Chinese and English | Vietnamese

 

Lòng Biết Ơn Của Tôi Vào Ngày Lễ Tạ Ơn

Bải nói chuyện của bà Terri Nicholson tại Vạn Phật Điện vào ngày 21,2015

Báo Vajra Bodhi Sea số 547, tháng 12, năm 2015. Trang 30 - 33.


 

Vì Lễ Tạ Ơn sắp đến, tôi đã chọn lòng biết ơn là chủ đề của tôi tối nay. Đặc biệt là lòng biết ơn của tôi đối với cơ hội được gần với Hòa Thượng, nghe lời dạy của Ngài và sống và làm việc trong cộng đồng này do Ngài thành lập.

Hòa Thượng khuyến khích tất cả chúng ta mở rộng tấm lòng và tâm trí chúng ta. Ngài khuyến khích chúng ta hãy rời bỏ quan điểm nhỏ hẹp và mở rộng ý thức của chúng ta để bao gồm toàn bộ thế giới. Ví dụ, khi chúng tôi bắt đầu thành lập các trường học, việc này sẽ dễ dàng nếu chỉ thành lập trường học cho trẻ em con cái các Phật tử, và thành lập trường Phật giáo, nhưng Hòa Thượng muốn có một trường học dành cho trẻ em của tất cả các tôn giáo. Sẽ dễ dàng hơn nếu chúng ta có thể thành lập trường học theo phong cách Trung Hoa hoặc Hoa Kỳ, nhưng Hòa Thượng tin rằng chúng ta nên áp dụng tốt nhất tất cả các truyền thống tôn giáo trong các trường học của chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã có các người Thiên Chúa giáo, Do Thái giáo, Phật giáo và người Hồi giáo học cùng nhau học tại trường chúng ta. Đối với điều này tôi rất biết ơn.

Trong thuở ban đầu, một gia đình người Palestine sở hữu một tiệm nhỏ ngay bên ngoài cổng của Vạn Phật Thánh Thành. Họ là những người Hồi giáo sùng đạo và họ đã gửi năm người con gái của họ đến trường của chúng ta. Hòa Thượng biết tên các em và thường hoải các em học hành như thế nào. Ngài khuyến khích chúng ta tôn trọng tôn giáo và cách thực hành tôn giáo của họ và họ do đó tôn trọng tôn giáo và cách thực hành của chúng ta. Họ chia sẻ truyền thống của họ và chúng ta chia sẻ truyền thống của chúng ta. Đó là một sự khởi đầu tuyệt vời cho các trường học của chúng ta ở đây tại thành phố Vạn Phật Thánh Thành. Chúng ta thường có các em thuộc các tôn giáo khác nhau và thuộc nhiều quốc gia khác nhau tất cả cùng trong một lớp. Tôi biết ơn rằng tất cả các học sinh đã có thể có được kinh nghiệm này.

Hầu hết các tu viện và ni viện chỉ dành cho tăng và ni và có lẽ cho một số cư sĩ tu tập nghiêm túc, và chắc chắn chỉ dành cho Phật tử. Ở đây tại Vạn Phật Thánh Thành, chúng ta luôn chào đón những người thuộc nhiều truyền thống tôn giáo. Không những thế, chúng ta có nhiều gia đình, nhiều học sinh và nhiều tu sĩ cùng sống với nhau ở một chỗ. Điều đó không phải lúc nào cũng dễ dàng, nhưng tôi tin rằng tất cả chúng ta trở thành những con người tốt hơn nhờ điều đó. Chồng tôi và tôi rất biết ơn vì đã có cơ hội nuôi dạy con cái của chúng tôi trong cộng đồng quốc tế đặc biệt này.

Tôi muốn chia sẻ một vài câu chuyện về con trai của chúng tôi khi còn nhỏ và được lợi ích từ môi trường tuyệt vời này. Trong số những người lúc đó đang sống ở đây khi con trai của chúng tôi còn nhỏ là một người đàn ông tên là Bob Wonnacott. Ông không phải là một Phật tử. Ông là một cựu chiến binh và là một người đốn gỗ mà lúc ban đầu đến là để cắt gỗ cho chúng ta. Ông ta lúc đó bảy mươi mấy tuổi, và khi biết ra là ông không có nơi nào để sống, chúng tôi đã đón nhận ông vào. Ông sống trong Nhà Cứu Hỏa, làm các công việc lặt vặt và làm bất cứ việc gì ông có thể làm được.

Một ngày nọ, tôi đi giảng bài và chồng tôi, Alan, ở nhà để xem những đứa trẻ đang chơi bên ngoài. Con trai chúng tôi, Alex, đã có một thói quen đi ra cổng trước của Vạn Phật Thánh Thành, kể từ khi nó cảm thấy rằng toàn bộ Vạn Phật Thánh Thành là nhà của nó. Alex đã cỡi lên một trong những món đồ chơi chạy đẩy bằng chân; nó còn quá nhỏ để đi xe đạp. Alan lúc đó đến nói chuyện với một người hàng xóm và trước khi biết ra điều đó thì Alex đã cỡi đồ chơi ra khỏi cổng Chùa.

Đúng lúc đó thì một chiếc xe cảnh sát lái đến và khi cảnh sát nhìn thấy cậu bé tóc vàng cỡi xe đồ chơi ra cổng trước của Vạn Phật Thánh Thành thì họ nghĩ nó không ở Vạn Phật Thánh Thành, vì vậy họ đưa nó vào xe của họ. May mắn thay, Bob Wonnacott tình cờ có mặt gần đó và nhìn thấy những gì đang xảy ra. Ông chận cảnh sát lại và nói: “Đợi một chút, đợi một chút. Cậu bé này sống ở đây.” Vì vậy, họ đã đưa nó đến nhà của chúng tôi và trong ít nhất một vài ngày chúng tôi có thể nói với Alex: “Bây giờ đừng chạy ra ngoài, nếu không cảnh sác sẽ đến và chở con đi.” Và thế là nó sẽ ở nhà.

Một lần khác, khi Alex lớn tuổi thêm một chút, nó đi xe đạp đến gần Phật Điện và té ngã xuống, bị gãy cổ tay. Nhưng đây là một nơi tuyệt vời đến nỗi nó tự đứng dậy và đi vào Phật Điện nói: “Giúp!” Có người thấy nó và gọi cho chúng tôi và chúng tôi đã đến và đón nó. Đó là một nơi khá đặc biệt mà một đứa trẻ có thể bước vào một tòa nhà và chỉ nói, “Giúp” và ai đó sẽ chăm sóc nó.



 

Ngay bây giờ có rất nhiều tranh cãi về việc có nên chấp nhận những người tị nạn Syria vào quốc gia này. Đất nước của họ đang có chiến tranh và sanh mạng của họ đang bị đe doạ. Tôi nhớ đến một cuộc chiến tranh khác khi Hòa Thượng khuyến khích chúng ta mở rộng lòng mình và mở cửa của chúng ta cho người tị nạn.

Sau khi Hoa Kỳ rút quân ra khỏi Việt Nam trong những năm cuối thập niên một ngàn chin trăm bảy mươi, có rất nhiều, rất nhiều người tị nạn. Hòa Thượng đã giúp chúng ta thành lập Trung Tâm Phật Giáo Cứu Tế Nạn Dân (
Phật Giáo Nạn Dân Cứu Tế Trung Tâm ). Chúng ta mở cửa của chúng ta ở đây tại Vạn Phật Thánh Thành để đón người tị nạn từ Việt Nam, Lào, Campuchia và nhiếu nước khác. Đó không phải là một công việc dễ dàng. Trong nhiều vấn đề, có vấn đề là có những người tị nạn từ các nước đang có chiến tranh với nhau và tất cả sống trong cùng tòa nhà. Tuy thế, điều đó không ngăn Hòa Thượng dừng lại. Chúng ta chào đón con cái của các người tị nạn vào trong các trường học của chúng ta, tổ chức các lớp học cho người lớn để họ có thể học tiếng Anh, học những kỹ năng mới và cuối cùng đã giúp họ tìm được chỗ ở và việc làm. Bây giờ, nhiều người trong những người này là một phần quan trọng của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới và cũng của đất nước chúng ta.


Khi tôi còn là một đứa trẻ, ba tôi rất thích trích dẫn một câu thơ của một nhà thơ nổi tiếng tên là Rudyard Kipling: “Đông là Đông và Tây là Tây và hai bên sẽ không bao giờ gặp nhau.” Tôi biết ơn rằng Sư Phụ đã chứng minh rằng điều này là không đúng. Ở đây tại Vạn Phật Thánh Thành, chúng ta đã không chỉ gặp nhau, nhưng chúng ta sống chung với nhau trong hòa bình, và tôi rất biết ơn là một phần của sự gặp gỡ này. Trên thực tế, khi tôi cuối cùng đọc được bài thơ, tôi thấy rằng ý của Kipling là hoàn toàn ngược lại những gì mà câu đầu tiên ngụ ý. Ý đó nói rằng cuối cùng, khi chúng ta đến đứng trước mặt Đấng Sáng Tạo của chúng ta (ông Kipling là một người Thiên Chúa Giáo), chúng ta đều hầu như giống nhau.
 

Ôi, Đông là Đông và Tây là Tây,

Và hai bên không bao giờ gặp nhau,

Cho đến lúc Trời Đất đứng trước mặt Chúa trong Ngày Phán xét;

Nhưng nào có Đông, nào có Tây, nào có biên giới, nào có sang hèn, nào có dòng giống,

Khi hai người đàn ông dũng mãnh đối đầu,

Dù là họ xuất phát từ những nơi tận cùng đối nghịch của trái đất. (1)

 

Thật rất dễ dàng bị mắc kẹt trong sự khác biệt giữa chúng ta, phía đông và phía tây, các nền văn hóa khác nhau, Phật Giáo và Thiên Chúa Giáo, tu sĩ và cư sĩ, đàn ông và phụ nữ, trẻ em và người lớn, học giả và người lao động. Chúng ta là con người tạo vô số phân biệt vô tận và đau lòng hơn nữa là chúng ta tạo ra đau khổ vô tận bởi vì những sự phân biệt nảy. Tôi biết ơn về lời dạy của Đức Phật, là tất cả chúng ta cùng chia sẻ cùng một tự tánh chân thật sáng lạn giống nhau.

Tất nhiên chúng ta không phải lúc nào đồng ý vơi nhau. Trong thực tế, đôi khi chúng ta nhiệt tình hoàn toàn không đồng ý với nhau. Nhưng đó chỉ là bản chất con người. Tôi bảo đảm với quý vị rằng trong những thuở ban đầu, khi tại Vạn Phật Thánh Thành là hầu hết người Tây phương sống tại đây thì chúng tôi vẫn tìm thấy có rất nhiều điều để bất đồng vời nhau. Tuy nhiên, những người trong chúng ta đủ may mắn để trở thành một phần của cộng đồng này đều đồng ý về những điều quan trọng nhất. Chúng ta đồng ý không gây hại, chúng ta cố gắng hết sức mình để mang lại lợi ích cho người khác, và cách chúng ta sống cuộc sống hàng ngày của chúng ta là dựa vào những lời dạy của những người có trí tuệ. Cuối cùng, chúng ta làm việc nhiệt thành vì hòa bình cho thế giới này. Và tôi rất biết ơn là một thành phần của cộng đồng này.

Ghi chú:

(1) Đây là các câu mờ đầu và kết thúc trong bài thơ "The Ballah of East and West" https://en.wikipedia.org/wiki/The_Ballad_of_East_and_West của nhà thơ nồi tiếng Rudyard Kipling. Trong bài thơ kể lại cuộc đụng độ giữa một thủ lĩnh người bản xứ Ân Độ với con trai một đại tá thực dân người Anh đang đô hộ Ấn Độ. Cuộc đụng độ đã kết thúc bằng sự hoà giải và kết nghĩa anh em giữa "hai người đàn ông dõng mãnh" của hai nền văn hóa khác nhau.