh Tử, Lương Huệ Vương, thượng)

[21] Diệu Tịnh: Sau khi thân phụ của hòa thượng Hư Vân mất, bà mẹ kế của Công xuất gia, pháp hiệu là Diệu Tịnh. Cả hai bà vợ của Công, bà họ Điền và bà họ Đàm, cũng đi theo mẹ chồng xuất gia.

[22] Thi-la: phiên âm của tiến Phạn Sila, có nghĩa là giới luật.

[23] Ni Sơn: tức núi Ni Khâu, nơi cha mẹ đức Khổng Tử cầu xin mà sanh hạ ra Ngài. Từ đó đức Khổng có tên là Khâu và tên tự là Trọng Ni.

[24] Đinh Lan:  Sách Nhị Thập Tứ Hiếu có kể câu chuyện Đinh Lan, thời Đông Hán, khắc tượng của cha mẹ bằng gỗ để thờ. Sớm tối Đinh Lan đến trước tượng lễ lạy, dâng nhang đèn hầu hạ, coi như cha mẹ hãy còn sống.

[25] Điền Kiềm Tạng: tức Vân Nam, Quý Châu và Tây Tạng. Khi trở về, Vân Công mang theo các văn kiện tổ chức của phân hội Điền Kiềm và chi hội Điền Tạng.

[26] Lý Ấn Tuyền: tức Lý Căn Nguyên

[27] Theo cuốn Hư Vân Hòa Thượng Niên Phổ thì nhân vật Hùng Hy Linh chính là Tổng lý nội các vào thời bấy giờ (prime minister), còn Nhiệm Khả Trừng đảm nhiệm chức vụ án tuần tại tỉnh Vân Nam.

[28] Chùa Hoa Đình về sau đổi tên thành chùa Vân Thê.

[29] Kinh Phạm Võng quyển hạ : “Ngã kim Lô Xá Na, phương tọa liên hoa đài, châu táp thiên hoa thượng, phục hiện thiên Thích Ca”.

 

 

[30] Hòn trống đá: Hòn đá giống hình cái trống, chỉ núi Cổ Sơn, nơi chùa Dũng Tuyền.

[31] Phượng vĩ thiết thụ: tiếng Anh gọi là cycad, một loại cây cọ, thuộc họ cây dừa, nở ra bông hình đuôi phượng.

[32] Tiếng Phạn là Sudatta, tên của trưởng giả Cấp Cô Độc.

[33] Cây long não: Tên chữ hán là chương thụ (樟樹), hay còn gọi là long não thụ (龍腦樹).Trong truyện, người thọ giới tự xưng thuộc họ Trương ()và điều đáng chú ý là 2 chữ chương () và Trương() phát âm giống nhau trong tiếng Trung Hoa.   

[34] Lưu Bị lập đền thờ Quan Vũ tại núi Ngọc tuyền. Quan Vũ tức Quan Vân Trường, người đời sau thường gọi là Quan Công.

[35] Quan Tráng Mậu: Tráng Mậu hầu là tên thụy của Quan Vũ.

[36] Lược dịch từ “bác thi tế chúng” (博施濟眾), trích trong sách Luận Ngữ của Nho gia. Hai câu kệ đầu nhắc tới lời đối thoại giữa Khổng Tử và Tử Cống.