English | Vietnamese

Còn Nhiều Thời Gian

 

Nguyên tác:

Lots of Time Left

A Journal by Dr. Martin Verhoeven, Ph. D

First Printing: 1977

Second Printing: 2003

© 2003: Buddhist Text Translation Society

Dharma Realm Buddhist University

Dharma Realm Buddhist Association

 

 

Nhật Ký của anh Marty

Khi những người mới đến Tu viện Kim Sơn Thánh Tự ở San Francisco gặp được giáo lý và thực hành Phật pháp chân chánh, họ không chỉ gặp những cảnh tượng và âm thanh xa lạ mà những sự việc khác thường có thể sẽ diễn ra ngay trong chính họ. Đôi khi những cảm ứng này xảy ra ở bên trong một cách từ từ; những người mới đến khác thì có những cảm ứng rất mạnh, ngay lập tức và chưa từng có trước đây trong cuộc sống hiện tại của họ. Trong mỗi trường hợp, dù mãnh liệt hay nhẹ nhàng, từ từ hay đột ngột thì những cảm ứng có thể đưa người ta hướng thiện, một sự tăng trưởng về sự tinh tấn, tâm an lạc, và quyết tâm giác ngộ.

Tập sách này mô tả những cảm ứng một người Mỹ đã kinh nghiệm qua khi đến Tu viện Kim Sơn Thánh Tự vào năm 1976. Hằng Triều (là pháp danh của anh một năm sau đó, khi anh thọ giới Sa Di - một nhà sư tập sự) tự thuật lại những kinh nghiệm của mình. Sau khi gặp được Phật Pháp, những việc thù thắng xảy đến với anh đã chín mùi đưa đến sự sùng kính Phật pháp mạnh mẽ và tinh tấn tu hành đã minh chứng cho quá trình tu tập trong những kiếp quá khứ, và chứng thực cho sự thành công của anh trong tương lai trên đường Đạo .

Ðược sinh ra ở tiểu bang Wisconsin vào năm 1946, anh Marty trưởng thành trong một gia đình công giáo rất gần gủi nhau; anh cùng ba người chị đã thừa hưởng một nền giáo dục lành mạnh và bền vững . Anh mô tả cha mẹ mình là những người nhạy cảm, tử tế và vui vẻ , những người đã luôn khơi nguồn cảm hứng cho con cái tìm hiểu về thế giới tâm linh. Sự giáo dục ban đầu của anh nằm trong môi trường đạo Công giáo cùng với những thầy cô giáo là các linh mục và sơ. Quá trình học tập tại trường trung học của anh rất nổi bật: là học sinh danh dự, một vận động viên xuất sắc, chủ tịch hội học sihh; anh đang đi trên con đường thành công trong xã hội chuyên nghiệp. Nhưng ngay từ lúc đó anh đã thấy rõ rằng mù quáng chấp nhận con đường bình thường ấy không phải là con đường cuộc đời của mình - sau khi tốt nghiệp trung học phổ thông, anh suýt tham gia chương trình đào tạo chủng sinh của Dòng Sư Huynh Cơ Đốc Giáo (Christian Brothers) - chỉ đổi ý vào phút chót.

Tại trường Đại Học Wisconsin, anh Marty đạt được văn bằng cử nhân và một bằng thạc sĩ về lịch sử và được học bổng Ford Foundation Fellowship cho việc học sau đại học. Trong lúc còn là sinh viên, anh đã bắt đầu thí nghiệm những lối sống khác nhau cùng những thực tế khác nhau. Anh trở nên giỏi về võ thuật (anh đi du lịch ở Nhật và Đại Hàn, và được đai đen võ Karate Đại Hàn), cống hiến thời gian cùng lòng từ bi với tư cách là người khách thăm viếng và là một nhà cố vấn cho những người bị bệnh tâm thần và những trẻ em bị xáo trộn tâm lý.

Anh Marty thấy không thỏa mãn về bề mặt trong cuộc sống với những mưu cầu tầm thường, cuối cùng đã dẫn đến sự thay đổi quan trọng. Quyết định từ bỏ việc học cao học và hủy bỏ cuộc hôn nhân 8 năm của anh đã phản ảnh được về nhu cầu nhằm khám phá nguồn gốc tư tưởng của mình và để hiểu những lý do đằng sau những đau khổ mà anh đã chứng kiến trên đời. Nỗi bồn chồn gia tăng thôi thúc anh vào những chuyến lái xe mô tô thật nhanh, những chuyến hành trình mang ba lô đi một mình trên núi, cùng những thí nghiệm nguy hiểm khác, " Tôi đã đi những chuyến đi tử thần một thời gian", anh viết, "đẩy tôi càng lúc càng gần hơn tới bờ mé của điên loạn và thực tế. Tôi đang cố làm giảm thiểu cái bản ngã và tìm tự tánh chân thật của tôi với bất cứ giá nào. Thật may tôi ý thức dừng lại sự tự hủy hoại vô lý này trước khi tôi gây ra những thương tổn vĩnh viễn cho thân này.

Vào năm 1975 và 1976, anh Marty sống tại thành phố Berkeley nơi anh dạy Thái Cực Quyền tại trường Văn Võ (Wen Wu) và làm việc ở một nhà trẻ. Một thông báo về khóa trì tụng Chú Đại Bi khiến anh tới Tu viện Kim SơnThánh Tự, và khởi nguồn cho con đường tu tập của anh trong kiếp này. Vào ngày thứ năm của khóa trì tụng, anh trở thành đệ tử của Hòa Thượng Tuyên Hóa.

Suốt năm sau, việc tu tập của anh Marty ở nhà trở nên đều đặn và vững chắc. Anh thức dậy lúc 5 giờ sáng, tụng công phu sáng, ngồi thiền một tiếng, tập Thái Cực Quyền, sau đó đứng thiền một giờ đồng hồ. Sau 10 tháng tu tập như người Phật Tử tại gia, anh thọ 10 giới trọng và 48 giới khinh Bồ Tát Giới, và lập lời thệ nguyện mới để giúp đỡ sự tu tập của mình. Vào tháng 4 năm 1977, anh dời đến Tu viện Kim Sơn Thánh Tự để chuẩn bị hoàn thành lời thệ nguyện của mình là cùng đi, trợ giúp và bảo vệ Tỳ Kheo Hằng Thật trên đường hành hương vừa đi vừa lạy từ thành phố Los Angeles đến Vạn Phật Thành, cách San Francisco 110 dặm về phía bắc. Chuyến đi bắt đầu vào ngày 7 tháng 5 năm 1977.

Anh Marty được phép bước vào đời sống tu sĩ từ đây. Anh được cạo đầu, và thọ 10 giới sa di. Tên anh trở thành là Hằng Triều. Anh viết "Vào một lúc nào đó, tôi nhận ra rằng không có gì đáng giá để làm trên thế gian này ngoài việc tu tập để có trí tuệ và nói cho người khác biết về Phật pháp. Hoa Kỳ đã chín mùi cho Phật giáo. Chúng ta cần những đạo lý của Đạo Phật và sự nhấn mạnh về đạo đức, lòng kiên nhẫn, và sự siêng năng chăm chỉ của Đạo Phật. Chúng ta những người Mỹ có thể không cần tìm kiếm sự bình an và hạnh phúc từ bên ngoài nữa. Chúng ta đã đến mức giới hạn của việc phát triển ra bên ngoài. Bây giờ đã đến lúc lắng nghe và thực hành những đạo lý của Phật Pháp, chuyển năng lực của chúng ta vào bên trong, và khám phá ra rằng việc tìm kiếm thiên đường đã từng khiến đưa người ta đến nước Mỹ cuối cùng kết thúc trên sự khám phá và thanh tịnh của chính tâm mình."  

 

Quyết định đến Tu viện Kim Sơn Thánh Tự

 

Tôi vừa trở lại phòng tập Thái Cực Quyền sau một giờ đứng thiền ở một cánh đồng gần đó. Trong lúc đang uống tách trà, tôi chú ý đến tờ giới thiệu thông báo về Pháp hội trì tụng chú Đại Bi tại Tu viện Kim Sơn Thánh Tự ở thành phố San Francisco. Tò mò về ngôn ngữ của tờ giới thiệu, tôi đọc tiếp. Khi đọc tới phần nói rằng ngàn mắt quan sát, ngàn tai lắng nghe tất cả, ngàn tay giúp đỡ và cứu vớt chúng sanh mọi nơi, thì tôi bắt đầu cảm thấy rùng mình và run rẩy cả người. Cảm giác như run khắp mình, kiểu như làm cho mũi và mắt cay xè và đau nhói trước khi nước mắt tuôn ra. Ngạc nhiên và giật mình một chút, tôi quyết định đọc lại lần nữa. Cũng giống như vậy khi đến đúng những câu đó. Điều này xảy ra ba lần liên tiếp – rùng mình, run rẩy và gần khóc. Tôi quyết định tham dự khóa tu, không biết gì về việc ngồi thiền, tụng kinh, Thiền, và không màng đến những vị tăng ni trông khổ hạnh và kỳ lạ trong hình. Suốt tuần trước kỳ khóa tu, những câu trong tờ giới thiệu dính chặt trong tâm trí tôi. Tôi thấy mình đang nghe những câu này một cách vô thức và lặp lại một cách có ý thức.

 

Khóa tu Đại Bi (ngày 9 tháng 4 năm 1976)

Ngày tôi dự trù rời nhà đến Tu viện Kim Sơn Thánh Tự, ba người bạn phụ nữ (gồm người vợ trước đây của tôi) gọi điện thoại mời tôi tham dự các các việc gì đó diễn ra cùng lúc. Tôi từ chối họ, nhưng thắc mắc về sự trùng hợp. Tôi đến tu viện và rồi thối lui - sợ hãi không dám vào. Trông thấy các thành viên Tăng Đoàn trông kỳ lạ, đầu tóc cạo nhẵn và sự bình dị của tòa nhà (một xưởng làm nệm được sửa đổi lại tại trung tâm khu Mission). Tôi nhớ lại sự rùng mình khi đọc thông báo và  bước vào ghi danh. Hầu như ngay lập tức sự gặp lại (déja vus) bắt đầu. Đầu tiên tôi có kinh nghiệm gặp lại với những người tại đó, và sau đó với các màu sắc, các nghi lễ, mùi vị, và v.v...tôi cảm thấy bị đẩy chới với vào vực thẳm, tuy nhiên cũng là nơi thân quen giống như ở nhà vậy.

 

Ngày 10 tháng 4 năm 1976

Trông thấy hoa sen xanh chiếu sáng trong lúc đang ngồi thiền sau khi trì tụng. Chống lại việc lễ lạy, đặc biệt là đối với Hòa Thượng. Dường như có vẻ quá tôn thờ đạo sư và thuần phục.
 

Ngày 12 tháng 4 nãm 1976

Buổi giảng kinh. Tôi cảm thấy như Hòa Thượng đang nói trực tiếp với tôi. Bài giảng và lời dẫn giải phơi bày chính những ý nghĩ của tôi và phù hợp với hoàn cảnh hiện tại của tôi thật chính xác. Thấy ánh sáng, lạy Hòa Thượng. Cảm giác thật nhẹ nhàng, giải tỏa.

Ðặc biệt: Khi tôi ngồi nghe giảng về kinh Hoa Nghiêm thì Hòa Thượng nói thêm vài lời dẫn giải với ý này: Vài người đến với Phật giáo với quan niệm sai lầm rằng họ đã giác ngộ rồi. Hoặc kiến thức và sự học đặt họ cao hơn người khác. Họ đến Đạo Tràng để mong tìm kiếm sự được biết đến, được tôn trọng, được đặt lên bệ. Họ chứa đầy tự ngã của chính mình; mong đội mũ cao, hoặc được tôn vinh đội mũ cao. Thật đáng thương! Họ đến núi báu nhưng rời khỏi với tay không. Tôi nói cho quý vị biết: tính kiêu ngạo, thói cống cao ngã mạn là một chướng ngại; nó giống như thuốc độc vậy. Quý vị đầy ắp bản ngã đến nổi không có chỗ nào cho Phật pháp đi vào. A! Và tệ hại hơn hết là người bị phiền não bởi tính kiêu ngạo thói ngã mạn ấy nghĩ rằng " Duy chỉ có tôi là trong sạch và vô tội".

Khi Hòa Thượng nói những lời này, tôi như thức tỉnh hoàn toàn và cảm giác không thấy thoải mái, như thể là Ngài đang nói thẳng với tôi vậy. Nhưng làm sao như thế được chứ? Ngài thậm chí không hề biết gì về tôi; chúng tôi chưa từng nói chuyện với nhau, chỉ gặp nhau cách đây vài ngày thôi. Sau đó tôi nhận ra rằng tôi đã gặp người biết rõ về tôi hơn là chính tôi. Thực tế tôi là người kiêu ngạo, chưa bao giờ nhận ra được vậy, chưa bao giờ ý thức được vậy. Những lời của Ngài đã đi thấu suốt vào ngay trong tâm tôi. Tôi cảm thấy vừa xấu hổ vừa cảm thấy tự do đến lạ lùng. Tôi tự nghĩ: "Bất cứ ai có thể hiểu rõ tôi hơn là chính tôi thi tôi có thể lạy người đó dù tôi biết rằng tôi đã không chịu cúi lạy ngay lúc tôi bước vào cửa tu viện." Do vậy, sau khi buổi thuyết giảng kết thúc và mọi người đang rất kính cẩn Ngài khi Ngài ngồi trên ghế mà có cả dãy người ngồi đằng sau, tôi len vào dòng người ở sau (để cho Ngài không chú ý) và cúi lạy ba lần. Đột nhiên ngài vươn cổ lên nhìn thẳng vào tôi với nụ cười từ bi và châm biếm kỳ lạ,  ngài hỏi “Cảm giác như thế nào ? Con có nhớ không?” tôi chắc đã đỏ mặt, và đột nhiên cứng miệng.
 

Quyết định Quy Y (ngày 15 tháng 4 năm 1976)

Giờ đây cảm giác thấy lại (déja vus) càng mãnh liệt hơn, kéo dài thường xuyên hơn và lâu hơn. Trong khi việc lễ lạy các Đức Phật dường như là một nghi lễ nhàm chán và kéo dài một cách không thể tin được, thì một điều gì đó không thể nói được diễn ra: trong vòng chỉ vài phút, cả cuộc đời tôi chiếu lại - chớp nhoáng trước mắt tôi. Mỗi sự việc, mỗi người, mỗi việc đau buồn, mỗi  sự quyết định, mối quan hệ, mỗi nơi, tiếng ồn, và mỗi cơ hội gặp gỡ đều thoáng qua rất chi tiết rõ ràng. Không nghi vấn gì cả, không cần phải nổ lực gì cả, tôi hoàn toàn thấy được cuộc sống của tôi và hiểu nó. Và kỳ lạ nhất là tất cả đều đưa đến ngay hiện tại, ngay chỗ tôi đang lễ lạy trên bục lạy này, ngay ngày hôm nay, tại tu viện Kim Sơn Thánh Tự. Tôi ở ngay nơi tôi đúng ra phải ở, ngay nơi tôi phải đến. Tôi quay về mà chưa từng rời đi. Cảm thấy như một sự gặp lại không có thời gian, bất tận, nhưng rõ ràng hơn, trọn vẹn hơn , không có sự mơ hồ. Tất cả đều hợp lý. Nó như là trò chơi mò mẫm quanh phòng tối của con nít, cố gắng nói tên đồ vật trong phòng bằng sờ mó cảm nhận vật liệu, kích cỡ và vị trí từng đồ vật. Sau khi phỏng đoán thì ai đó bật đèn lên và "Ồ, tất nhiên! Đúng là cái đó!", và đó là cái đồng hồ, là cái gối, là cây chổi; bây giờ thì tôi đã hiểu. Kinh nghiệm này thật khó diễn đạt.  

Hòa Thượng đi quanh đại chúng và bây  giờ ngồi trên ghế của ngài phía sau Phật Điện. Thầy Hằng Quán và Hằng Thật đang nói chuyện với ngài. Tôi trở lại để nói với Hòa Thượng vì đó chính là điều duy nhất mà tôi cảm thấy nên làm. Ngài là người duy nhất mà tôi muốn cố gắng nói về những kinh nghiệm của mình. Tôi chỉ nói được rất ít. Tôi cảm giác như bị nghẹn, xấu hổ và hoàn toàn bị rối trí. Tôi cảm thấy không sợ hãi, không có suy nghĩ hay quan tâm. Các giác quan của tôi cảm nhận mọi thứ rất rõ ràng, mọi thứ đều sống động nhưng xuất trần, không thể tánh hay thể chất cuối cùng. Thậm chí kiểu mẫu trên đá lát sàn nhà và vết rách trên tấm đệm lễ lạy đều có ý nghĩa. Cuối cùng tôi cũng tìm cách nói ra rằng tôi muốn quy y Tam Bảo - để trở thành một đệ tử. Những gì mà Hòa Thượng làm là mỉm cười và nói, “Hãy cố gằng hết sức mình (Try your best).”   

Sau đó tôi lên lầu vào phòng và ngồi trên cạnh giường. Tôi bật khóc không kềm chế được, khóc như thể là tôi chưa bao giờ được khóc trước đây. Tại sao tôi lại khóc khi cảm thấy tràn ngập niềm vui sướng? Một phần là cảm giác sung sướng vì mọi thứ quá thanh tịnh và tinh khiết, không có kết thúc cũng không có bắt đầu. Không có tường vách, không giới hạn, không lẫn lộn, không quá khứ và không vị lai Nhưng cũng là cảm thấy giác thật xấu hổ vì tất cả những năng lực ngu ngốc và thù hằn mà tôi đã khởi động trong quá khứ. Một phần tôi cảm thấy biết ơn vì tất cả vô số người đang hy sinh vì tôi, đang mở rộng lòng từ đối với tôi, bảo vệ tôi và giáo huấn tôi. Làm thế nào mà tôi có thể báo đáp lòng từ bi của họ? Tôi cảm thấy tràn ngập những cảm xúc về lòng ích kỷ, lòng không biết đủ, và tội lỗi. Cuối cùng tôi khóc vì sợ và buồn khởi lên bởi cái thấy về những gì sẽ đến. Và hơn hết, tôi cảm thấy một sự trống rỗng thanh bình và thuần khiết. Tôi cảm giác như ở nhà và không ở nơi nào hết. 

Suốt giờ tụng kinh tiếp theo, ba giấc mơ tôi từng nằm mơ thấy trước khi nghe về tu viện Kim Sơn Thánh Tự trở lại trong tâm trí tôi với sự cọng hưởng phi thường. Và lúc này những giấc mơ đó đều có ý nghĩa. Thứ tự giấc mơ xảy ra, những người trong giấc mơ, những hình ảnh và cuộc đối thoại trong mơ đều phù hợp. Trong lúc tôi bước đi và tụng niệm trong khóa tu thì mỗi giấc mơ lại tái hiện nối tiếp nhau rất rõ ràng. Mỗi giấc mơ giải ra nhiều điều bí ẩn và thêm vào chiều kích phi thường khác đối với kinh nghiệm của tôi ở tu viện Kim Sơn Thánh Tự. Tất cả những giấc mơđều mang nhiều ý nghĩa va hướng dẫn tâm linh phong phú. Bổng nhiên tôi hiểu ra và thấu hiểu thông điệp của những giấc mơ này. Một loại như đập nước bùng vỡ trong tâm trí tôi. Nước, đông cứng phía sau đập bây giờ chảy thác loạn và nhanh chóng.

 

Giấc mơ thứ nhất

Giấc mơ này xảy ra sau một căn bệnh kéo dài mà tôi đã chịu đựng sau khi suýt chết ở thung lũng Tử Thần trong một chuyến đi cắm trại. Thời gian chính xác là một năm trước (rằm tháng ba âm lịch). Thực tế nó không thật sự là một giấc mơ, tôi đích thật từ bỏ thể xác và du hành qua thời gian và không gian, đến vùng núi nhấp nhô khô cằn, hoang vắng. Hai người đàn ông không phải là người tây phương (Người Anglo-Tây Ban Nha-Người Ấn Độ) dẫn tôi đến một ngọn đồi thấp, và bảo tôi nằm xuống. Họ nói tôi sẽ đi vào trạng thái như ngủ và khi tôi thức dậy thì mọi thứ sẽ tốt đẹp. Họ nói tôi sẽ "biết" - không có vấn đề gì nữa và không cần sự giúp đỡ nào nữa- tôi sẽ biết rõ phải làm gì. 

Khi tôi thức dậy trên đồi thì hai người đàn ông này đã đi rồi. Tôi hoàn toàn chỉ có một mình giữa nơi không biết là ở đâu này. Tuy nhiên mọi thứ đều khác. Ở bụng dưới của tôi, quanh rốn, có một quả cầu sáng chói rực rỡ trắng bạc kích thước khoảng trái banh bowling. Ngay lúc tôi ý thức được thứ ánh sáng này trong tôi thì tôi không còn cảm thấy bị cô lập hay do dự gì cả. Tôi lập tức đi về hướng tây nam hoặc hướng đông nam. Tôi biết trườc khi đến rằng tôi sẽ tìm ra một thành phố nhỏ. 

Tôi biết được cư dân ở đó là ai và họ nói ngôn ngữ gì trước khi tôi gặp và nghe họ; tôi có thể phân biệt bạn và thù, sự lựa chọn đúng và sai, tất cả chỉ cần nhìn lướt qua. Không hành động nào đòi hỏi ý thức suy nghĩ hay cố gắng. Tất cả những gì tôi phải làm là tùy duyên và các duyên sẽ hiện ra, hiển nhiên rõ ràng. Tôi không có khó khăn trong việc giao tiếp mặc dù tôi không thể nói và hiểu ngôn ngữ của thành phố nhỏ này. Sự kiện này không quan trọng. Nếu tôi thật sự cần giao tiếp tôi có thể hiểu được bằng mắt hay trong một trường hợp, bằng việc đặt bàn tay nhẹ nhàng nhưng dứt khoát lên bụng dưới của ai đó. 

"Giấc mơ" kết thúc khi một người nào đó đi ngang qua tôi đọc mấy câu từ một bài thơ về sinh tử. Bài thơ đã làm cho người này bị lúng túng. Tôi nhận ra những câu này và hiểu ý nghĩa của chúng thật rõ ràng như thể tôi đã tự mính viết ra. Sau đó, khi tôi trở lại cơ thể đang ngủ , tôi cảm thấy hoàn toàn mất phương hướng. Cảm giác hạnh phúc và trái cầu ánh sáng bạc, việc nhìn thấy dễ dàng không cần  phải nỗ lực và cảm giác an lạc tất cả vẫn còn trong tôi. Nhưng khi tôi trở về với thế gian tôi không còn có thể liên hệ đến thế gian hay với những người tôi "biết". Thực tế vẫn giống như cũ, nhưng lại khác - tôi cảm thấy trong suốt, mỏng nhẹ như tơ. Đặc biệt là tôi không biết danh tính của thân thể gọi là "tôi" và nó liên quan như thế nào với cái "tôi" mới và khác nhiều trong cái thấy ở sa mạc. Bây giờ mọi người và những đồ vật chung quanh tôi đều xa lạ và không quan trọng như môi trường xung quanh ngôi làng sa mạc trong giấc mơ của tôi. Tôi vẫn cảm thấy dường như ánh sáng màu trắng bạc ở bên trong tôi và vẫn cảm thấy dường như nó đang hướng dẫn tôi. Tôi chỉ vượt qua những ngày đầu tiên trở về và mọi sự vật không bao giờ như trước sau kinh nghiệm đó. Thế giới mà tôi biết bị bóc đi từng lớp, từng lớp.

 

Giấc mơ thứ hai

Tôi đang leo núi và đi bộ dọc theo một đường mòn nhỏ hẹp đầy đá, trong một vùng núi hoang vắng và hiểm trở. Tôi đang mang một túi nhỏ và đi lên đường chữ chi dài. Tôi chỉ có một mình. Tôi vẫn không rõ là tôi đang đi đâu hay lý do tại sao. Mặc dù nơi đó yên tĩnh và không có người ở, có cảm giác của một cuộc đối đầu  nguy hiểm rình rập đang tỏa khắp. Có lúc tôi nhìn thấy một người đàn ông to lớn ngay phía trước (ông là người khổng lồ) và ông ta cúi mình phía sau một tảng đá. Ông có một khẩu súng trường và  đang ở trong bụi rậm chờ tôi. Tôi không chắc lý do tại sao, nhưng có vẻ như là ông đang chờ báo thù về việc gì đó mà tôi đã làm trong quá khứ với ông ta hoặc với một người thân ông ta. Khi người đàn ông sắp sửa nhắm súng, đột nhiên một hình dáng không rõ ràng (một người hướng dẫn) xuất hiện và dẫn tôi vào một hang động bên hông núi. Lối vào nhỏ và bên trong trần thấp. túi xách của tôi là một trở ngại, một chướng ngại  cho việc tự do di chuyển . Có một nghi lễ kỳ lạ hoặc buổi lễ đang tiến hành trong hang. Có tụng niệm, làm cử chỉ, lửa và chuyển động. Buổi lễ được tiến hành hầu như chỉ do một nhóm phụ nữ không có người lãnh đạo. Họ không có những đặc điểm cá nhân. Họ giúp tôi gỡ bỏ túi xách của tôi. Có việc rửa sạch bằng lửa và nước và cái gì đó liên quan đến tro diễn ra. Được làm sạch hoàn toàn và đầu được cạo một phần, tôi được dẫn ra khỏi hang. Những người phụ nữ vẫn còn ở lại bên trong. Họ dường như đoàn kết với nhau, mạnh mẽ và chắc chắn về hành động và vai trò của họ. Họ có vẻ bình an trong hang. 

Bên ngoài rất quang đãng. Có một nhóm đàn ông, tất cả đều cạo đầu. Đầu của tôi bây giờ cũng được cạo nhẵn hoàn toàn. Tôi nhận biết một người đàn ông lớn tuổi tách khỏi những người còn lại và đầu cũng cạo. Vào lúc này, người bắn tỉa rút đi khỏi nơi đó. Ông già nói với tôi một cái gì đó nhưng ông không giao tiếp bằng  lời nói. Ông có thể là ngưới châu Á hay Ấn Độ và ông có vẻ rất khác lạ. Ông chỉ vào một dãy núi xa xa. Mặc dù tôi chưa từng thấy dãy núi này trước khi tôi bước vào hang động, dãy núi này một phần bao quanh tôi trong khi tôi leo núi. Những ngọn núi trông giống như một loạt các hình nón dốc hoặc ngọn tháp (khoảng bảy ngọn). Người đàn ông nói với tôi rằng tôi phải leo lên đó - một mình. Tuy nhiên tôi sẽ có một người hướng dẫn mà sự hiện diện của người đó sẽ kín đáo và sẽ gián tiếp giúp đỡ. Tôi biết rằng tất cả các việc cần thiết và tất cả nỗ lực của sự đi lên sẽ được thực hiện bởi một mình tôi. Người hướng dẫn sẽ luôn luôn nhìn thấy được nhưng ông ấy sẽ ở bên  hông tôi và có thể thấy từ góc mắt của tôi, một bóng ngoại vi. Người hướng dẫn sẽ giữ cho tôi đi đúng đường nhưng ông sẽ không giúp đỡ tôi trực tiếp giống như chúng tôi cùng leo núi. 

Ông già tử tế nhưng nghiêm túc, thẳng thắn và không hình thức. Ông nói việc leo lên không phải là không thể làm được, nhưng nó cũng không phải dễ dàng. Một trong những ngọn tháp, tôi sẽ lên cao có những đặc tính không rõ. Ông già chỉ rõ và giải thích rằng ngọn núi đặc biệt này sẽ là bài khào nghiệm tôi thực sự. Có những chữ viết trên mặt sau của núi. Nếu tôi không giải thích và hành xử đúng đắn thì tôi sẽ bị rớt xuống. Tôi sẽ không bị thương tích nghiêm trọng, và cũng  sẽ không rơi trở lại nơi mà tôi đã bắt đầu. Tôi chỉ đơn giản là sẽ phải leo lên lại cho đến khi tôi làm đúng. Ngực của ông già và phần thân trên để trần hoặc chỉ che phủ một phần. Ngọn núi này là một sự hỗn hợp kỳ lạ của các màu: tím, vàng, đỏ, nó lôi cuốn và hùng vĩ.

 

Giấc mơ thứ ba

Tôi đang bay trong một máy bay tự ráp, như tôi đã làm nhiều lần trước đây. Thầy dạy Thái Cực Quyền của tôi đang ngồi trong buồng lái thứ hai phía sau tôi. Tôi thích cảm giác chuyến bay nhưng cho đến bấy giờ tôi không thể bay cao hơn các cây hoặc các đường dây điện giăng mắc. Tuy nhiên lần này, chúng tôi kéo ga và leo lên gần như thẳng đứng, bay trên các dây điện, cây cối và đám mây. Vị thầy dạy Thái Cực Quyền nhảy ra ngoài và nói: "Ông tự lo liệu lấy, tôi chỉ có thể lên xa đến đây mà thôi! " Chẳng bao lâu bầu không khí thay đổi về cấu thể và phẩm chất. Nó trở thành một sự pha trộn của không khí nặng và nước nhẹ. Chiếc máy bay rơi lại phía sau và tôi đang nổi bềnh bồng và bơi lội trong sự treo chuyển động khá chậm. Có một chút trọng lực, và cảm giác  phấn khởi, và việc hít thở không có vấn đề. Không khí tinh khiết và ngọt không thể tưởng. Mọi thứ tôi gặp đều lơ lững theo không có gì ràng buộc, thanh thản và tĩnh lặng . Không có lên hoặc xuống, không có trên hoặc dưới. Tôi không  nhận thức được mọi sự bắt đầu từ khi nào hay tôi đã từ đâu đến . 

Cái vây lặn trên bàn chân tôi và cái dù rõ ràng là vô ích đang lơ lửng trên lưng tôi lại có vẻ khôi hài, nực cười. Tuy nhiên những thứ này đem lại một cảm giác sai lầm về an toàn - chúng chỉ để dự phòng. Các vật nổi gần tôi hoặc là tôi đến gần đều có niềm đam mê và bí ẩn. Mỗi vật đều viền nổi bật rõ ràng những màu sắc hiếm có và màu sắc tinh tế. Tôi cảm thấy rằng tôi có thể khám phá thế giới vô tận này. 

Vây lặn rơi ra và trôi đi, nằm lên một số cây dưới nước. Tôi lấy nó lại và tự cười mình về việc bám vào nó giống như đứa bé bám vào cái mền an toàn. Đột nhiên tôi thấy mình bị kéo xuống  những cây cối giống như một ống đường hầm không cưỡng lại được. Cuối đường hầm có lối mở đến một thế giới khác, một thế giới ít hạnh phúc và thanh thản hơn so với thế giới hiện tại. Cuối đường hầm trong "thiên đường" nổi của tôi là lối vào một hang động. Hang động mở vào thế giới tôi đang đi đến. Hai người đàn ông leo lên dọc theo một đường mòn bên ngoài miệng hang. Tôi chống cự khi bị thải vào thế giới khác nhưng tôi không làm gì đuợc. Vì một số lý do không chắc lắm, có lẽ do sợ hãi, hoặc có lẽ để báo động hay để làm những người đàn ông bên ngoài hang sợ, tôi la lớn trước và sau đó một lần nữa trong khi bị đẩy ra. Tôi tỉnh dậy đột ngột.

 

Sau khóa tu

Có những giấc mơ khác, thấy lại, và những kinh nghiệm tương tự tiếp tục xảy ra bất cứ khi nào tôi ở trong Chùa Kim Sơn Thánh Tự sau tuần khóa tu Đại Bi đó. Không giấc mơ nào làm kinh ngạc, chấn động tâm trí, bao trùm mãnh liệt như những kinh nghiệm của tuần đầu tiên. Những gì xảy ra sau khóa tu khi so sánh có vẻ khá bình thường, so với những điều phi thường. 

Nhiều lần tôi đã đến tu viện hoặc để tham dự khóa tu và cảm thấy bận tâm về một câu hỏi đặc biệt. Trong khi thiền hoặc trong khi có sự hiện diện của Hoà Thượng, câu trả lời cho câu hỏi đó lại đến với tôi. Thông thường câu trả lời sẽ xuất hiện khi tôi nhớ lại một giấc mơ hay một kinh nghiệm thấy lại trước đó. Dường như các câu trả lời mong đơi các câu hỏi. Cuộc hành trình có thể mô tả như sự quay về, một quá trình nhớ lai. 

Suốt toàn khóa Thiền tôi bị quấy rầy bởi một vấn đề cá nhân và tôi luôn hy vọng một giải pháp sẽ xuất hiện. Tôi vật lộn với câu hỏi càng lâu chừng nào thì các giờ ngồi thiền trong khóa tu càng trở nên bực bội thêm. Giờ ngồi cuối cùng của khóa tu đến và tôi vẫn chưa có câu trả lời. Tôi quyết định bỏ cuộc tìm kiếm và chỉ tập trung vào niệm thầm. Tôi đã quên cái đau  và quên cả câu hỏi của tôi. Ngay lúc đó Hòa Thượng trụ trì tình cờ đi ngang qua, dường như đi kiểm tra quanh Thiền đường. Khi Ngài đi ngang qua thì có một tia sáng màu xanh chớp lóe lên, tiếp theo là cảnh của một phần giấc mơ cũ. Giấc mơ rõ ràng chỉ ra  câu hỏi của tôi và giải quyết  cho thắc mắc đó. Tiếng chuông vang lên và khóa tu kết thúc. 

Một lần khác tôi ngồi trầm ngâm trên chiếc ghế trong nhà bếp ngay trước giờ ngồi cuối cùng của khóa tu Đại Bi Chú. Tôi đang trầm ngâm về việc tôi sẽ hành xử như thế nào về những thay đổi mới trong cuộc sống và sự gián đoạn mới trong những lề thói quen thuộc do những kinh nghiệm của khoá tu này. Hòa Thượng trụ trì tình cờ tản bộ vào nhà bếp, đi một vòng quanh ghế của tôi, nhìn vào đầu của tôi ở phía trên mắt và  rời đi không nói một lời. Đột nhiên đầu của tôi  sáng rõ ra và những lời dụng công và kiên nhẫn nổi lên trong ý thức của tôi. Sự nặng nề tan biến. Những lời này chứng tỏ là lời khuyên quý giá.

 

Lễ siêu độ người đã mất (10 Tháng 8, 1976)

Tôi chưa bao giờ tham dự một buổi lễ như thế này, tôi có một chút kinh ngạc, một chút hoài nghi, nhưng rất chú tâm về người mà tôi đã đến để đại diện. Trong khi tụng kinh và lạy và giữ trong tâm trí tên của các bạn bè và người thân đã chết, tôi quên mất bản thân mình. Khi chúng tôi bắt đầu trì tụng thần chú để tiễn những người đã mất đi vãng sanh về Tây phương Cực Lạc, một sự thay đổi đáng chú ý xảy ra. Tôi cảm thấy tâm rộng mở, thông cảm và xúc động bởi nỗi buồn và lòng thương xót. Hòa Thượng trụ trì đã xuống lầu và đang đứng ở phía sau Phật điện. Chúng tôi bắt đầu nhiễu quanh Phật điện đồng thời tụng thần chú. Mỗi lần tôi đi ngang qua Hòa Thượng trụ trì, cảm giác từ bi khởi lên bên trong, dâng lên và tràn ngập tôi. Sau khi qua vòng thứ hai hoặc thứ ba trước Hòa Thượng trụ trì, nước mắt tôi chảy xuống. Tôi kềm chế nước mắt vì cảm thấy hơi xấu hổ khi khóc.  Tuy nhiên, mỗi lần sau đó đi ngang qua Hòa Thượng trụ trì thì lại mang đến một làn sóng cảm thông và thêm nhiều nước mắt. Kinh nghiệm này tiếp tục cho đến khi cácbài vị mang tên của người đã mất được đốt cháy và buổi lễ kết thúc. Đây là ngày Vu Lan (Ullambana), "ngày chư Phật hoan hỷ".

 

Giấc mơ về ông nội tôi

Tôi luôn được ở gần và thích ông nội tôi, chúng tôi đã dành nhiều thời gian với nhau trong khi tôi lớn lên và ông là một trong những người thầy của tôi. Tôi là người cuối cùng ông nhận ra lúc lâm chung trên giường. Tên của chúng tôi giống nhau và ngày sinh của chúng tôi chỉ cách nhau mấy ngày. Tôi đại diện cho ông tại lễ Vu Lan, lễ siêu độ người đã mất. Một thời gian sau buổi lễ đó, tôi đến thăm ông nội của tôi trong giấc mơ. Ông thanh thản nhưng rất sống động. Những dấu vết và  và vẻ căng thẳng trong cuộc sống của ông đều biến mất, ông không có dấu hiệu về những trách nhiệm và gánh nặng của mình. Ông trông đáng kính nhưng vẫn còn trẻ. Tôi đặc biệt nhớ ông có vẻ nhẹ nhàng, hầu như vô tư lự. 

Địa điểm của giấc mơ không rõ ràng nhưng không khí trong sạch và đầy ánh sáng, màu sắc tươi sáng, và nơi đó có vẻ rộng rãi và tự do . Thái độ của ông đối với tôi thật ấm áp và hướng dẫn dạy dỗ, ông khuyên tôi trực tiếp về một vấn đề đã làm tôi băn khoăn. Lời khuyên và cảnh báo của ông đơn giản và trực tiếp. Những lời chân thật của của ông trúng tâm điểm ngay lập tức. Ông nói với tôi hãy tìm kiếm con đường cao nhất và hãy chắc chắn không dừng lại với bất cứ điều gì thấp hơn. 

Ông nói rằng không có gì chân thật hơn, không có gì quan trọng hơn việc đó. Chỉ như vậy. Bao giờ cũng vậy, ông chỉ cần nói vài chữ và chúng tôi đều hiểu phần còn lại. Khi giấc mơ mờ nhạt đi, ông nội của tôi đang tụng một bài chú. Tôi không nhận ra đó là bài chú gì.

 

Ma Trong Nhà

Ginny (Kuo Chieh) và tôi đã dành một phòng nhỏ để thiền. Chúng tôi dựng lên một bàn thờ với hình ảnh của chư Phật, Bồ Tát, một bình hương, hoa, và những thứ còn lại. Một ngày nọ Ginny cho rằng cô bị làm phiền trong lúc thiền do một hơi thở nặng kỳ lạ dường như đến từ phía sau lưng cô. Tôi chưa bao giờ nghe thấy tiếng ồn, tất nhiên tôi hoài nghi. Chúng tôi điều nghiên tất cả các cách giải thích "hợp lý" và không tìm ra gì cả. 

Vài ngày sau trong khi đang ngồi thiền, tôi cũng nghe thấy tiếng ồn. Tiếng ồn rõ ràng và hơi thở hơi nặng nhọc của một người lớn tuổi bị bệnh hoặc phổi bị nghẽn. Tiếng ồn ngay trực tiếp phía sau tôi và rất gần. Tôi không nhìn chung quanh vì sự tò mò của tôi yếu hơn sự thận trọng theo trực giác của tôi. Tôi chỉ bỏ qua và cố gắng không bị động tâm chút nào do hoảng loạn hay phân tâm. Nhưng tôi đã bị động tâm. Tôi chỉ vừa mới học thuộc 26 câu đầu tiên của thần chú Lăng Nghiêm, do đó, ngày hôm sau, khi tiếng thở lại bắt đầu, tôi đã cố gắng đọc to câu thần chú. Chỉ mới tụng đọc một nửa lần thứ nhì của 26 câu đầu tiên thì tiếng hơi thở biến mất và từ đó nó đã không bao giờ trở lại.

 

Giấc mơ và ma thuật

Có nhiều lần khi thức giấc từ giấc mơ tôi thấy mình đang niệm chú hoặc gọi chư Phật và Bồ Tát. Tôi thức giấc toát mồ hôi sau những giấc mơ gây rối loạn hoặc đe dọa và khám phá ra tôi đang niệm. Sau khi tôi quyết định học thuộc chú Lăng Nghiêm thì có một giấc mơ rất thú vị xảy ra. Trong giấc mơ này có một người thế gian đang đến gần tôi. Ông là con người nhưng trông kỳ lạ và có vẻ đe dọa. Vì lý do nào đó ông muốn tôi tham gia mộ nghi lễ ma thuật đang diễn ra gần đó. Uy lực của ông thật tối tăm và lạnh lẽo, và ông đang lần hạt đọc chú. Quang trường của ông đầy âm tính và không lành mạnh. Vì lý do nào đó tôi đã không hoảng loạn bỏ chạy mà lại ngồi xuống trong tư thế kiết già và đọc những câu chú Lăng Nghiêm tôi biết. 

Hầu như ngay lập tức tôi cảm thấy được bao bọc trong một căn lều ánh sáng ấm áp, sáng rỡ, hơi trong suốt. Mặc dù người tối ám kia có thể nhìn thấy tôi, và mặc dù tôi biết có sự hiện diện của ông ta ngay bên ngoài vòng bảo vệ tôi, có một cái gì đó bao quanh tôi và ông ta không thể chạm vào tôi. Cuối cùng, ông ta quay đi và tham gia lại nghi lễ kỳ quái. Đó là một nhóm bị mê hoặc, giống như người sống dở chết dở, cơ thể họ có màu bệnh hoạn xanh xám và họ ôm nhau một cách máy móc. Sự ôm nhau của họ gắn kết sự hiểu biết giữa họ, một duyên ác. 

Tôi đứng lên và ngay lập tức thấy mình ở ngoài cửa, chuẩn bị ra đi cho một cuộc hành trình. Tôi đã đi chung với Ginny và một Thầy từ tu viện Kim Sơn Thánh Tự. Đây  cũng chính là người Tỳ Kheo đầu tiên nói với tôi về chú Lăng Nghiêm và khuyến khích tôi tu tập chú này.

 

Lời nguyện

Vào lúc khởi đầu khóa tu Niệm Phật A Di Đà tôi đã phát nguyện tịnh khẩu. Tôi dự định sẽ bắt đầu vào cùng tối đó, tôi muốn giữ sự tịnh khẩu ngay từ đầu của thời gian tôi ở lại tu viện. Nhưng, khi thấy vài người bạn ở hành lang, tôi đã phá lời nguyện và tham gia cuộc thảo luận sinh động và hoàn toàn vô ích ở phía sau Phật điện theo sau buổi lễ kinh tối. Trong khi chúng tôi đã trò chuyện thì Hòa Thượng trụ trì đi xuống cầu thang và đi thẳng ngay bên trên nhóm chúng tôi và nghiêm khắc nói: "Ai cho phép quý vị phá luật? Ai nói rằng quý vị có thể nói chuyện?" Tôi biết ngay lập tức khi nghe ngài đi xuống cầu thang là tôi đã phá lời nguyện. Tôi cảm thấy giống như một người thanh niên bị khiển trách - Tôi đã bị bắt gặp như là đứa bé tôi đã từng như vậy. 

Thời gian ngắn sau đó tôi phát nguyện ngủ không quá sáu tiếng mỗi đêm. Tôi muốn hạn chế sự lười biếng của tôi, tôi cần có thêm thời gian để tu tập. Tôi quyết định bắt đầu thực hành ngay lập tức, mặc dù còn ít nhất một tuần trước khi tôi sẽ làm "chính thức" phát nguyện bằng cách thông báo trước Đại chúng tại tu viện Kim Sơn. Sáng hôm đó chuông đồng hồ báo thức reo lên sau sáu giờ ngủ. Tôi đang giữa một giấc mơ tuyệt vời và tôi tự nói, "Ồ, mình chưa chính thức phát nguyện và một lần này sẽ không sao dù mình có thức dậy hay không..." Tôi nhanh chóng tự lý luận và ngủ trở lại. 

Nhưng ngay giữa giấc mơ dễ chịu thì cảnh đột ngột chuyển sang tu viện Kim Sơn. Có một khóa tu đang tiến hành trong giấc mơ của tôi. Thay vì thiền, tôi lại ở trên lầu hai chuyện trò. Ngay sau đó, Hòa Thượng trụ trì đi bộ lên cầu thang. Giống như một đứa trẻ lén lút thò tay vào trong hộp bánh, tôi lập tức xếp chân vào vị trí kiết già và cố gắng ra vẻ như đang đắm chìm trong thiền định. Không ai bị lừa. Tôi thức tỉnh ra khỏi giấc mơ và đứng dậy để tụng kinh sáng và thiền.

 

Giới luật ... "Đúng lúc"

Trước khi thọ giới tôi đã giữ quan niệm sai lầm thường tình rằng tôi nên đợi cho đến khi tôi có thể giữ được giới rồi mới tham gia lễ thọ giới. Tôi chân thành mong muốn được thọ giới, tuy vậy tôi đã không thọ giới mà cứ giữ giới trong cuộc sống hằng ngày trước đã. Sau vài tháng tuân theo đời sống giới luật, tôi cảm nhận được những chuyển biến tốt đẹp hơn trong hành vi cũng như trong thái độ của mình và rồi tôi quyết định ghi danh thọ Năm giới (Ngũ giới) và tám giới của người cư sĩ (Bát Quan Trai giới). Với nhiều lý do khác nhau mà hầu hết là những vọng tưởng và tự lừa dối bản thân nên tôi tin chắc rằng mình phải thọ giới vào một thời điểm nào đó, có thể nói là trong vòng một tháng nào đó. Tôi trở nên bám chấp vào thời gian và sự mau chóng thọ giới tại thời điểm cụ thể này. Thật ngạc nhiên khi lễ truyền giới được tổ chức đúng vào cuối tuần đó. Tôi phấn chấn, hân hoan, rơi lạc vào sự thiển cận của tự ngã. Tôi nghĩ: Mình phải là một hành giả đích thực, một bậc chân tu - thật trùng hợp làm sao ! Thật là một duyên lành!”

Thay vì tôi đến Vạn Phật Thánh Thành vào cuối tuần như ban đầu dự định (Hòa Thượng trụ trì đi cùng với một nhóm nhỏ đệ tử đến Vạn Phật Thành thăm viếng và thuyết giảng) tôi lại quyết định thong thả và đắm vào tư tưởng muốn có mọi th... . “Dù sao đi nữa” tôi nghĩ, “Tôi rõ ràng đang đi đúng hướng – Tôi làm 'đúng lúc'."

Lễ thọ giới được diễn ra vào chủ nhật tại Kim Sơn Thánh Tự sau buổi giảng kinh. Trong giấc mơ tối thứ bảy tôi thấy mình đang ở Ukiah với Hòa Thượng trụ trì và những người đi với Ngài. (Mặc dù trước đây tôi chưa đến Vạn Phật Thành, khi tôi đến viếng thăm thì tôi liền nhận ra nó giống như nơi mà tôi đã từng thấy trong mơ vậy). Mọi người đang chuẩn bị cho buổi lễ quan trọng nhưng tôi thì cứ liên tục đi lang thang và bị lạc. Khi cả nhóm đang tụng kinh ở trong thì tôi lại ở ngoài đi dạo. Tôi chưa bao giờ nhận ra được những gì đang xảy ra, nhưng tôi biết mình đang bỏ lỡ nó. Cuối cùng, sau khi tôi cố bắt kịp theo nhóm thì buổi lễ cũng đã kết thúc. Hòa Thượng trụ trì chậm rãi đến gần tôi và nói, “Chúc một ngày an lành”.

Tôi tỉnh dậy từ giấc mơ có cảm giác một chút gì đó hoang mang, nhưng rồi lại nhún vai ra khỏi giấc mơ và đi vào ngày chủ nhật như dự định. Tôi ngủ và ăn sáng một cách thư thả tại nhà hàng, ngủ trưa và rồi thơ thẩn đi đến tu viện “ngay đúng giờ”. Tôi đã có một ngày “an lành”.

Khi tôi bước vào cửa tu viện, tất cả chư tăng ni tôi thấy trong giấc mơ vào buổi tối trước đều đang tụ họp gần pháp tòa. Hương trầm tỏa khắp Phật điện. Một vị cư sĩ trẻ đến gần tôi và vô tư nói, “Đáng lẽ ra anh nên đến sớm hơn thì anh đã có thể xem được lễ truyền giới rồi”. Tôi cảm giác như sàn nhà đang sụp đổ và cảm giác quay cuồng trong sự nuối tiếc. Tôi không thể chịu đựng được nỗi thất vọng cũng như cú sốc không thể tin được này. Tôi đã bỏ lỡ thọ giới rồi ư! Họ đã truyền giới sau buổi giảng kinh xế trưa. Vì tôi chưa bao giờ ở đó vào chiều chủ nhật nên tôi cứ đinh ninh rằng buổi giảng kinh là vào buổi tối. Nếu tôi đi đến Ukiah thì dĩ nhiên là tôi đã “đúng giờ”.

Những cảm xúc trong tôi chuyển nhanh từ hối tiếc đến tức giận, và sau đó lại thất vọng. Tôi nghĩ, “Không ai quan tâm. Tôi sẽ đi. Tôi ở đây với mục đích gì cơ chứ? Tôi sẽ ngừng việc tu hành.” Mãi cho đến buổi tối lễ lạy và tiếp theo đó là buổi giảng kinh tối tôi mới ngưng choáng váng và bình tĩnh lại. Tôi hiểu tôi đã tạo ra toàn bộ tình huống qua cái bản ngã ngu si của mình và qua những chấp trước như thế nào. Đây chính là nguồn gốc sự đau khổ của tôi. Tôi quyết tâm đi thọ giới khi có lễ truyền giới vào lần tới. 

Vì lý do nào đó mà Hoà Thượng trụ trì lại ở trong nhà bếp vào tối hôm đó sau buổi lễ lạy. Tôi vào nhà bếp đãnh lễ Ngài trong sự ăn năn và lòng biết ơn sự chuyển biến và bài học bản thân tôi nhận được. Khi tôi đến, Ginny đến gần tôi và nói. “Anh đã nghe gì chưa?” “Nghe gì?” “Hoà Thượng trụ trì nói rằng anh có thể thọ giới trong vài ngày tới vào lễ Vu Lan.” Lần nữa tôi lại choáng váng. “Ngài nghe nói anh không vui vì đã bỏ lỡ buổi thọ giới hôm nay, vì thế Ngài nói anh có thể thọ giới vào thứ Ba, vì Ngài không muốn anh không vui.” Cô ấy giải thích. Thêm choáng váng, thêm bài học.

Tôi chưa bao giờ nghĩ tôi lại tu Đạo ở nơi thế này. Luôn trong tình thế tiến thoái lưỡng nan. Đó là tu viện Kim Sơn Thánh Tự - Có nhiều sợi dây thừng và khoãng không để vượt qua những phiền não của mình, hay thắt cổ mình. Tôi đãnh lễ Hoà Thượng trụ trì. Ngài dường như hoàn toàn bất động, am hiểu, vui vẻ mà nói rằng. “Con cứ việc cố gắng hết sức”

 

Khóa Thiền
 

Nếu quý vị muốn báo hiếu trăm cách 
Thì trước tiên quý vị phải tu Đạo.
 

Hoà Thượng Tuyên Hoá


Khóa Thiền đầu tiên của tôi tất cả diễn ra trong sự bất ngờ. Tôi không biết mong đợi điều gì. Tôi có những nổi sợ hãi và sợ những điều không biết. Tôi mong đợi đó chỉ là một khóa tu nhiều thanh tịnh, nỗ lực và làm mới lại đối mặt đơn độc thay vì phải chịu nỗi khiếp sợ huyền bí về tinh thần lẫn thể chất. Nó giống nhiều với việc phải vác ba lô một mình hoặc cảm giác sau khi khóc ròng vì chịu kiềm chế quá lâu. Sau mỗi thời khóa ngồi thiền , sau khi chiến đấu với những cơn đau nhức của cơ thể và những vọng tưởng ngổn ngang trong đầu, tôi lại được trở nên tĩnh lặng rỗng rang và sự trống không sạch sẽ (đơn độc, nhất thể). Đến cuối khóa tu sự đau nhức ở chân và hông tôi được xua tan đi hoặc tôi quên để ý đến nó nữa. Dòng chảy cuồn cuộn trong tâm trí, cũng giống như cơ thể tôi, bị kiệt sức và buông xả. Đột nhiên tôi kinh nghiệm được tất cả cảnh rõ ràng sống động của cha mẹ tôi.

Tôi nhận thức một cách vi tế món nợ vô hạn đối với cha mẹ mình. Họ đã sống một cách bình dị, hiện thân của sự thanh khiết và quên mình mà bây giờ tôi chỉ mới bắt đầu khám phá. Trí tuệ và lòng từ bi thương yêu, không mánh khóe, đã thành bản chất tự nhiên trong họ. Lòng thương yêu và sự chất phác mà tôi thể hiện thì thật vụng về và ngượng ngập. Tôi thường suy nghĩ trước khi cảm nhận. Và tôi phải “cố gắng” nhớ cảm giác thế nào. Họ hành xử thực sự xuất phát từ con tim. Tôi hưởng được tất cả những lợi ích của cuộc sống với những người đặc biệt như thế, lại không chú ý đến sự may mắn của mình và chắc chắn tôi ít làm được cái gì đó để đền đáp lại công ơn của họ.

Bất kỳ những gốc rễ tâm linh và cơ duyên tôi có được đều nhờ họ. Nền tảng về sức mạnh thể chất lẫn tinh thần và niềm tin tôi đều nợ họ. Nhờ cha mẹ tôi, chỉ là như họ đang là, tôi trực giác nhận thức ra được rằng sự giác ngộ không phải là giấc mơ hoang đường ảo tưởng. Họ cho tôi tài sản về nhận thức và giúp tôi với tay tới được bản lai diện mục của chính mình. Tôi có thể cảm nhận được điều đó, vì thế mà cuối cùng tôi cũng đã tìm ra được nó. Mỗi chúng sanh có thể và sẽ đến lúc buông bỏ và trở về nhà.

Nếu tôi cố gắng tìm hiểu điều này một cách hợp lý để giải thích cho “sự hiểu biết” này, thì đầu tôi lại không thể phát triển thêm để hiểu nó. Nhưng ngay sau đó là sự trống rỗng và kiệt sức, trong thoáng qua những gì bên trong tôi có thể hiểu được nó. Trong “tâm” tôi biết được cha mẹ tôi chính là nguồn cảm hứng khích lệ để khởi đầu cho sự hiểu biết sâu sắc hơn. Một thời gian ngắn sau kinh nghiệm này tôi thọ giới cư sĩ.


Đứa bé hư hỏng trong khoá thiền
 

Toàn bộ khóa Thiền này thật đau nhức. Những vọng tưởng và suy nghĩ sai lầm lệch lạc đã ném tôi đi giống như chiếc que giữa cơn sóng ồ ập. Tôi như không thể trồi lên khỏi mặt sóng được vậy. Dù không nói lời nào nhưng tư tưởng và mắt tôi lại cứ ba hoa hoạt động không ngừng. Tôi cảm giác mình giống như cái rây lọc - năng lượng chạy thoát ra ngoài vì ăn quá mức, hay chăm chú tập trung và tìm những lỗi sai của người khác. Chịu thua với sự đau nhức nhẹ nhất, tôi liên tục bắt chéo chân rồi lại duỗi ra. Tôi mong đợi mỗi hồi chuông kết túc thời khóa ngồi thiền hơn nửa giờ trước khi nó vang lên. 

Suốt giờ thiền đầu tiên sau khi ăn trưa, tôi thật khó có thể tỉnh được. Tôi đã phải chuyển đổi chân hai hoặc ba lần. Cuối cùng thì tôi cũng đã chịu đựng được. Tôi quyết tâm khoá chân ngồi tĩnh tọa trong tư thế hoa sen (kiết già), niệm Chú Đại Bi trong tâm và giữ cơ thể không nhúc nhích trong một giờ tới.

Tôi đã quyết tâm như vậy nhưng những khó khăn dường như tăng lên. Vì lý do nào đó tôi lại cảm giác có một sự hiện hữu bên trái tôi, chỉ ở bờ mé tầm nhìn phía góc mắt. Nó là nguồn gốc của tất cả sự bất an trong tôi. Bằng cách ngồi yên tĩh tôi có thể xác định vị trí của nó và tập trung nhìn rõ ràng hơn. Tôi cứ tiếp tục niệm. Sau đó không cần di chuyển cơ thể hay đầu nữa, tôi đột nhiên chuyển đổi tâm tưởng. Đừng hỏi tôi đã làm điều đó thế nào, vì tôi đã chưa bao giờ làm bất cứ điều gì giống như thế trước đây. Tôi đã không nghĩ về nó, tôi chỉ làm và nó vừa xảy ra. Tôi vừa chuyển đổi được tâm tưởng và bắt được nó. Nó trông giống như một đứa trẻ nhỏ hư hỏng xấu xí – một đứa trẻ ngang ngạnh và khó dạy bảo. Trong suốt khóa tu đứa trẻ này đã mắng nhiếc và làm tôi hoang mang rối rắm. Khi tôi cố bắt hay nhận ra được nó thì nó lại biến mất. Chỉ còn lại nỗi thất vọng và sự bực bội mất tập trung. Nhưng ngạc nhiên thay, lần này thì đứa trẻ hư hỏng này đã bị dồn vào chân tường và sập bẫy. Cơn tức giận và lòng oán ghét của tôi lại được chuyển hóa thành sự hối tiếc và niềm cảm thông ngay khi tôi thực sự bắt được và xem xét kỹ đến người đã hành hạ tôi. Nó chỉ là một đưa trẻ nhỏ sợ hãi tạo ra những rối rắm. Một đứa trẻ phiền phức, không được an toàn và chứa chất nhiều ngọn lửa và cái tôi lớn. Tôi thật khó có thể tưởng tượng ra được sự ghê rợn như vậy.

Không có từ ngữ nào có thể diễn tả, sự bình yên và một loại hiểu cảm thông cho tình bạn đã đến. Chú Đại Bi đã tách ra và đem chúng tôi đến gần với nhau. Vì được chế phục, chúng tôi đã trở lại khóa tu. Cả hai ngồi quán niệm tĩnh lặng suốt tuần còn lại.



Giới Bồ Tát

Khoảng ba đêm liên tục trước và sau khi thọ nhận giới Bồ Tát, tôi kinh nghiệm những giấc mơ sống động về Tăng đoàn tại tu viện Kim Sơn. Giấc mơ đầu tiên đã diễn ra trong màng sương mù dày đặc trên vùng đồi núi. Tôi đang tìm kiếm cái gì đó hoặc một ai đó, nhưng tôi lại không thể xuyên qua màn sương dày được. Tôi muốn múa thái cực quyền trên một con đường, nhưng lại không có đường nào cả. Tôi khởi đầu trên đỉnh một ngọn đồi. Từ xa, qua màng sương mù, tôi lại nghe tiếng thần chú được niệm vang lên trong chuỗi nhịp điệu. Hai vị Ni sư xuất hiện, đi song song và chủ đích đi dọc theo con đường. Con đường thông qua ngay trước mặt tôi. Nhưng tôi không thể thấy nó cho đến khi các vị ni sư xác định đứng xếp thành hàng thẳng tụng niệm. Sau đó, nửa chìm trong dòng suối, tôi thấy mình đang cùng tham dự vào một hàng dài lớn với một nhóm những vị xuất gia cùng cư sĩ. Dòng nước ấy đang gột rửa thanh lọc chúng tôi khi chúng tôi đồng thanh tụng niệm.

Tối hôm sau, có mội cái gì đó giống như buổi tổng dợt nghi thức liên quan đến những vị Tăng, bản thân tôi, và buổi nghi thức. Tôi theo họ nhưng lại không chắc chắn về vai trò của mình hay mục đích của buổi nghi lễ này. Những bồn tắm bằng gỗ lớn giống như những bồn tắm ofuro của Nhật Bản được đặt trong hội trường. Chúng tôi rửa sạch rồi sắp xếp chúng lại, và sau đó chúng tôi thực hành việc bước vào bước ra trong những chiếc bồn tắm đó.

Giấc mơ cuối cùng xảy ra vào đúng đêm lễ truyền giới. Những chiếc bồn từ giấc mơ đêm trước đó đã được sắp xếp trong cùng những hội trường và bây giờ đầy nước. Trong giấc mơ, nghi lễ long trọng được tiến hành và những chiếc bồn là những cái chậu được dùng cho nghi lễ tắm.

(Hồi tưởng) Trước khi đến Tu viện Kim Sơn Thánh Tự tôi đã một mình tắm trong chiếc bồn tắm Nhật Bản bên ngoài. Sau khi ngâm mình dưới nước khá lâu tôi lại nổi lên. Đột nhiên tôi cảm thấy một động lực mạnh mẽ khiến tôi muốn cạo đầu. Cảm giác thực kỳ lạ. Cùng tuần lễ đó trong lúc xoa bóp, một số công tắc hoặc khởi động được kết nối và tôi nhớ lại một cách sống động lúc đang ở trong tử cung mẹ tôi. Tôi có thể nghe thấy tiếng nói của cha mẹ mình bên ngoài. Tôi không biết họ đang nói gì nhưng tôi chỉ lưu ý tới giọng nói của cha tôi từ "bên ngoài" và giọng nói của mẹ tôi vang lại từ “bên trong” ra sao.

Giấc mơ này có một cảm giác tương tự như giấc mơ tôi đã mơ vào tháng Tư khi tôi thấy một buổi lễ bên trong một hang động. Gian phòng bên trong được chiếu sáng với một luồng ánh sáng vàng dịu. Các vị Tăng tham gia vào những nghi lễ và trợ giúp. Tôi ở trong một trong những chiếc bồn tắm đó. 

 

Thất A Di Đà

Tôi phát nguyện tịnh khẩu và nhịn ăn trong hai ngày cuối cùng của Thất A Di Đà. Giữa kỳ Thất tôi phải rời khóa Thất để đi làm. Ngày hôm đó có đủ loại nghiệp chướng nhỏ (xe Vespa bị hư, xe vận tải nhỏ bị trục trặc, những sự bực bội khác). Tôi vừa đọc xong Kinh Kim Cang (do Ban Phiên Dịch Kinh Điển Phật Giáo - BTTS xuất bản). Kinh này có những ảnh hưởng sâu sắc trong tôi. Tôi thấy kinh thật tột cùng trung thực và cung cấp một loại dinh dưỡng cứu mạng. Đồng thời có một cảm giác "mất trí" và mất đi bản chất của mình và cảm giác này khuấy động nỗi sợ hãi và niềm đam mê của tôi.

Trong thời gian ngồi cuối cùng của Thất, tôi đã đứng thiền ở phía sau Phật Điện. Khi tôi đứng thiền ở vị trí đó trong Phật Điện Chùa Kim Sơn, tôi nhìn chăm chú tượng Đức Phật Thích Ca Mâu Ni phía sau Pháp Tòa, bục giảng của Hòa Thượng trụ trì. Gần cuối giờ, tôi cảm thấy một cảm giác nhột nhạt ran lên trên đỉnh đầu của tôi. Tôi cảm thấy như một con bọ nhỏ đang bò ở đó. Viên đá ngọc ở trán của tượng Đức Phật dường như lấp lánh.

Tiếp theo sau đó là bài giảng của Hòa Thượng trụ trì. Những lời trí tuệ sáng chói của ngài đánh vào tôi chưa từng thấy. Ngài nói về thần chú Lăng Nghiêm và vai trò của các học giả trong việc đẩy nhanh “thời Mạt Pháp”. Tôi kết nối lại và nhìn thấy những điều trong cuộc sống của riêng tôi và trong sự nghiệp học vấn của tôi, mà bây giờ cuối cùng mới có ý nghĩa. Những vấn đề chưa được giải quyết và những thắc mắc cuối cùng tự tháo gỡ. 

Những hoài nghi và những phương cách thay thế không bao giờ có thể tổng hợp hoặc diễn đạt bằng lời đột nhiên rơi vào đúng vị trí. Tôi nhận ra rằng nhiều năm tôi đã lòng vòng vấp váp trong hành trình mù tối và điên đào hoài nghi đã làm tôi lầm lẫn vứt bỏ những điều quan trọng, đúng về khía cạnh giáo dục của tôi. Những câu trả lời đã có sẵn đó, ngay trước mắt tôi và ngay trước tâm tôi. Những lời của Hòa Thượng chiếu sáng. Tôi bi thu hút vào. Phật Điện sống động và được bao trùm trong ánh sáng màu vàng dịu. 

Khuya đó trở về lại Berkeley, tôi đã nhảy thót ra khỏi giường vì một trận động đất. Đó là chấn động mạnh nhất của một loạt những chấn động nhẹ tiếp tục rung trong nhiều ngày. Theo bản năng, tôi đã đi đến bàn thờ trong căn nhà trong chung cư của chúng tôi và làm lễ dâng hương và sau đó đọc thần chú. Trong khi tụng kinh, tôi đã có một kinh nghiệm toàn thể thật gần gũi, tôi nhận ra sự vô thường và tính chất mỏng manh của đời này. Tôi nhận ra những ảo ảnh của "trái đất vững chãi". Tại thời điểm đó không có gì là quan trọng hơn hay chân thật hơn việc tu hành với công phu thực sự, thành tựu tâm linh chân thật để có thể giúp mình và giúp người đối diện vấn để tối hậu: cuộc hành trình "từ chiếc nôi đến nấm mồ". Thời gian là một niềm đam mê, một cái gì đó mà tôi bám vào khi tôi muốn lười biếng trôi theo, cố gắng giả vờ rằng tôi có thể tránh được màn cuối cùng với cái chết. Tôi đang chờ đợi, như câu kệ:  "Như cá cạn nước ...". 

Tôi nhận ra rằng tôi muốn có mọi th. Với sự thực hành Thái Cực Quyền, thiền định, và giữ giới, tôi sẽ dụng công hướng tới một trạng thái trong thân, khẩu, ý, một trạng thái "vô lậu", không có rò rỉ năng lượng. Tuy nhiên, mặc dù với sự cương quyết tu hành này tôi đã có thói quen rong ruổi ra ngoài mỗi khi có cơ hội và lãng phí năng lượng của mình vào những chuyển hướng trống rỗng. Tâm trí của tôi đầy những mảnh vỡ của những câu thơ và lời nhắc nhở: cảm xúc chân thật trong sự tĩnh lặng là tiến hai bước lùi hai bước, và tất cả bằng bốn bước không đi đâu cả; câu yêu thích của tôi từ thời thơ ấu:  "cứ từ từ, cứ từ từ", không thực sự thay đổi nhiều từ hồi đó;  "tôi vẫn còn trẻ …, những năm đẹp nhất trong cuộc đời …, còn nhiều thời gian còn lại, rất nhiều thời gian ..." Tất cả đều chấn động tối đó!

 

Giấc Mơ động đất 

Trở lại giường sau trận động đất vào buổi tối kết thúc Khóa tu A Di Đà, tôi đã có giấc mơ như sau: Tôi thấy cùng trình tự của các sự kiện xảy ra như tôi đã thực sự trải qua nhiều giờ trước đó, chỉ khác là trong giấc mơ, độ mạnh động đất theo chỉ số Richter thì cao hơn vài điểm. Thay vì chỉ là nhng chấn động nhẹ thì lại là thảm họa. Tôi có thể nghe thấy tiếng la hét, khóc lóc, tôi nghe tiếng rên rỉ của bạn bè và hàng xóm bị ném văng do vụ nổ hoặc bi nghiền nát dưới các tòa nhà và các bức tường bị vặn xoắn sụp đổ, tôi cảm nhận được nỗi thống khổ và sự đau đớn không thể nào diễn đạt được khi chỉ nhìn mà không giúp gì được những người khác đang quằn quại và chết khắp nơi. Đó là một cơn ác mộng chuyển động chậm không kềm chế được.

Không có nơi nào an toàn để chạy đến, không nơi nào để trốn. Tng  sự lay chuyn xé toạc cun cun của trái đất bình thản lăn đến, vô cảm với nỗi sợ hãi và sự khẩn cầu của các người nạn nhân. Nó giống như cầu khẩn đại dương ngừng lại những đợt sóng. Tôi nhớ cảm giác hoàn toàn vô dụng và bất lực để ngăn chặn các thảm họa hoặc thậm chí để đối phó với bản thân mình và phản ứng của tôi với thảm nạn. Nó giống như một lần tương tự vài năm trước khi tôi bi những con gấu bao vây khi cắm trại ở dãy núi Sierra. Tôi chỉ có một mình, trong thực tế, tôi cách xa những người gần nhất có thể giúp tôi đến nhiều dặm, và lúc đó là nửa đêm không trăng tối đen. Sự hiện diện của những con gấu làm vỡ tung những ảo tưởng về sức mạnh và tôi mất ảo tưng về sự bất tử của tuổi trẻ. Những mơ mng an ủi nầy phát nổ như những bong bóng rẻ tiền.

Tối hôm đó trong vùng Sierras và bây giờ với trận động đất làm tôi nhận ra rằng hầu hết những suy nghĩ và thói quen của tôi đã được dựa trên một nền tảng tự lừa mình. Những thứ đó đều trống rỗng, giống như sự sợ hãi run lập cập của trẻ em do bóng tối g ây kinh hoàng. Tôi nhận ra rằng sự hiểu biết của tôi về thực tế này dựa trên ảo tưởng của sự tự cho mình là quan trọng và quyền lực. Ào ảnh này phát triển mạnh trên sự sợ hãi và vô minh: sợ hãi phải đối mặt với những cái không biết, và sự thiếu hiểu biết về những đạo lý cốt yếu cơ bản. Vô minh nuôi dưỡng sợ hãi, nỗi sợ hãi củng cố vô minh, và cả hai đều làm căng phồng những bong bóng ảo tưởng. 

Tại thời điểm này trong giấc mơ, tôi nhìn thấy Sư phụ. Ngài cư ngụ giữa khoảng trống sáng rộng. Tôi phải đến chỗ ngài và đưa càng nhiều người càng tốt đi cùng trong khả năng của tôi có thể đưa đi được. Nhưng những con đường để đến chỗ khoảng trống đó bị cuốn trôi đi và còn có những trở ngại do con người nữa như: những người ích kỷ, vô cảm, mơ mộng đã hợp tác với các chúng sanh ma quỷ muốn tiếp tục gây những hủy hoại và đau khổ mà tôi đã chứng kiến trong giấc mơ của tôi.  

Khi thức dậy tôi nhìn nhanh ra bên ngoài. Những căn nhà và đường phố vẫn còn nguyên vẹn. Tôi có thể nghe thấy tiếng trẻ em chơi đùa. Những người sống bên kia đường đi chợ về với nhung túi xách đầy thực phẩm. Nói tóm lại, mọi chuyện đều tốt đẹp. Tuy nhiên một cái gì đó trong tôi đã thay đổi. Thế giới của tôi đã dừng lại. Những câu hỏi đến với tôi: Khi nào thì tôi thực sự thức và lúc nào thì tôi đang ngủ ? Cảnh nào là thật và cảnh nào không thật hơn – lúc mơ hay lúc thức? Bây giờ thấy rõ ràng hơn, tôi quyết rằng bây giờ là lúc đừng trì hoãn nữa; đã đến lúc để chỉnh đốn lại cuộc đời tôi, đã đến lúc đóng lại những rò rỉ, và đã đến lúc để làm công việc tu hành chân thật. 

 

Lời nguyện Động Đất

Sáng hôm đó tôi phát những lời nguyện sau:

Trước chư Phật và chư Bồ Tát mười phương ba đời, trước Hòa Thượng và bốn chung, con, đệ từ Quả Đình phát những lời nguyền này. 

Để báo đáp từ ân của cha mẹ, sư trưởng, và Hòa Thượng, con nguyện cắt bỏ các chắp trước và ngã tướng, luôn giữ quyết tâm Bồ Đề, học tất cả các Pháp Môn, và hồi hướng tất cả công đức cho toàn thể chúng sanh.

Con nguyện tụng chú Đại Bi 108 lần mỗi ngày. 

Con nguyện không bao giờ ngủ trong khi ngồi thiền.

Con nguyện học thuộc và tụng chú Lăng Nghiêm hàng ngày.

Con quyết thực hành những điều sau đây: 

Tham dự các buổi giảng kinh thường xuyên hơn để hiểu rõ Phật pháp hơn và nói pháp tốt hơn.

Ngủ không quá sáu giờ một ngày. 

Tính tấn trì giữ năm giới và tám giới cư sĩ cùng mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh giới Bồ Tát.

Đọc tụng và học các giới này hai lần mỗi tháng.

Con quyết tâm thêm nữa sử dụng bất cứ năng lực nào con có để duy trì và bảo vệ Tam Bảo và tu hành Bồ Tát đạo với thân, khẩu, ý. 

Con nguyện cắt bỏ tất cả các vọng tưởng, lậu thoát, và chấp trước, đặc biệt là chấp ngã, để phát huy thân tâm kim cang.

Con nguyện rằng tất cả những lời nguyện này sẽ được thành tựu và bất kỳ công đức đều đem hồi hướng để tất cả chúng sanh có thể chấm dứt khổ đau và trở về Phật tánh uyên nguyên tỉnh thức.

 

Hiếu thảo 

 

Kể từ khóa Thiền đầu tiên, sự xác tín và hiểu biết về món nợ của tôi đối với cha mẹ sâu đậm thêm. Tôi đã tìm kiếm một số cách để đền đáp lại họ, nhưng tôi không thể tìm thấy một Phương pháp nào thật thỏa đáng. Một buổi tối tháng giêng, trong khi đi nhiễu và tụng niệm trước khi giảng kinh, tâm trí của tôi thấp thoáng những kỷ niệm và ký ức chớp nhoáng về cha mẹ tôi, giống như một sự trình diễn slide-show vậy, tôi hình dung thấy một chuỗi các sự kiện thể hiện cho tấm lòng cao thượng và những phẩm cách tốt đẹp của họ. ý thức của tôi đã tràn ngập với những kỷ niệm đã lãng quên từ lâu, Những dấu ấn rất sớm và tinh tế về lòng tốt và đức hạnh của họ. Tôi cố gắng nhất tâm niệm nhưng những ký ức vẫn tồn tại. Những ký ức nầy có động lực riêng của chúng và nó đã quá muộn để ngăn chặn các kênh ký ức tràn ra.

Khi Hòa Thượng Trụ trì xuống cầu thang để vào Phật điện, tôi di ngang ngay bên dưới ngài. Ngay lúc ấy, tôi thấy cha mẹ tôi trong một cảnh giới không thể tưởng tượng được. Gương mặt của họ rạng rỡ, mịn màng, rõ ràng và sinh động với một năng lượng an lạc. Họ không còn hoài nghi, không còn những như cầu và ham muốn. Họ đã hoàn toàn viên mãn và toả sáng những nụ cười và sự trầm tĩnh không thể miêu tả được. Tôi xúc động chảy nước mắt. 

 

Trong bài giảng kinh sau đó, thêm nhiều mảnh hinh rời rạc ráp khớp vào vị trí. Tất cả sự việc xảy ra như thế nào thi tôi không hiểu. Bài giảng tạo nên sự phẳng lặng của tâm và cảm giác tĩnh lặng. Một trật tự nhẹ nhàng và rõ ràng lắng đọng trong tâm trí tôi. Tôi "biết" rằng trong đời này họ là cha mẹ tôi. Nhưng ai là cha mẹ tôi trong kiếp trước ? Ai sẽ là cha mẹ tôi trong tương lai? Tôi là cha mẹ ai trong quá khứ? trong tương lai? Bạn bè và gia đình trong đời này có thể dễ dàng trở thành cha mẹ, vợ, hoặc con trong kiếp kế tiếp. Rất có thể là bạn bè và thân nhân trong kiếp này là những thân nhân và người gần gũi của những kiếp trong quá khứ. 

 

Khi tôi suy ngẫm về sự mặc khải này, những phân biệt quen thuộc của tôi và sự chia chẻ đều đặn về thời gian và không gian đã không còn. Tôi không còn cảm giác bị cô lập hay thù nghịch, thay vào đó tôi cảm nhận sâu xa của sự bao gồm trong một gia đình mở rộng rất lớn. Tất cả mọi người và mọi thứ đã liên quan với nhau. Tôi nhận ra rằng tất cả chúng ta đều xuất phát, chăm sóc và trở về lại cùng một ao nước. Tất cả đều như nhau. Tôi cảm thấy một vòng tròn thành hoàn chỉnh. Các đường thu hút tôi đến Chùa Kim Sơn, các câu trong tờ thông báo về khóa tu Đại Bi,  "để giúp đỡ và hỗ trợ chúng sinh ở khắp mọi nơi" bằng cách nào đó là một phần của vòng tròn. Không có từ ngữ nào có thể nắm bắt bí ẩn nầy.

 

 

Bài chú Pt. REYES

Trên bãi biển tại Pt. Reyes khi màn đêm buông xuống và đám sương mù nặng nề tràn đến, Ginny và tôi đều cảm thấy những làn sóng rung động kỳ lạ và một sự hiện diện đáng sợ. Tôi nhắm mắt lại và nghĩ đến Hòa Thượng Trụ trì. Với đôi mắt vẫn còn nhắm, tôi nhìn thấy bên trái tôi một bánh xe tròn. Tôi nhớ hình này từ Kính Đà La Ni, Phần 42 thủ ấn. Vi một lý do nào đó, tôi đổi hình dạng bàn tay phải của tôi để nắm giữ phần bánh xe nhỏ bằng vàng. Tôi đọc chú Đại Bi và không lâu sau cảm thấy mọi thứ đều tốt hơn, giống như một cái gì đó đã được nhắc lên và cảm thấy thoải mái, tĩnh lặng. 

 

 

Giấc mơ Chim Đại Bàng


Đi vào một khu rừng rộng với Joshua và Kevin (hai đứa trẻ mà tôi là "người cha thứ hai"). Ngày hôm đó ánh sáng được chiếu bởi một ánh sáng kỳ lạ và khô khan. Chúng tôi thấy một con đại bàng đẹp tuyệt đang lướt rồi bay lượn. Nó xuống quá thấp. Đột nhiên, nhiều con chìm nhỏ hơn tấn công con chim đại bàng. Những con chim này là đàn diều hâu và chúng đầy con chi
m đại bàng xuống thấp hơn. Con chim đại bàng  không thể lèo lái xuyên qua các cây  - cây quá dày đặc - và ngay lập tức tôi cảm thấy dâng trào lên lòng từ bi và thương cảm, và tôi vội vàng chạy đến để giúp con chim đại bàng. Khi tôi đến nơi, con chim đại bàng vẫn còn sống nhưng đang chết dần. Phần trên cơ thể của nó, phân thân mình, thay đổi thành cơ thể một người đàn ông. Nó nhìn thẳng vào tôi và cho tôi một lời cảnh báo và chút lời khuyên. Tôi không thể nhớ những lời này, nhưng trái tim tôi nhớ lại thông điệp: con đại bàng đã cố gắng để trở về nơi nó đã phát triển nhanh hơn. Chim đại bàng đã vượt xa hơn và đã cố gắng để trở về một nơi thấp kém hơn. Đây là nguyên nhân của cái chết của nó. Con chim này đáng lẽ nên ở lại trong khu vực cao hơn, nơi chốn thuộc về đại bàng, bởi nó không còn một con diều hâu rừng nữa. Các con diều hâu khác ghét nó, lo sợ và cảm thấy bị đe dọa bởi sự trở về của con đại bàng. Tôi cảm thấy dường như con đại bàng đã hy sinh cuộc đời nó một cách cố ý để chỉ rõ, để khuyên tôi.