Chinese and English | Vietnamese

Nguyên nhân xa xưa về pháp danh xuất gia của chúng tôi

Viết bởi Loni Baur (Trước kia là Hằng Ẩn)

Dịch từ bài Previous Causes for Our Left Home Names trong báo Vajra Bodhi Sea số tháng 10, 2010 trang 33-34

Sư Cô Hằng Ẩn là một trong năm đệ tử người Mỹ xuất gia đầu tiên của Hòa Thượng tại Hoa Kỳ . Trong hình Sư Cô Hằng Ẩn là người thứ tư từ bên trái.
 

   ※ ※ ※ ※ ※

 

Trên chuyến bay từ New York tới San Diego, ngày 12 tháng hai năm 1973, Sư phụ nói:

“Hãy ghi lại:

Tiền Khiêm, Ninh Tĩnh, Hằng Thọ Tiên,

Dật Ẩn, Tu Trì  năm đóa sen;

Pháp hội Lăng Nghiêm năm 1968,

Truyền bá Phật pháp hóa hữu duyên. (1)


Đây là một bí mật, hảy khoan để người khác biết được.Ta đã viết bài kệ này nhiều năm về trước. Khi các con thấy bài kệ này, các con sẽ biết rõ mình là ai”. 

Sáng hôm sau tại nhà Ưu Bà Di Phương, Sư phụ nói với Hằng Trì, Hằng Hiền và tôi: “Bài kệ thầy nói với các con ngày hôm qua được viết khi thầy đang thủ hiếu bên cạnh mộ mẹ .  Ngay lúc đó  Lục Tổ và thầy đã đàm luận về những vấn đề này (2). Hôm qua thầy quan sát nhân duyên và thấy những Tỳ Kheo Ni các con có thể biết lời nguyện này được rồi; đó là những việc đã xảy ra nhiều thập niên về trước."


   ※ ※ ※ ※ ※

Khi tôi đến gặp Hòa thượng, tôi chỉ biết được hai điều: Một là tôi lạc lỏng một cách tuyệt vọng trong một thế giới đầy khổ đau, hai là Hòa thượng có thể chỉ dạy cho tôi con đường thoát khỏi khổ đau và giúp những người khác thoát khổ. 

Mùa này qua đi, mùa khác đến, hết năm này qua năm khác, Hòa thượng không mệt mỏi thuyết giảng diệu pháp, và các đệ tử của ngài tu học. Nhưng hơn thế, chúng tôi đã học từng lời nói, từng cử chỉ của Sư phụ vì ngài làm đúng như lời ngài dạy (ngôn hành như nhất). Từ bi hỷ xả là ngôn từ, nhưng chúng tôi là những người được ngài ảnh hưởng đều biết rằng, ngoài lời nói, ngài còn nhận biết, nuôi dưỡng và giúp tăng trưởng tự tính tốt đẹp nhất và sáng lạn nhất trong mỗi chúng tôi như thế nào.

Vài năm trước, tôi đã mơ thấy mình trôi đến tận cùng của vũ trụ. Tôi quay lại nhìn về trái đất đang nhỏ dần như một hạt bụi xa xôi. Khi tôi đứng đó trong bóng tối với các vì tinh tú chung quanh, tôi nhìn xuống và nhận thấy mình đang đứng trên đâu: đó là một con mắt. Và con mắt này nằm trong lòng một bàn tay. Và tôi nhận ra bàn tay này là của Sư phụ mình. Sau đó tôi nghe tiếng Ngài nói, vừa từ hòa và cũng vừa hóm hỉnh:  “Con thấy không? Con có thể chạy... nhưng không thể chạy thoát được đâu.” 

 

Ghi chú của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ:

 
(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

前謙寧靜恒授先,逸隱修持五朵蓮;

一九六八楞嚴會,宣揚佛教化有緣。

Tiền khiêm ninh tĩnh hằng thọ tiên,

Dật ẩn tu trì ngũ đóa liên;

Nhất cửu lục bát (1968) Lăng Nghiêm hội,

Tuyên dương Phật giáo hóa hữu duyên.

 
Trong quyển Cuộc Đời và Đạo Nghiệp của HT Tuyên Hóa - Giai đoạn ở Trung Hoa trang 118 có ghi lại:
 
Ghi chú: Khi kết thúc khóa ging kinh Lăng Nghiêm mùa Hè năm 1968, có năm người M, ba nam, hai n - xut gia. Năm 1969, năm vnày thgii CTúc ti chùa Hi Hi, Cơ Long, Đài Loan. Từ đó Tây phương bt đầu chánh thc có T Kheo (Ni). Ba v T Kheo là: QuTin Hng Khiêm, Qu Ninh Hng Tĩnh và QuTiên Hng Th; hai vTKheo Ni là: QuDt Hng n và QuTu Hng Trì. 
 

(2) Là thời gian từ năm 1937 đến 1940. Trong quyển Cuộc Đời và Đạo Nghiệp của HT Tuyên Hóa - Giai đoạn ở Trung Hoa trang 117 có ghi lại:

 

Có mt hôm, cũng không phi là ban ngày và cũng không phi là ban đêm, tc ngay lúc tri va nhá nhem ti, Lc Tổ Đại Sư đến. Tôi thy có mt vHòa Thượng ti, mc áo tràng xám, khong 50-60 tui. Ngài nói các đạo lý, dy tôi cách tu hành, bo rng: “Tương lai con sẽ đến nước M, gp các người như vy vy… Xong, Ngài ht nhiên biến mt. Lúc đó tôi cũng không phi ngmơ mà li thy được Lc T, tht kdiu thay!”