宣化老和尚 The Venerable Master Hsuan Hua

Chinese | English | Vietnamese

Mười Pháp Giới Không Lìa Một Niệm Của Tâm
Hòa Thượng Tuyên Hóa

 Khai thị tại Kim Sơn Thánh Tự, San Francisco, California, Hoa Kỳ, vào năm 1972.


 

 

 

Mục lục:

1. Pháp Giới Của Phật

2. Pháp Giới Bồ Tát

3. Pháp Giới Duyên Giác

4. Pháp Giới Thanh Văn

 

 


Nếu tâm quý vị muốn tu thep Phật pháp, quý vị sẽ đi theo con đường Phật. Nếu tâm
quý vị vui thích muốn thành Bồ Tát, quý vị sẽ đi theo con đường Bồ Tát và thành Bồ Tát.
 
 

Nhược nhân dục liễu tri

Tam thế nhất thiết Phật

Ưng quán pháp giới tánh

Như Lai duy tâm tạo.


Tạm dịch :

Nếu ai muốn biết rõ

Tất cả Phật ba đời

Hãy quán tánh pháp giới

Như Lai do tâm tạo.


‘Nếu ai muốn biết rõ, tất cả Phật ba đời Hãy quán tánh pháp giới, Như Lai do tâm tạo’.

"Nếu ai muốn biết rõ, tất cả chúng sanh ba đời ; hãy quán tánh pháp giới, Như Lai do tâm tạo". Quý vị cười tôi đọc sai phải không? Đúng không?

"Nếu ai muốn biết rõ". Ai (người) có nghĩa là tất cả mọi người. Muốn biết rõ: Muốn biết rõ cái gì? Muốn biết rõ: con người làm thế nào để làm người.

 

Tất cả chúng sanh ba đời” – Nếu nói “Tôi nghe nói là ‘Tất cả Phật ba đời',’ tại sao Thầy lại đọc thành ‘Tất cả chúng sanh ba đời?” Vì, con người chính là Phật! Con người, quý vị gọi họ là “Phật” cũng được; Phật, quý vị gọi là “con người” cũng được. Tại sao? Vì con người có thể thành Phật; Phật là do con người thành ra. Nếu quý vị nói là “Phật”, không ai hiểu được. “Phật là gì?” Không ai thực sự hiểu. Nếu quý vị nói là “con người”, ai cũng hiểu là có một “con người”. Vậy, nếu biết có một “con người”, thì dễ hiểu hơn, phải không?

 

Vậy “con người” là ai? Chính là “Phật”. Vậy tôi có phải là Phật không? Quý vị cũng là Phật; anh ấy có phải là Phật không? Anh ấy cũng là Phật. Tôi có phải là Phật không? Cũng là Phật, nhưng chưa thành Phật. Khi thành rồi, đó là vị Phật thật, còn bây giờ là ông Phật giả. Phật giả cũng có thể thành Phật thật, Phật thật cũng có thể thành Phật giả. Vì vậy, tại sao lại nói một chữ “Nếu" này? Đây là một từ ngữ đặt giả thiết, quý vị đừng quá cố chấp, đừng xem nó quá nghiêm túc. Vì vậy, giả sử quý vị muốn hiểu, muốn biết rõ về “Tất cả Phật ba đời'. Tất cả Phật ba đời' đều do con người tu thành.

 

"Hãy quán tánh pháp giới". Quý vị nên xem xét về bản tánh của Pháp giới. Không phải nói bản tánh của Pháp giới, Pháp giới có bản tánh gì đâu? Nếu Pháp giới có bản tánh, thì còn gọi là Pháp giới nữa không? Đây nói về bản tánh của chúng sanh trong Pháp giới. Mỗi người có một tánh riêng. Quý vị có tánh của quý vị, tôi có tánh của tôi. Nói về tánh này, quý vị không biết đâu. Tánh khí nóng giận của quý vị có thể lớn hơn tôi một chút, còn tánh khí nóng giận của tôi có thể sâu hơn quý vị một chút. Quý vị nói có phải không? Không giống nhau.

 

Chúng sanh trong Pháp giới, mỗi chúng sanh có một tánh. Heo có tánh của heo, ngựa có tánh của ngựa. Heo thì mang họ Heo; ngựa thì mang họ Ngựa; bò thì mang họ Bò. Mỗi người có một “họ”, đó là họ của tên gọi. Còn đây là tánh cách, đàn ông có tánh của đàn ông, phụ nữ có tánh của phụ nữ, mỗi người có tánh riêng của mình. Có người thích ăn ngọt, đó là có tánh ngọt; có người thích ăn chua, đó là có tánh chua; có người thích ăn cay, đó là có tánh cay. À! Có người thì thích ăn đắng, thì chúng ta có một tánh đắng ở đây, quý vị nói có phải không? Chúng ta tu hành khổ hạnh. Khi tu khổ hạnh, chính sự tu hành này cũng là khổ hạnh. Ngay khi đến trai đường thọ trai cũng là thực hành khổ hạnh. Khi tu khổ hạnh, mọi người đừng bao giờ lùi về phía sau, mà hãy tiến về phía trước. Vậy, thực hành khổ hạnh trong việc ăn uống, tất cả đều phải tiến lên phía trước, quý vị xem có phải không?

 

Quý vị hãy nghiên cứu xem, mỗi loài đều có tánh riêng. Cây có tánh của cây, hoa có tánh của hoa, cỏ có tánh của cỏ, mỗi thứ đều có tánh riêng, đó gọi là “Tánh Pháp giới”. Không phải nói Pháp giới có tánh, mà là bản tánh của chúng sanh trong Pháp giới. Quý vị đã hiểu chưa? Trước đây quý vị tưởng là “Tánh Pháp giới”, nhưng bây giờ mới biết là “Tánh của chúng sanh trong Pháp giới”, vì vậy mới nói mới nói "hãy quán tánh pháp giới".

 

"Như Lai do tâm tạo": Trước đây nói "Nếu ai muốn biết rõ, tất cả Phật ba đời, hãy quán tánh pháp giới, tất cả do tâm tạo". Vì tôi đã nói về “Tất cả người ba đời”, nên câu cuối này tôi thay đổi thành "Như Lai do tâm tạo". Phật chính là do tâm quý vị tạo ra. Nếu tâm quý vị tu theo Phật pháp, quý vị sẽ đi theo con đường Phật; nếu tâm quý vị vui thích muốn thành Bồ Tát, quý vị sẽ đi theo con đường Bồ Tát và thành Bồ Tát. Ngay cả khi tâm quý vị muốn đọa vào địa ngục, quý vị sẽ chạy hướng vào địa ngục, và tương lai sẽ đọa vào địa ngục.
 


 

 

1. Pháp Giới Của Phật

Cái "không lớn" này chính là không có tâm kiêu ngạo. Phật không có tâm kiêu ngạo, không có tâm tự đại.

 

Bất đại bất tiểu

Phi khứ phi lai

Vi trần thế giới

Giao ánh liên đài.

Tạm dịch :

Không lớn cũng không nhỏ

Chẳng đến cũng chẳng đi

Thế giới nhiều như bụi

Đài sen giao chiếu nhau.

 

Hôm nay tôi sẽ nói về mười pháp giới. Đầu tiên là pháp giới của Phật . Về pháp giới của Phật, tôi đã nói về chữ Phật khi đến thành phố Redwood. Tôi đã nói với mọi người, chữ Phật tiếng Anh gọi là "Buddha, Buddha, Buddha!" Vì tôi rất ngu dốt và tai cũng rất lãng, tôi đã nghe thành "Bất Đại" (không lớn). Ban đầu là "Buddha", tôi nói "không lớn". Cái "không lớn" này là gì? Là Phật. Có một vị giáo sư rất thích cách giảng này. Sau khi tôi giảng xong, ông ấy đã chắp tay lại và gọi tôi là "Bất Đại" (không lớn).

Cái "không lớn" này là không có tâm kiêu ngạo. Phật không có tâm kiêu ngạo, không có tâm tự đại. Trong tiếng Anh cũng có hình thức kiêu ngạo, đó là "I, I, I (tôi)", Phật không có "I" (tôi). Cái "I" (tôi) trong tiếng Trung Hoa là "tôi". Tôi! Tôi! Tôi! Tôi! Tôi! Mọi thứ đều là tôi, từ trái phải, trước sau, trên dưới, bốn phương đều là tôi. Cái "tôi", À! Quá nhiều. Vì cái "của tôi" quá nhiều, cho nên trở nên lớn; còn Phật, vì không có cái "tôi", nên không lớn. Quý vị nghe cách giảng này thế nào? Vậy thì có nhỏ không? Cũng không nhỏ. Nếu không lớn mà lại nhỏ, thì cũng không phải là Phật rồi! Vậy cho nên, câu đầu tiên nói là "Không lớn cũng không nhỏ".

"Chẳng đến cũng chẳng đi": Ngài không phải đi, cũng không phải đến; tức là "đến mà chưa từng đến, đi mà chưa từng đi". Tại sao nói "Chẳng đến cũng chẳng đi"? Vì pháp thân của Phật là bao trùm khắp hư không, khắp pháp giới, có mặt ở mọi nơi, không có chỗ nào không có. Nếu quý vị nói Phật đi, thì Ngài đi đến đâu? Nếu nói Phật đến, thì Ngài đến đâu? Bởi vì pháp thân của Phật là khắp nơi, cho nên mới nói "Chẳng đến cũng chẳng đi". Vậy Phật có phải chỉ ở trong thế giới của chúng ta không? Không. Không phải Ngài chỉ ở trong thế giới này. Pháp giới này là bao gồm tất cả vô số vô biên các thế giới nhiều như hạt bụi , tất cả những thế giới đó đều là pháp thân của Phật. Cho nên mới nói "Thế giới nhiều như bụi": nhiều giống như hạt bụi trong thế giới.

"Đài sen giao chiếu nhau": Chiếu nhau có nghĩa là ánh sáng của vị Phật trong pháp giới này chiếu sáng vào ánh sáng của vị Phật trong pháp giới khác. Ánh sáng của vị Phật trong pháp giới khác lại chiếu sáng vào ánh sáng của vị Phật trong pháp giới này. Hai ánh sáng giao chiếu nhau. Phật ngồi trên đài sen, ánh sáng chiếu sáng ra khắp nơi chấn động trái đất, cùng lúc tai phát ra ánh sáng, mắt phát ra ánh sáng, mũi phát ra ánh sáng, lưỡi phát ra ánh sáng, răng cũng phát ra ánh sáng. Không chỉ là sáu căn phát ra ánh sáng chấn động trái đất, mà mỗi một lỗ chân lông của Phật cũng phát ra ánh sáng, khiến cho đất rung chuyển. Trong mỗi lỗ chân lông ấy lại hiện ra các thế giới nhiều như hạt bụi, có vô lượng vô biên các vị Phật hiện ra ở mỗi một lỗ chân lông. Mỗi vị Phật lại đều phát ra ánh sáng vô lượng vô biên như vậy. Nhưng giống như ánh sáng đèn điện, ánh sáng của quý vị không xung đột với ánh sáng của tôi, ánh sáng của tôi cũng không xung đột với ánh sáng của quý vị. Không phải nói rằng: "Ôi! Ánh sáng của quý vị quá nhiều, ánh sáng của tôi không còn chỗ nữa, như vậy là không được." Ánh sáng này không xung đột với ánh sáng kia, ánh sáng với ánh sáng đều hòa hợp, đây gọi là "hòa quang". Do đó, trong Phật giáo, chúng ta cũng là hòa quang, ánh sáng của chúng ta không xung đột với nhau, con người với con người cũng không nên xung đột, vì thế gọi là "Đài sen giao chiếu nhau". Chiếu nhau có nghĩa là ánh sáng của quý vị chiếu vào tôi, ánh sáng của tôi lại chiếu vào quý vị,

Quang quang tương chiếu;
Khổng khổng tương thông.

Nghĩa là:

Ánh sáng này chiếu ánh sáng kia;
Lỗ lông này thông lỗ lông kia.

giống như mạng lưới La Tràng của Đại Phạm Thiên Vương, chiếu sáng vô số vô tận. Đó chính là "Đài sen giao chiếu nhau". Đây là pháp giới của Phật.

 


2. Pháp Giới Bồ Tát

Bồ Tát phải thực hành những khổ hạnh khó làm mà người khác không làm được, phải chịu đựng những điều khó nhẫn mà người khác không thể nhẫn được.

 

 

Hữu tình giác ngộ
Khiêu xuất trần ai
Lục độ vạn hạnh
Thời khắc bồi tài.

Tạm dịch :

Bậc hữu tình giác ngộ
Nhảy ra khỏi bụi trần
Tu lục độ vạn hạnh
Giờ phút thường vun bồi.

Thứ hai, nói về pháp giới của Bồ Tát. Tại sao trước đó tôi lại thay đổi thành “tất cả người ba đời”? Bởi vì mười pháp giới này đều do con người tu thành. Con người không rời khỏi một niệm của tâm hiện tại. Vì vậy, phần thứ hai là pháp giới của Bồ Tát.

Pháp giới Bồ Tát, Bồ Tát là từ tiếng Phạn, dịch ra có nghĩa là “giác hữu tình”. Tại sao gọi là giác hữu tình? “Giác hữu tình” có hai cách giải thích: một là giác ngộ tất cả loài hữu tình, khiến tất cả loài hữu tình đều giác ngộ, đó là một cách giải thích; giải thích thứ hai là một người giác ngộ trong số các loài hữu tình. Cả hai cách giải thích đều có phần của chúng ta. Chúng ta có phần gì? Chúng ta đều có phần thành Bồ Tát. Bời vì chúng ta đều là chúng sanh hữu tình, chúng ta cũng có thể từ đây trở thành một người giác ngộ trong chúng sanh. Chúng ta có thể lại dùng đạo lý giác ngộ này để giúp tất cả chúng sanh giác ngộ. Cho nên có phần là một vi Bồ Tát là không sai. Quý vị có phần, tôi cũng có phần. Không phải chỉ đối với thành Bồ Tát thì chúng ta mới có phần như vậy, mà đối với thành Phật cũng vậy, chúng ta đều có phần.

Có người nói: “Ồ! Tôi không hiểu đạo lý này, sao trước đây thầy nói Phật là do người tu thành. Vậy tại sao chúng ta không thành Phật?” Đừng nói về vấn đề “người thành Phật hay không thành Phật”. Quý vị hãy thử nghĩ, cô bé Quả Phương này sau này có trưởng thành không? Mặc dù Quả Phương này bây giờ là “trẻ con”, nhưng trong tương lai có trưởng thành thành người lớn không? Làm người rồi có già đi không? Có đúng không? Rất có khả năng nà, đúng không? Điều này giống như chúng ta bây giờ là trẻ con, còn Phật là người lớn, sau này chúng ta trưởng thành là Phật, không trưởng thành thì vẫn là trẻ con. Chúng ta hiện nay trong Phật giáo chỉ là một đứa trẻ con. Hằng ngày chúng ta cần “sữa”, hằng ngày cần nghe Pháp. Nghe Pháp đặc biệt có thể làm tăng trưởng căn lành, đặc biệt có thể khai mở trí huệ. Vì vậy, nếu quý vị có cơ hội nghe Pháp, thì nghe Pháp còn có giá trị hơn rất nhiều so với việc kiếm được bao nhiêu tiền.

Vì vậy, hôm nay tôi muốn đặt ra một quy định mới. Quy định này là gì? Tôi hy vọng sau này mọi người ở đây không nên có quá nhiều ngày nghỉ, không nên đi du lịch quá nhiều. Nếu có kỳ nghỉ, hãy làm chuyến du lịch nghiên cứu Phật pháp, lấy nghiên cứu Phật pháp làm kỳ nghỉ. Tại sao vậy? Bởi vì đi du lịch vào ngày nghỉ rất nguy hiểm. Hãy nhìn xem, mỗi ngày lễ nghỉ, người chết không chỉ một người, chắc chắn là nhiều hơn một người. Nếu nhiều người đi du lịch, thì có thể họ cũng có phần trong đó. Vì vậy, trong quốc gia này, chúng ta cần phải sửa lại phong khí này. Trong quốc gia này, mọi người đều muốn vui chơi, muốn du lịch. Chúng ta, người Phật tử, cần phải cải thiện phong khí này. Làm Phật tử thì không nên đi du lịch quá nhiều. Có thời gian thì quý vị hãy nghiên cứu Phật pháp, thật tốt biết bao! Hãy đến tụng kinh, niệm chú, lạy Phật, thì lại càng tốt nữa!

Lạy Phật thì công đức vô lượng, “Lễ lạy trước Phật, tội được tiêu trừ như cát sông Hằng”, khi quý vị lạy Phật một lạy, tội nghiệp của quý vị nhiều như cát sông Hằng sẽ tiêu diệt hết. “Bố thí một đồng tiền, phúc tăng vô lượng”. Tuy nhiên, tôi không phải dạy quý vị bố thí tiền cho tôi, quý vị cần phải hiểu điều này. Nếu quý vị có tiền, hãy đến các đạo tràng khác để bố thí, điều đó sẽ tăng thêm nhiều phúc đức cho quý vị. Vì chúng ta ở đây đều là những người có phiền não khổ sở, không thọ lãnh được sự cúng dường của người khác. Nếu cúng dường nhiều thêm một chút, thì chúng ta sẽ càng chết sớm một chút. Nếu không có ai cúng dường thì thế nào? Thì vận mạng khổ sở của chúng tôi, cái sanh mạng khổ sở này, sẽ còn sống được thêm bao lâu? Quý vị thử nghĩ coi, chúng ta tuy khổ, nhưng chúng ta cũng muốn sống thêm vài ngày. không muốn chết ngay lúc này. Do đó nếu quý vị muốn bố thí tiền, hãy đến những nơi khác để bố thí, tôi chắc chắn sẽ hoan nghênh. Vì những nơi khác cũng có nhiều nơi có trồng nhiều phúc đức, không nhất thiết phải là ở Chùa Kim Sơn Thánh Tự. Chùa Kim Sơn Thánh Tự chúng tôi đều là những người khổ đau phiền não, đều là những người không có chút phúc báo nào cả, vì vậy nếu quý vị cầu phúc ở đây thì cầu không có được. Quý vị đừng lo, chúng tôi không chết đói đâu!

“Bậc hữu tình giác ngộ”: Bồ Tát là một chúng sanh hữu tình, là một người giác ngộ trong chúng sanh hữu tình; là bậc hiểu biết rõ trong những người giác ngộ; là bậc tu hành trong những người hiểu biết rõ; là bậc thực hành trong những người tu hành; đó chính là Bồ Tát. Cho nên nói “Nhảy ra khỏi bụi trần”: Nếu không hiểu rõ, thì không thể nhảy ra khỏi bụi trần. Bụi trần quá dày, nên không thể nhảy ra được. Nếu quý vị giác ngộ rồi, thì bụi trần này sẽ mỏng đi, giống như không còn bụi nữa, quý vị có thể nhảy ra khỏi bụi trần.

Sau khi nhảy ra khỏi bụi trần thì thế nào? Có phải là đi ngủ không? Có phải là đi ăn cơm không? Đúng! Quý vị vẫn cần ngủ, vẫn cần ăn, vẫn cần mặc quần áo. Rồi sao nữa? Không phải đơn giản chỉ làm những việc đó. Thật ra, quý vị làm việc để có hai bữa cơm, để ăn uống, mặc quần áo, chỗ ở; chỉ vì ba vấn đề này: ăn, mặc, ở. Nếu quý vị nhảy ra khỏi bụi trần, thì không phải sống chỉ vì ba vấn đề đó nữa. Vậy thì sống vì điều gì? Sống để tu hành lục độ ba la mật.

 

Tu lục độ (Ba la mật): Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ. Quý vị nói: “Tôi biết, bố thí là dạy người ta bố thí cho tôi.” Không phải, mà là chúng ta phải bố thí cho người khác. Vì vậy, tiền bạc, chúng ta phải buông bỏ, không nên quá tham lam. Những thứ bẩn thỉu này, chúng ta không cần quá nhiều. Tiền là thứ bẩn thỉu nhất, nếu quý vị tiếp xúc quá nhiều với tiền, thì đó chính là bụi trần. Bụi trần là gì? Tiền chính là bụi trần. Nếu quý vị có thể từ bỏ tiền, đó là sự thanh tịnh nhất, thì quý vị đã vượt ra khỏi bụi trần. Bây giờ quý vị đã vượt ra khỏi bụi trần rồi, vì quý vị đang giữ giới không giữ tiền bạc. Tuy nhiên, đừng để bị nó bám lại nữa. Đây là lục độ ba la mật. Vạn hạnh: tiếp tục tu hành vạn hạnh. 

 

Giờ phút thường vun bồi: không phải là hôm nay tu, ngày mai không tu; năm nay tu, năm sau không tu; tháng này tu, tháng sau nghỉ. Kiếp này tu hành, kiếp sau lại không tu hành nữa sao? Hoặc là giây phút này tu hành, giây phút khác lại ngủ gật. Không phải như vậy! Mỗi giây mổi phút phải vun bời, thời thời khắc khắc cũng phải tu hành lục độ vạn hạnh. Không chỉ là lúc này, mà là suốt đời, suốt kiếp chúng ta phải tu tập lục độ vạn hạnh. Nếu quý vị có thể làm được như vậy, quý vị chính là Bồ Tát.

Quý vị nói: “Điều này không phải dễ dàng lắm!” Quý vị nghĩ làm Bồ Tát dễ dàng lắm sao? Thật sự thì không dễ dàng chút nào. Không phải chỉ làm Bồ Tát là khó, mà làm Duyên Giác, Thanh Văn cũng không phải dễ dàng. Làm gì thì dễ dàng? Làm quỷ thì rất dễ dàng! Đọa vào địa ngục thì rất dễ dàng! Làm súc sanh thì rất dễ! dàng Nếu quý vị muốn làm dễ dàng, thì hãy làm những thứ đó. Vì vậy, quý vị muốn làm Bồ Tát, thì không dễ dàng chút nào! Làm Bồ Tát chính là điều không dễ dàng. Làm dễ dàng là quỷ, làm không dễ dàng là Bồ Tát. Có thể nói: “Thật là khó!”. "Khó" cũng là Bồ Tát, cái “khó” đó là một tên gọi khác của sự không dễ dàng.

Bởi vậy, Bồ Tát phải làm những việc khó làm mà người khác không làm được, chịu đựng những điều khó nhẫn mà người khác không thể nhẫn được. Những việc mà người khác cho là quá khó, thì đối với người hành đạo Bồ Tát thì vẫn không sao, chúng ta vẫn làm được. Chúng ta không nói: “Ồ, làm không được thì tôi không làm nữa!” Quý vị không làm, thì quý vị không phải là Bồ Tát. Hãy tiến lên! Hãy tinh tấn! Hãy tinh tấn! Hãy tinh tấn lên! Đó chính là Bồ Tát. Chính là như vậy, không có gì là kỳ bí cả. Quý vị có thể làm được những việc mà người khác không làm được, đó chính là Bồ Tát. Vì mọi người đều không làm được, nhưng quý vị lại làm được, đó là Bồ Tát.

 

 

3. Pháp Giới Duyên Giác

Khi nói đến Duyên Giác, chúng ta phải “giác duyên”, giác ngộ cái nhân duyên này.


Duyên Giác Thánh Hiền
Cô phong độc miên
Xuân hoa thu tạ
Thập nhị liên hoàn.

Tạm dịch :

Bậc Duyên giác Thánh hiền
Đơn độc ngủ trên núi
Quán xuân hoa thu tàn
Hiểu mười hai nhân duyên.

 

Chúng ta nói về bậc Duyên Giác, tại sao tôi lại hỏi quý vị nhiều câu hỏi như vậy? Bởi vì bậc Duyên Giác này không vui khi có vấn đề. Người ấy thích cô độc, không muốn có người khác bên cạnh. Vì vậy, hôm nay chúng ta cùng nghiên cứu vấn đề chung và tất cả mọi người hãy cùng nhau tham gia – đừng nên làm một mình như bậc Duyên Giác. Bậc Duyên Giác, khi có Phật xuất thế, gọi là Duyên Giác. Khi không có Phật xuất thế, thì gọi là Độc Giác, người ấy tự mình khai ngộ. Người ấy thích gì? “Cô phong độc miên.” (Đơn độc ngủ trên núi). Vì vậy, nói rằng:

Bậc Duyên giác Thánh hiền
Đơn độc ngủ trên núi
Quán xuân hoa thu tàn
Hiểu mười hai nhân duyên.

Đây là nói về bậc Duyên Giác.

 

Khi nói đến bậc Duyên Giác, chúng ta phải “giác duyên”, giác ngộ về nhân duyên này. Người ấy tu hành theo mười hai nhân duyên, chúng ta cũng tu mười hai nhân duyên.

 

Mười hai nhân duyên, thứ nhất là “vô minh”. Người ấy quan sát về cái "vô minh", vô minh đến từ đâu? Ồ! Thật kỳ lạ, sao lại có vô minh? Người ấy bắt đầu quan sát: vô minh duyên hành, khi có vô minh thì có hành vi, có “hành”, có sự thực hành. Có sự thực hành rồi, thì có “thức”. Thức chính là sự phân biệt, hành là pháp hữu vi. Vào lúc vô minh, không nói đến vô vi, cũng không nói đến hữu vi. Lúc đó, chính là ở giữa hữu vi và vô vi, sau đó mới có sự phân biệt.

 

Tại sao có sự phân biệt? Là vì có các pháp hữu vi. Khi có các pháp hữu vi, thì sẽ có tâm phân biệt. Có tâm phân biệt, thì sẽ có phiền não! “Danh sắc” chính là phiền não. Khi có danh, thì có phiền não của danh; khi có sắc, thì có phiền não của sắc. Danh sắc chính là phiền não, phiền não chính là danh sắc. Nếu nói về vấn đề này sẽ càng thêm phiền phức, không nói thì chưa có phiền phức, vừa nói ra là đã có phiền phức rồi. Quý vị sẽ nói: “Ồ! Tại sao danh sắc lại là phiền não? Tôi không hiểu.” Quý vị không hiểu sao? Vậy thì phiền não của quý vị còn nhiều hơn nữa. Bở vì quý vị có phiền não khi không hiểu. Khi tôi chưa nói, thì quý vị không có phiền não vì không hiểu. Có phải không?

 

Khi tôi chưa nói ra điều này, quý vị về căn bản thì không biết, quý vị không có nhiều phiền não như vậy. Nhưng khi tôi nói ra, À! Quý vị không hiểu, quý vị có cái phiền não vì không hiểu. Có phiền não vì không hiểu, thì sẽ muốn hiểu. Đây chính là có “sáu căn" (lục nhập) rồi. Quý vị có cái sáu căn (lục nhập) này chính là muốn hiểu, muốn biết rõ. Quý vị đã nghe qua chưa? Không có ai giảng theo cách này! Nhưng bây giờ đã có rồi! Đó chính là muốn hiểu rõ.

 

Sáu căn (lục nhập) chính là muốn hiểu rõ nên mới có sáu căn (lục nhập). Muốn hiểu rõ vì vậy mà sinh ra cái “nhãn thức”. Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn, ý căn, từ đó mà sinh ra sáu căn (lục nhập) này. Tại sao phải sinh ra sáu căn (lục nhập)? Là vì muốn hiểu rõ. Nếu là người không biết, lúc càng muốn hiểu rõ thì càng mơ hồ, càng mơ hồ thì càng không hiểu, đó chính là sáu căn (lục nhập), và như vậy là đã nhập rồi. Quý vị xem! Không hiểu rõ, thì sau đó sẽ phải va chạm. Va chạm chính là “xúc”; va chạm khắp nơi, va chạm phía đông, phía tây, phía nam, phía bắc; va chạm phía trên, phía dưới; giống như con ruồi, va vào tường ở khắp mọi nơi. Tại sao phải va chạm vào tường? Bởi vì muốn hiểu rõ. Quý vị chưa nghe ai giảng như vậy phải không? Không có một phương pháp cố định. Cứ nói sao có đạo lý thì nói, không có đạo lý thì cũng nói ra để hiểu.


Xúc chính là va chạm, va chạm vào tường ở khắp nơi. Đến nơi nào cũng đều muốn hiểu rõ. Ai mà không biết là va vào tường sẽ bị đau, nhưng chỉ vì muốn hiểu rõ. Sau khi va chạm, sẽ có “thọ” (cảm thọ). “Ui da! Tôi đau.” “Ô! Tôi cảm thấy tự tại thoải mái.” Bây giờ tôi không va vào tường, bây giờ tôi rất thoải mái; khi va vào tường, tôi cảm thấy rất khó chịu. Không có ai nói tôi không tốt, thì tôi cảm thấy rất vui vẻ; có người nói tôi không tốt, tôi lại cảm thấy không vui. Quý vị xem, đây chính là thọ (cảm thọ), cũng tại ngay nơi này, không phải ở bên ngoài, đừng đi tìm ở bên ngoài.


Mười hai nhân duyên này, giảng đến “thọ” (cảm thọ). Sau khi cảm thọ rồi, có sự lãnh thọ, thì sẽ sanh ra một loại “ái” (yêu thích). Đối với những cảnh thuận, sẽ sinh ra sự yêu thích; đối với những cảnh không thuận, sẽ sinh ra sự chán ghét. Chán ghét là không vui rồi! Tại sao lại có sự vui vẻ? Tại sao lại có sự không vui? Chính là vì có sự yêu thích và sự ghét bỏ. Ghét bỏ chính là không muốn, là chán ghét. Vì vậy, phiền não cứ mỗi ngày một tăng lên.

Bậc Duyên giác Thánh hiền
Đơn độc ngủ trên núi
Quán xuân hoa thu tàn
Hiểu mười hai nhân duyên.

Mùa xuân thì vạn vật sinh trưởng, bậc Duyên Giác thánh nhân ở đây:

“Xuân đến trăm hoa nở,

Thu đến lá vàng rơi."

Họ giác ngộ rằng tất cả mọi sự vật đều có sanh diệt tự nhiên. Vì vậy họ quan sát “Mười hai nhân duyên” này.


Trước đây đã nói về “thọ” và “ái”. Tại sao con người chúng ta lại có cảm giác bất an? Chính là vì có sự yêu thích này. Khi có yêu thích, sẽ có sự ghét bỏ, cũng là có sự không ưa thích. Vì vậy đối với những gì mình yêu thích, sẽ sinh ra “thủ” (nắm giữ). Tại sao gọi là "thủ" (nắm giữ)? Chính là muốn được nó, muốn sở hữu nó. Bởi vì quý vị yêu thích nó, nên muốn sở hữu nó. Khi quý vị sở hữu được nó, thì thỏa mãn được ham muốn dục vọng của mình. Vậy tại sao lại muốn thỏa mãn ham muốn dục vọng của mình? Chính là vì tâm quý vị muốn sở hữu nó, vì vậy có “hữu” (sở hữu). Vì có “hữu”, quý vị muốn có được những thứ thuộc về mình. À! Muốn cái này thuộc về quý vị, thì sẽ có “tái sanh”. Khi có tái sanh, thì cũng sẽ có “lão tử” (già chết). Vì vậy, mười hai nhân duyên này chính là điều mà các bậc Duyên Giác thánh nhân tu hành.

 

 

4. Pháp Giới của Thanh Văn

Ai đối xử với chúng ta không tốt, chúng ta nên phát nguyện sau khi thành Phật thì sẽ độ họ trước.

 

Thanh Văn chúng Tăng
Bất luận nữ nam
Tứ đế quán hành
Ẩn thật thị quyền.

Tạm dịch :

Thanh văn chúng Tăng
Dù nam hay nữ
Quán hành bốn Đế
Ẩn thật hiển quyền.


Bây giờ giảng về pháp giới của bậc Thanh Văn. Thanh Văn gồm có Sơ quả, Nhị quả, Tam quả và Tứ quả Thanh Văn. Trong đó lại phân ra Sơ quả hướng - là chưa thật sự chứng được Sơ quả, chỉ hướng đến Sơ quả, cho nên gọi là Sơ quả hướng, Sơ quả ; Nhị quả hướng, Nhị quả ; Tam quả hướng, Tam quả; Tứ quả hướng, Tứ quả.

Bậc Thanh Văn cũng gọi là A La Hán, cũng gọi là La Hán. Bậc La Hán có thể phi hành biến hóa, có thần thông. Bậc chứng quả A La Hán thì không tùy tiện nói: "Ai đã chứng quả rồi !", "Tôi là A La Hán !" Không được như thế ! Bởi vì Thánh nhân chứng quả, khi họ đi bộ thì giày không chạm đất, quý vị thấy họ có vẻ như đi trên đất, nhưng thật sự họ đi ở trong hư không, giày không chạm đất cũng không dính bụi, thậm chí đi trong bùn, chân cũng sạch sẽ. Ví dụ như Hòa Thượng Pháp Thuận (Sơ tổ tông Hoa Nghiêm}, đi trong bùn mà giày không dính bùn, đó là một sự biểu hiện của bậc Thánh nhân đã chứng quả. Quý vị không thể nào tự xưng: "Tôi đã chứng quả rồi!"

Có một đệ tử của tôi, rất tự biết mình có trí tuệ thông minh. Tôi hỏi anh ta chứng quả gì rồi? Anh ta nói: "Con chứng được thủy quả (trái cây)." Chứng được 'thủy quả" (quả trái cây), đại khái có thể nói là đi trong nước mà không sợ nước (thủy)!

Sơ quả Thanh Văn thì đã đoạn được kiến hoặc, Nhị quả thì đã đoạn được tư hoặc, Tam quả thì đã đoạn được trần sa hoặc, Tứ quả cũng đã đoạn được trần sa hoặc, phá được chút vô minh, nhưng chưa hoàn toàn phá sạch vô minh. Khi vô minh phá sạch rồi thì sẽ thành Phật. Bậc Đẳng Giác Bồ Tát vẫn còn một phần sanh tướng vô minh chưa phá, cho nên không thể thành Phật. Bậc Tứ Quả Thánh nhân thì họ tu pháp gì ? Các Ngài tu pháp này ai ai cũng đều biết, chúng ta ai ai cũng đã từng nghe qua, đó là Khổ, Tập, Diệt, Đạo (là Tứ Diệu Đế).

Đức Thích Ca Mâu Ni Phật, khi vừa thành Phật, trước tiên đến vườn Lộc Uyển để độ năm vị Tỳ-kheo đó là Kiều Trần Như, Ma Thắng, v.v... Năm vị Tỳ kheo này vốn là bà con thân thích của Phật, đã từng theo Phật tu hành, nhưng không chịu được khổ hạnh. Khi Phật ở núi Tuyết Sơn, mỗi ngày chỉ ăn một hạt mè, một hạt lúa mạch, đói gầy trơ xương như củi khô, vì đói chịu không nổi nên có ba người bỏ cuộc, họ nói rằng: "Chịu khổ không nổi rồi!" — chỉ còn hai người ở lại. Về sau, vào một ngày nọ, Đức Thích Ca Mâu Ni Phật ở tại Lạp Bát Na được một vị thiên nữ dâng cúng sữa bò, Đức Phật nhận và uống, thì hai Tỳ kheo còn lại cũng bỏ đi. Nhưng hai Tỳ kheo này bỏ đi không phải vì chịu khổ không nổi, mà vì thấy Phật uống sữa thì cho rằng Phật không còn giữ tu hành khổ hạnh, họ nói :"Tu hành phải tu khổ hạnh, phải hành khổ hạnh, bây giờ Ngài đã uống sữa, không thể chịu khổ được nữa rồi !" Năm vị này đều bỏ đi và đến vườn Lộc Uyển.

Sau khi Đức Thích Ca Mâu Ni Phật thành Phật, trước hết Ngài nói "Kinh Hoa Nghiêm", chẳng có người nào nghe hiểu được, sau đó "vì chân lý mà dùng phương tiện" (vi thật thí quyền), Đức Phật nói "Kinh A Hàm". Nói cho ai nghe ? Phật quán sát thì biết được cơ duyên :"A ! Năm vị cùng tu với ta trước kia, trước hết ta nên đi đến độ họ. Tại sao phải đi đến độ họ trước? Vì trong quá khứ ta đã phát nguyện : Nếu ta thành Phật thì trước hết sẽ đi độ người đã hủy báng ta, giết ta, người đối xử với ta tệ nhất, ta phải đi độ họ trước". Ai đối với Phật xấu xa nhất ? Không biết quý vị đã đọc Kinh Kim Cang chưa ? Trong Kinh Kim Cang có nói về vua Ca Lợi. Khi Đức Phật còn tại nhân địa tu hành thì làm vị tiên tu nhẫn nhục, bị vua Ca Lợi chặt chân tay. Tại sao vua Ca Lợi lại chặt thân thể ngài? Vì trong quá khứ tiền thân của Đức Phật làm vị tiên tu đạo, tu khổ hạnh ở trong rừng. Một ngày nọ vua Ca Lợi mang theo cung nga, thể nữ, phi tần đi vào rừng núi săn bắn. Nhưng những người nữ nhân này thích đi chơi, không theo vua đi săn. Khi những người nữ nhân này đi lên đến núi thì thấy một vị hình thù quái dị không biết đó là gì ? Vì lông mày vị này thì dài ba tấc, tóc thì dài hai thước, chưa khi nào tắm rửa, bụi bặm bám dày đầy người, quần áo bụi bặm dính dày khoảng một tấc. Những người nữ nhân này thấy như vậy, không nhận dạng được vị tu hành đó bèn nói :"A! Đây là yêu quái ! Đây là yêu quái ! Chúng ta hãy mau mau bỏ chạy."

Vị tu hành này bèn nói:

- Quý vị đừng chạy! Tôi không phải là yêu quái!"

Tất cả nghe như vậy bèn nói:

- Ủa! Ông ta có thể nói được.

Trong số đó có một người rất can đảm hỏi:

 - Ông ở đây làm gì vậy?"

Vị tu hành đáp:

- Tôi ở nơi này để tu hành.

- Thế nào gọi là tu hành?

- Tôi tu hành để muốn được thành Phật.

Vị tu hành bèn nói pháp cho một số nữ nhân này nghe. Sau khi nghe nói pháp xong, tất cả những nữ nhân đều có thiện cảm với vị tu hành, họ hỏi:

– Ông sống ở đây khổ như vậy, ông ăn gì để sống?

Vị tu hành đáp:

– Ta ăn rễ cỏ, lá cây... có gì ăn nấy, ta cũng không xuống nhân gian để khất thực.

Không bao lâu, tất cả những người nữ nhân này không còn sợ vị tu hành này nữa. Người này thì sờ lông mày ông, người kia thì chạm vào tay ông, người khác lại chạm vào mặt ông. Như thể thấy một vật quý mến yêu thích, họ đều muốn lại gần vị tu hành.

Những người nữ nhân này quây quần quanh vị tu hành một hồi thì không còn sợ gì nữa, càng muốn gần gũi vị tu hành để hỏi đạo.

Lúc đó vua Ca Lợi đi săn về, bèn đi khắp nơi tìm thê thiếp phi tần của mình, thì thấy họ quây quần chung quanh vị tiên nhân, không biết họ đang làm gì. Vua Ca Lợi bèn thầm lặng từ từ đi đến để nhìn, thì vua thấy Hoàng Hậu vợ của ông và nhiều thể nữ đang nói chuyện cùng một người kỳ quái, kẻ thì sờ tay người kỳ quái này, kẻ thì chạm vào chân người kỳ quái, thật không giữ quy tắc gì cả!. Do đó Vu Ca Lợi sanh lòng đố kỵ, nóng giận nói :

- Ông ở đây làm gì ?

Vị tiên nhân đáp :

- Tôi ở đây tu đạo.

Vua hỏi :

- Ông tu đạo gì ?

Vị tiên nhân đáp :

- Tôi tu hạnh nhẫn nhục.

Vua hỏi :

- Nhẫn nhục là gì ?

Vị tiên nhân đáp :

- Tức là ai mắng tôi, đánh tôi, tôi cũng không sanh tâm sân hận.

Vua Ca Lợi nói:

– Ngươi chỉ giỏi lừa gạt mấy người phụ nữ này thôi! Họ tin ngươi, chứ ta thì không tin đâu! Ngươi mà nhẫn nhục được à? Thật hay giả?

Vị lão tu hành đáp:

– Dĩ nhiên là thật.

Vua quát lớn:

– Ngươi nói thật à? Để ta thử xem!

Vua bèn lấy bảo kiếm đeo trên mình ra chặt cánh tay vị lão tu hành , hỏi :

- Ta đã chặt đứt cánh tay nhà ngươi, nhà ngươi có sân hận chăng ?

Vị lão tu hành đáp :

- Tôi không sân hận.

Vua nói :

- À! Được rồi! Ông không sân hận! Ông thật có một chút bản lãnh, nhưng ta vẫn thấy ông là người chuyên vọng ngữ. Tâm ông đang sân hận, miệng thì nói không sân hận, nhưng không gạt được ta. Ta là một người rất thông minh, ông không thể nào gạt được ta đâu."

Vua nói tiếp:

- Được rồi! Để ta chặt tiếp một cánh tay nữa thử xem nhà ngươi có sân hận chăng ?

Nói xong bèn chặt tiếp cánh tay thứ hai, rồi hỏi :

- Nhà ngươi có sân hận chăng ?

Ông ta đáp :

- Cũng chẳng sân hận.

Vua Ca Lợi lại nói:

- Được rồ! Ông nói rằng ông có thể nhẫn nhục không sân hận, vậy ta sẽ chặt nốt hai chân, xem thử nhà ngươi có sân hận không ?

Do đó vua chặt đứt hai chân của lão tu hành, rồi lại hỏi :

- Nhà ngươi có sân hận không ?

Lão tu hành, đáp :

- Tôi cũng không sân hận. Không những tôi không sân hận, mà khi tôi thành Phật, thì người đầu tiên tôi độ nhất định sẽ là ông.

Đó là sự phát nguyên của Phật.

Vị lão tu hành nói:

– Tôi không sân hận. Vậy làm sao chứng minh? Nếu tôi có tâm sân hận, thì tay chân tôi không thể phục hồi lại như cũ. Còn nếu tôi thật không có sân tâm, thì dù ông có chặt tay chân tôi, chúng sẽ phục hồi trở lại như cũ. Nếu phục hồi được như cũ, thì chứng minh là tôi thật không sân hận. Nếu có sân hận, thì tay chân tôi sẽ không phục hồi.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni tại nhân địa, sau khi phát nguyện xong, tay chân ngài quả nhiên hồi phục lại như cũ.

Lúc đó Thiên Long Bát Bộ Hộ Pháp thiện thần thấy vua Ca Lợi quá ác độc, đã chém đứt tứ chi của một bậc tu hành, nên liền giáng mưa đá đánh vua Ca Lợi.

Vua biết gặp người có đại thần thông, bèn quỳ xuống xin sám hối.

Vị tu hành phát nguyện:

– Nếu tôi không thành Phật, thì không còn gì để nói. Nhưng nếu một ngày nào đó tôi thành Phật, thì người đầu tiên tôi độ sẽ là ông. Nếu ông không giác ngộ, không thành Phật, thì tôi cũng nguyện không thành Phật.

Chính vì đại nguyện ấy, sau khi Đức Phật thành đạo, Ngài đến Lộc Uyển để thuyết pháp lần đầu tiên, độ Kiều Trần Như – chính là tiền thân của vua Ca Lợi. Vị tu hành bị chặt tay chân ngày xưa chính là tiền thân của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.

Phật từng phát nguyện: “Người nào đối xử với ta xấu nhất, khi ta thành Phật, ta sẽ độ người ấy trước.”

Chúng ta nghe công án này rồi, thì phải học theo Phật: Người nào đối với ta càng tệ, ta càng phải phát nguyện thành Phật để độ họ trước. Chớ khởi ác niệm: “Ngươi đối với ta thế này, đợi ta thành Phật rồi, ta sẽ bắt ngươi xuống địa ngục!” – Không nên phát nguyện như vậy.

Sau đó, Đức Phật đến vườn Lộc Uyển, vì năm anh em Kiều Trần Như mà chuyển pháp luân ba lần, giảng pháp Tứ Diệu Đế.

Lần thứ nhất, Ngài nói:

– Đây là Khổ, tánh chất bức bách;
– Đây là Tập, tánh chiêu cảm;
– Đây là Đạo, tánh có thể tu;
– Đây là Diệt, tánh có thể chứng.

Lần thứ hai, Ngài nói:

– Đây là Khổ, ta đã biết, không cần biết thêm;
– Đây là Tập, ta đã đoạn, không cần đoạn thêm;
– Đây là Đạo, ta đã tu, không cần tu thêm;
– Đây là Diệt, ta đã chứng, không cần chứng thêm.

Lần thứ ba, Ngài nói:

– Đây là Khổ, các ông nên biết;
– Đây là Tập, các ông nên đoạn;
– Đây là Đạo, các ông nên tu;
– Đây là Diệt, các ông nên chứng.

Nói xong ba lần chuyển pháp luân Tứ Đế, Đức Phật bảo Kiều Trần Như:

– Ông hiện đang bị khách trần làm phiền, chưa được giải thoát.

Vừa nghe hai chữ “khách trần”, Kiều Trần Như liền khai ngộ.

“Khách” là gì? Là không phải chủ nhân.

“Trần” là gì? Là những thứ dơ bẩn của trần ai, tức là một thứ không trong sạch.

Tự tánh của ta chính là chủ, là thanh tịnh.

Ngay khi đó, ông Kiều Trần Như khai ngộ, gọi là Giải Bản Tế, tức là hiểu rõ đạo lý bổn lai diện mục, chứng đắc quả vị Giải Không Đệ Nhất trong hàng Thanh Văn.

Tứ Diệu Đế nếu nghiên cứu sâu thì vô tận vô biên. Nhưng thời gian hôm nay cũng không đợi chúng ta, cũng không đợi quý vị, nên xin chấm dứt tại đây.

Hôm nay chúng ta giảng về:

Thanh văn chúng Tăng
Dù nam hay nữ

Không phân biệt nam nữ: Việc chứng quả, nữ giới cũng có thể chứng quả, nam giới cũng có thể chứng quả. Người chứng quả gọi là Thanh Văn, tức là A-la-hán.

Chẳng hạn, mẹ của ngài Cưu Ma La Thập là một vị Thánh nhân đã chứng Tam quả (tức A-na-hàm).

Tiếp theo là

Quán hành bốn Đế

“Quán hành” có nghĩa là quán sát để tu hành, tức là tu hành bằng sự quán chiếu chân lý.

Quán sát và tu hành cái gì? Chính là tu theo pháp Tứ Diệu Đế – gồm:

Khổ: phải biết rõ tính chất của khổ;
Tập: phải đoạn trừ nguyên nhân gây khổ;
Diệt: phải hâm mộ, ưa thích sự diệt khổ;
Đạo: phải tu tập con đường diệt khổ.

Nghĩa là phải biết khổ, đoạn tập, mộ diệt, tu đạo – đây chính là pháp môn tu hành của Tứ Diệu Đế.

Ẩn thật hiển quyền: Ý nghĩa của “ẩn thật thị quyền” là: các vị Thanh Văn, tuy nhìn bề ngoài là Thanh Văn nhỏ, nhưng thật ra có những vị là Đại Bồ Tát thị hiện, giả làm hình tướng của Thanh Văn để giáo hóa chúng sanh – nên gọi là “ẩn thật” và “hiển quyền”.

Ẩn thật là ẩn giấu công đức, quả vị chân thật của mình;

Hiển quyền (thị quyền) là hiển bày phương tiện quyền xảo, tạm thời hiện thân làm Thanh Văn.

Vì vậy, chúng ta chớ nên xem thường Thanh Văn, cho rằng họ là tiểu thừa, thấp kém. Không phải vậy! Trong số họ, có nhiều vị là Đại Bồ Tát tái lai. Tuy không phải tất cả đều là Bồ Tát, nhưng nhất định có những vị như thế.

Các vị Bồ Tát Đại thừa ấy vì muốn dẫn dắt người căn cơ Tiểu thừa, nên tạm hiện thân Tiểu thừa, rồi sau đó chuyển Tiểu thừa sang Đại thừa, nên gọi là “ẩn thật hiển quyền”.

Đây chính là ý nghĩa sâu xa của pháp giới Thanh Văn.
 

 

 

(còn tiếp)