Nhất Tâm Đảnh Lễ Vạn Phật Thánh Thành

Tuyển Tập Nhật Ký và Thư Từ

Hằng Thật và Hằng Triều

Quyển 5

 

Nguyên bàn Anh ngữ:

One Heart Bowing

A Collection of Journals and Letters

by

Heng Sure Ph.D.

and

Heng Ch’au Ph.D.

Published and translated by:

Buddhist Text Translation Society

1777 Murchison Drive, Burlingame, CA 94010-4504

© 2007 Buddhist Text Translation Society

Dharma Realm Buddhist University

Dharma Realm Buddhist Association

First edition 2007

  Hình ảnh

Welcome Dharma Master Heng Sure and Dharma Master Heng Chau - 11/1979

Các bài nói chuyện trong buổi lễ chào đón Thầy Hằng Thật và Thầy Hằng Triều về đến VPTT (11/1979)

Mục lục

 

Lời mỹ miều thường ẩn dấu con dao găm

Hãy cẩn thận đừng tin vào tâm trí của quý vị

Họ đang đợi chúng ta ở thành phố San Luis Obispo

Hãy nhanh lên! Đã đến giờ công phu chiều

 

Một người bạn tin cậy và gần gũi

Nghèo hơn bên ngoài và giàu hơn bên trong

Họ là những Thiện Tri Thức tốt nhất của quý vị

Tôi ước tôi đã bỏ túi mánh lới ở cánh cổng

Phòng khách sạn phân hủy sinh học

Cô ấy không biết sự thực hành của chúng tôi

Chỉ còn cách cánh cửa vài bước

 

Tháng Bảy, 2018

 

Tất cả có thể biến mất trong giây phút kế tiếp

“Marty” nôn nóng muốn xuất hiện trở lại

Đưa tôi xem bàn tay đáng thương của bạn.

Đi thuyền sang bờ bên kia

Trắng tay gặp Diêm Vương

Trong mỗi hoàn cảnh đều có một phương pháp

Đôi khi tôi quên tâm niệm đó, nhưng tâm niệm đó không bao giờ quên tôi

Quý vị có dục vọng nhưng đừng dùng dục vọng

Không có công thức bí mật

Nảy bật như trái banh bóng bàn

 

Áp lực làm cản trở dòng chảy tự nhiên

Đối xử với nó như một ngôi đền thiêng liêng

Không quá chậm, không quá nhanh

Hết sợ hãi và cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy "người tốt"

 

 

 

Hằng Thật - Ngày 1 tháng 6 năm 1978

Lời mỹ miều thường ẩn dấu con dao găm

 

Phật đến không vui

Quỷ tới không giận

Hòa Thượng nói những lời này trong ngày đầu tiên của chuyến hành hương khi chúng tôi rời Kim Luân Tự. Những điều ấy chỉ có ý nghĩa khi chúng tôi tiến bộ đi vào tâm trí của mình. Lúc đầu, thỉnh thoảng những lời tán thán chúng tôi nghe có vị ngọt ngào còn những lời trách mắng thì có vị cay đắng. Nhưng bây giờ thì ngược lại. Sự chỉ trích quyết liệt thường chỉ ra những lỗi lầm tàng ẩn; đó là một món quà không mong đợi nếu như bản ngã nhu nhuyến có thể chịu đựng được. Những lời ngọt ngào và khen ngợi luôn thổi phồng bản thân. Quả báo cho sự tự hào và sự tự thỏa mãn bản thân thì khốc liệt và cay đắng.

Nghe lời tán dương là thuốc độc. Những lời mỹ miều thường ẩn dấu con dao găm. Kinh Bát Nhã cảnh báo các Bồ Tát phải phớt lờ những âm thanh từ hư không. Thấy chư Phật hiện ra trước mắt để ban cho những lời tiên đoán (thọ ký) hoặc là tán thán không ngớt thì thường là ma quỷ trá hình. Chúng cố gắng thổi phồng sự kiêu hãnh của hành giả rồi khiến họ thất bại. Hoặc những sự xuất hiện ấy có thể đúng là Bồ Tát hoặc chư Thiên tới để thử nghiệm định lực và sự chân thành của hành giả. Người ấy còn cái mặt để giữ thể diện không? Những lời phỉ báng có gây nhức nhối và những lời êm đẹp có làm hài lòng hành giả chăng? Nếu thế thì người ấy vẫn còn nhiều việc phải làm trước khi công phu của mình trưởng thành.

“Vì đối với chúng sanh, tôi trọn không mong, không cầu gì cả, … Tôi chỉ muốn độ thoát chúng sanh, khiến họ được thanh tịnh giải thoát vĩnh viễn…”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21. Hạnh thứ tám – Nan Đắc Hạnh

 

 

Hằng Triều • Ngày 1 tháng 6 năm 1978

Hãy cẩn thận đừng tin vào tâm trí của quý vị

 

Đạo tăng một phân,

Ma tăng một trượng…

Nỗ lực tiết chế sự ích kỷ và sửa đổi những thói quen xấu thì gặp phải sự kháng cự cứng cỏi. Đêm qua, tôi có một giấc mơ thật nặng nề, rất nhiều những cám dỗ của đủ mọi loại ham muốn thế gian, vài giọng nói trong khi tôi đang lạy bảo tôi hãy từ bỏ, rằng tôi không có đủ những điều cần có để trở thành hành giả tu Đạo và thành một Tăng sĩ.

Tuy nhiên, trong giấc mơ, Hòa Thượng Trụ Trì và Đại Sư Huệ Năng đã xuất hiện để khuyến khích tôi cứ kiên trì tại đó. “Hãy giữ Bồ Đề tâm, tu hành sâu bên trong nơi chẳng có ngôn từ nào và không ai có thể nhìn thấy hay biết được. Đừng động tâm!”, họ nói như vậy, nghiêm khắc và rõ ràng.

Có một nơi ở bên trong không thể hủy hoại (bất hoại) và bất động. Không ma quỷ nào có thể chạm tới và chỉ có niềm tin mới vào được.

“Nếu thường tin phụng thanh tịnh Tăng

Thời được tín tâm bất thối chuyển

Nếu được tín tâm bất thối chuyển

Người này tín lực không dao động”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Hiền Thủ thứ 12

 

Tĩnh mịch và yên lặng, sóng biển đang gầm rít ở hàng trăm bộ phía dưới; lạy và suy ngẫm xem mình đang không tồn tại như thế nào.

Một người cha trông có vẻ hoàn toàn Mỹ và con trai đi cắm trại, họ nhón chân đi tới để cúng dường. Những nụ cười thật sâu sắc, không có câu hỏi nào. Đơn giản là họ có một khoảng thời gian tốt đẹp với nhau và bằng cách nào đó, những gì họ thấy trong việc lễ lạy lại là một phần của điều tốt đẹp đó.

Vài phút sau, một chiếc xe lao tới với tốc độ nhanh, tiếng bánh xe trượt rít lên để thắng xe dừng lại ngay đằng sau chúng tôi. Một người đàn ông bấn loạn bước đến buông ra những tiếng gào thét điên loạn, ghê rợn và rú lên điên dại. Chúng tôi không quay lại đễ nhìn, và chẳng bao lâu sau ông ta bỏ đi.

“…Các Phật tử kia biết như vậy

Tất cả pháp tánh thường rỗng lặng

Không có một pháp hay tạo tác

Đồng với Chư Phật ngộ vô ngã…”

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

* * *

"Vượt qua: Vòng thứ 3"

"Vị hoàng đế" lạy một mạch sáng nay và cố nhìn vào câu tham thoại đầu “ai”. Vị ấy không thể tìm được cái “ai” đó ở đâu cả, nó luân phiên đưa tới một sự bình an thâm sâu trong tâm trí và sự lo sợ hoang mang. Muốn vượt lên nhưng lại chẳng có gì để leo lên; muốn quay trở lại nhưng mọi cây cầu đều bị đốt cả rồi. “Thật chán quá!”, cuối cùng vị ấy nói với vẻ tức giận, nhưng dù tự nó lần lượt biểu hiện như thế nào đi nữa, thì tất cả đột nhiên dường như trở nên trống rỗng và vô nghĩa. Vì thế, vị ấy miễn cưỡng thúc tới trước, vượt qua. Thật không thể tin tưởng được một chút ý niệm nào.

“Đức Phật dạy: phải thận trọng, chớ tin ý ông, ý của ông không thể tin được, …Chứng được A La Hán rồi mới có thể tin được ý ông”

Kinh 42 Chương. Chương 28. Đừng Theo “Con Ngựa” Ý Niệm.

* * *

Tôi cúi xuống lạy quanh một khúc quẹo và gặp một con rắn lớn đang nằm ngay phía trước mặt mình. Nó không hề di chuyển hay có chút kinh ngạc nào, nó chỉ duỗi dài người và nhìn chằm chặp vào tôi. Có một sự hiện diện kỳ lạ và bất thường quanh con rắn. Tôi nhìn vào đôi mắt nó và đồng thời tôi có cảm giác khó chịu ngay khi tôi nhận ra rằng mình không nên nhìn như vậy. Quá trễ rồi.

 

 

Hằng Thật - Ngày 2 tháng 6 năm 1978

Họ đang đợi chúng ta ở thành phố San Luis Obispo

 

“… mỗi mười phương đều có vô số thế giới nhiều như bụi trần của vạn nước Phật …” (1)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21

Bậc Thánh hiền có thể quán sát hàng triệu và hàng tỷ thế giới đang tồn tại đồng thời trong không gian.

Nhưng dù không có thần thông, thì chúng ta cũng có thể vào được vô số thế giới ở bên trong thế giới này. Vùng ven biển đầy sương mù sáng nay hoang vắng như nấm mồ. Dưới đầu gối của tôi, một mảnh đá phiến sét kêu lạch cạch trên mặt đường nhựa. Trên đầu, con chim ưng đói bụng kêu gào. Sương mù ngăn bặt âm thanh. Chúng tôi lạy đơn độc trong một thế giới rỗng lặng. Đột nhiên, một chiếc xe hơi màu xám lướt tới, dừng lại bên lề đường. Một Sa di ni trong chiếc áo giới màu nâu nhạt cùng với hai nữ cư sĩ trong chiếc áo tràng đen cất tiếng chào trước đôi mắt kinh ngạc của tôi khi tôi đứng dậy sau một cái lạy. Với vẻ mặt rạng ngời, họ nói.

“Sư Phụ mang đại chúng đi bằng xe buýt từ Vạn Phật Thành. Họ đang đợi chúng ta ở thành phố San Luis Obispo!”

Chúng tôi ngay lập tức được di chuyển tới một thế giới trên những bánh xe, chúng tôi lướt nhanh qua những cảnh vật đặc thù bên đường mà chúng tôi đã từng đi qua thật chậm với nỗ lực đều đặn mấy tuần trước.

Chúng tôi quay trở lại xuống dưới con đường hướng về phía nam rồi dừng lại ở trạm kiểm lâm Salmon Creek của khu vực Ranger Berry. Những căn nhà lều gỗ (cabins) ngăn nắp bạc màu với những bồn hoa cắt tỉa gọn gàng tạo một sự tương phản rõ ràng với thế giới hoang vu như mặt trăng của đá và thủy triều mà chúng tôi vừa rời đi. Những nụ cười thoải mái và trò chuyện vui vẻ của những người kiểm lâm và mấy cư sĩ vang lên trong đôi tai tôi đã quen thuộc với sóng biển và yên lặng. Các thế giới bên trong các thế giới.

“… có số Chư Phật nhiều như bụi trần của vạn nước Phật …" (2)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hạnh thứ 21.

 

Ghi chú:

(1) và (2) Nguyên văn Hoa ngữ:

[0102b25] 十方各過萬佛剎微塵數世界外,有萬佛剎微塵數諸佛 http://tripitaka.cbeta.org/en/T10n0279_019

Thập phương các quá vạn phật sát vi trần số thế giới ngoại,hữu vạn phật sát vi trần số chư Phật.

 

 

Hằng Triều • Ngày 2 tháng 6 năm 1978

Hãy nhanh lên! Đã đến giờ công phu chiều

 

"Những giấc mơ rắn"

Những cơn ác mộng kinh hoàng đêm qua. Ma và quỷ biến hình thành những con rắn có sức mạnh ghê gớm, chúng nhiễu loạn và rượt đuổi tôi. Con rắn có thể biến đổi kích cỡ từ lớn hơn ngôi nhà xuống nhỏ xíu vừa đủ lọt qua kẽ hở của một cửa sổ. Nó biến mất ở một nơi này và ngay lập tức xuất hiện ở một chỗ khác. Tôi không thể chế ngự và đánh bại nó. Con rắn quỷ quyệt ấy không thể bị tiêu diệt và miễn nhiễm thương tật. Nó nhấn chìm tôi, tạo ra một cảm giác nguy hiểm, mất kiểm soát và sợ hãi ở khắp mọi nơi.

Nó hiện ra sự chết chóc và gây hại tới gia đình và bạn bè tôi đồng thời nó cuộn tròn khóa mình quanh tôi khiến tôi không thể đi đến giúp họ. Cùng lúc đó, tiếng cười ma quái và tiếng thở nặng nề choán đầy không gian.

Ngay lúc tôi không thể chống cự được con rắn, Sư Phụ và đại chúng xuất hiện trong giấc mơ. Họ ngập tràn trong ánh sáng, nụ cười lành mạnh, năng lượng chánh thiện. Họ đi quanh tôi thành một vòng tròn cho tới khi tất cả sự u ám của con rắn biến mất. Tôi thức dậy cảm giác như vừa trải qua một cơn bệnh lâu ngày; bị chế phục, yếu đuối và im bặt.

Một câu trích dẫn trong Kinh Hoa Nghiêm mà chúng tôi đọc đêm qua còn rõ rang trong tâm trí tôi.

“Nguyện chúng sanh từ nơi trí cảnh Như Lai mà sanh, những người điều thuận đều theo chung quanh…” (1)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Sáng nay thật bất ngờ, trong khi lạy, một chiếc xe dừng lại, có Sa di ni Quả Kính (2), Quả Ngộ (3) và Quả Vân. “Đi thôi. Sư Phụ và một số đông người đang tới đây trong chiếc xe buýt. Chúng tôi đến để đưa các thầy tới chỗ hẹn ở thành phố San Luis!”

Ở thành phố San Luis, trong một công viên nhỏ bên cạnh di tích trụ sở truyền giáo, Hòa Thượng và tất cả các bạn Đạo của chúng tôi bước ra từ một chiếc xe buýt màu vàng. Họ sáng rỡ hơn cả chiếc xe buýt và đang hát bài hát mà Hòa Thượng viết cho chúng tôi bằng tiếng Anh trên đường đi xuống đây. Cả chúng hội cùng ngẫu hứng hòa nhịp đứng hát bài hát, tạo thành một buổi hòa nhạc ngoài trời bên cạnh chiếc xe buýt tại khu phố San Luis, nâng cao tinh thần của hai nhà sư mệt mỏi vì đường sá này và một số người dân địa phương đã vô tình chứng kiến được dịp vui vẻ này.

Chúng tôi leo lên chiếc xe buýt rồng màu vàng, hòa vào giữa những bài Pháp thoại sống động, những tiếng cười, bài hát, trách cứ nhẹ nhàng và sự thân thuộc sâu xa, rồi đi về hướng nam tới Chùa Kim Luân ở thành phố Los Angeles. Khi chúng tôi đi qua vùng Santa Barbara, Hòa Thượng nói to, “Đến giờ công phu chiều. Hãy nhanh lên! Dù có đi đâu thì chúng ta cũng tu tập”. Ai đó ở phía sau xe buýt gõ vào chiếc vỏ chai làm thành tiếng mõ, những âm thanh của bài Sám hối 88 vị Phật trôi qua những chiếc cửa sổ xe buýt trải dọc con đường chính của thành phố Santa Barbara trong giờ cao điểm.

Khi xe lăn bánh hướng về phía thành phố Los Angeles, trong một khoảng khắc yên lặng nhìn ra ngoài cửa, đoạn Kinh trích dẫn quay trở lại và tôi nhận ra, để có thể diễn tả bằng vài lời là giấc mơ đêm qua của tôi không hề là một giấc mơ chút nào cả.

“Nguyện chúng sanh từ nơi trí cảnh Như Lai mà sanh, những người điều thuận đều theo chung quanh…” (4)

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thập Hồi Hướng thứ 25.

 

Ghi chú:

(1) và (4) Nguyên văn Hoa ngữ:

 [0139c29]  ... 願一切眾生從於如來智境而生,諸調順人所共圍遶 http://tripitaka.cbeta.org/T10n0279_026

Nguyện nhất thiết chúng sanh tòng ư như lai trí cảnh nhi sanh, chư điều thuận nhân sở cộng vi nhiễu
 

(2) Sa di ni Quả Kính 果徑,

(3) Quả Ngộ là bà Phương Quả Ngộ 方果悟 http://www.dharmasite.net/HoangPhapTaiVietNam_1974.htm

 

 

Hằng Triều - 26 tháng 6 năm 1978

Một người bạn tin cậy và gần gũi

Lễ lạy tại nơi nghỉ xe vào buổi sáng lạnh có gió và sương mù. Một chiếc xe hơi có phần sau rộng (station-wagon) đậu lại và một gánh xiếc tung hứng nhảy xuống, tất cả ăn mặc nổi bật với quần áo bó sát màu sáng, các đôi giày mềm óng ánh, áo choàng không tay, và đội những mũ mềm của những người hề. Họ cung kính cúng dường hoa tươi và sau đó người trưởng đoàn giởy mũ ra và đưa mũ ra phía trước quét ngang thành một vòng rộng, gập người cúi chào và nói: “Bây giờ” anh ta tuyên bố như người điều khiển biểu diễn xiếc, “Chúng tôi sẽ tung hứng cho các bạn xem, bởi đây là tiết mục chúng tôi làm giỏi nhất.”

Và họ tung hứng. Trong khi thầy Hằng Thật và tôi lạy, họ búng và ném những trái banh có sọc và những cây hình dáng như cái chai màu trắng lốm đốm hình sao lấp lánh qua đầu chúng tôi, qua tai chúng tôi và tất cả ném vòng quanh chúng tôi. “Hip…hup…hup” Họ hô to giữa những tiếng lộp cộp của những trái banh và cây hình chai, các dĩa và vòng đi từ tay này sang tay khác. Khi kết thúc, họ nhẹ nhàng khéo léo tập hợp trước chúng tôi, cúi chào và lại rời đi trong màn sương.


***


Gió thổi mạnh cả ngày giống như tâm trí không ngừng nghỉ của tôi. Cuối cùng, vào nửa giờ lễ lạy cuối, tôi tìm thấy một chút yên bình bên trong – một đồng cỏ tràn đầy ánh nắng, thoáng đãng trong một khu rừng rậm và tối. Rồi tôi nhận thấy gió cũng ngớt đi. Một sự nối kết hay chỉ là sự tình cờ? Hay có thể bởi tôi đang tập trung nên không nhận thấy gió đang làm gì. Một câu nói khiến tâm tôi dịu xuống

Khi đạt đến chỗ không mong cầu, thì không còn lo lắng. (1)

Chúng tôi hồi hướng công đức trong khi mặt trời trôi vào khe giữa mặt biển và bầu trời. Chúng tôi quán tưởng trong yên lặng “Để cho các thiên tai, tai họa và sự đau khổ được tiêu trừ khỏi Pháp giới”. Sau đó tôi thấy rằng việc dứt trừ sự tìm kiếm và lo lắng của chính mình cũng giống như việc dứt trừ các thảm họa và đau khổ của thế giới. Pháp giới là tất cả mọi thứ, mọi thời điểm, mọi nơi chốn. Pháp giới là một và tất cả chúng ta đều là Pháp giới. Không có cái gọi là tôi.

Và ngay lúc đó, một đoạn trong Kinh Hoa Nghiêm xuất hiện trong tâm trí tôi. Kể từ lần đầu tiên nghe kinh này, tôi không thể nào thâm nhập được ý nghĩa của nó. Trong nhiều tuần, tôi không thể đưa nó ra khỏi tâm trí hay hiểu được nó một cách thích hợp. Bây giờ, một thứ gì đó chợt nảy ra và nó trở nên phù hợp rõ ràng một cách dễ dàng như mặt trời lặn xuống đường chân trời. Đoạn kinh đó là:

“Nguyện tất cả chúng sanh khéo vào tất cả pháp bình đẳng rõ biết pháp giới tự tánh không hai”.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng
 

***


Khi không lễ lạy, chúng tôi luôn tụng Chú Đại Bi. Bài chú đã trở thành một người bạn gần gũi và tin cậy. Bất cứ nơi nào chúng tôi đi, bài chú cũng tới đó và chỉ dẫn chúng tôi vượt qua những nơi khó khăn, kỳ lạ và tối tăm nhất. Bài chú là con đường xuyên qua vùng hoang vu, là dây cứu đắm trên biển, là chiếc phà đưa đến bờ bên kia. Bất cứ khi nào chúng tôi bị lạc lối hay yếu ớt và mệt mỏi, Chú Đại Bi luôn đến như mặt trời mà không cơn bão nào có thể di chuyển hay thay đổi – mạnh mẽ, đều đặn và đáng tin cậy.


Bạch đức Thế Tôn, tôi có chú Đại Bi Tâm Đà Ra Ni, nay xin nói ra, vì muốn cho chúng sanh được an vui, được trừ tất cả bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được thành tựu tất cả thiện căn...

Kinh Đà La Ni (2)


Buổi sáng hôm nay, việc thiền của tôi đi vào giai đoạn hỗn loạn, một khu rừng quanh co, tối tăm không có lối ra. “Hãy gữi bình tĩnh và thư giãn” vị Thiện Thi Thức bên trong tôi nói “đừng tìm cầu thì bạn sẽ không bị lo lắng. Hãy tụng Chú Đại Bi”. Tôi đã làm thế. Tôi để mặc như một đứa trẻ nhỏ tin tưởng vào cánh tay của người mẹ hiền. Tôi để mình trở thành các âm thanh của bài chú. Bỗng nhiên, tôi bước đi nhẹ nhàng dọc theo một đường hầm chan hòa ánh nắng, thoát ra khỏi khu rừng quanh co, tối tăm, được kéo đi bởi sức mạnh của bài chú và một cơn gió mát lành. Càng tụng chính xác, con đường càng trở nên sáng sủa và dễ đi hơn. Những nỗi sợ của tôi tan biến và tôi cảm thấy như “cành khô được mùa Xuân chạm tới.”

“… để được thành tựu tất cả các thiện căn, được xa lìa tất cả sự sợ hãi, được mau có đủ tất cả những thứ mong cầu. Cúi xin Ðức Thế Tôn từ bi hứa khả cho."

Kinh Đà La Ni (2)

Tôi có suy nghĩ sẽ duy trì việc trì tụng bài chú ngay cả khi tôi đã được thoát ra an toàn, để những người khác có thể tìm thấy đường của họ. “... đối với chúng sanh khởi lòng bình đẳng, và thường nên trì tụng chớ cho gián đoạn."

Sự kỳ diệu và tốt lành của bài chú thực là bao la và vô tận. Lòng từ bi của bài chú đưa chúng sinh đến chỗ tự tại. Tôi kinh nghiệm qua và nhận thấy bài chú như một tập hợp vĩ đại của của các vị thánh nhân trí tuệ thâm sâu và từ bi, tụ hợp lại trong một dòng sông tâm linh rộng lớn. Dòng sông uốn quanh và chạy qua mười hướng, không bị chướng ngại bởi thời gian hay không gian, đón tiếp và độ vô số chúng sinh đến bờ an lạc. Tất cả những gì chúng ta phải làm là nhất tâm tụng chú và con sông kỳ diệu hiện ra đưa chúng ta đến miền đất của niềm vui và ánh sáng. “… Bạch Đức Thế Tôn, nếu loài người và trời trì tụng các đoạn chú của Chú Đại Bi, khi đến cuối đời, tất cả các Đức Phật ở khắp mười phương sẽ đến nắm tay và đưa họ đi tái sinh đến bất cứ cõi Phật nào mà họ muốn, theo điều nguyện của họ."

 

Tái bút. Sức mạnh của lời nguyện và tình thương của Quán Thế Âm Bồ Tát mọi lúc luôn phát ra để giúp đỡ chúng ta. Điều này gọi là “tha lực”. Trừ khi con người đáp lại và mở rộng hòa nhập bản thể của mình với Quan Thế Âm bằng “tự lực”, nếu không, không thể có cảm ứng đạo giao. Chìa khóa để đi vào chánh định và chánh thọ là tụng chú hoặc niệm tên Quan Thế Âm một cách nhất tâm và chân thành, không có ý niệm nào khác. Bởi vậy người ta nói rằng:

Chuyên nhất thì linh ứng, phân chia thì bế tắc (3). Tự lực thường không đủ để tạo cảm ứng.

Sức gia hộ tốt lành của Phật và Bồ Tát không thể đạt tới nếu chúng ta tán loạn hay không chân thành. Nhưng nếu khi hai sức mạnh này hợp lại, thì đúng là diệu không tả nổi và có thể nhập vào sự không thể nghĩ bàn. Vì vậy Kinh Đà La Ni nhấn mạnh “…chí tâm xưng danh hiệu của tôi, lại chuyên niệm danh hiệu bổn sư tôi là đức A Di Đà Như Lai..." và cũng, “...chớ nghĩ chi khác, y như pháp mà tụng trì. Lúc ấy, sẽ có Nhật Quang Bồ Tát, Nguyệt Quang Bồ Tát cùng vô lượng thần tiên đến chứng minh, giúp thêm sự hiệu nghiệm."

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ: 到無求處便無憂 - Đáo vô cầu xứ tiện vô ưu

(2) Kinh Đại Bi Tâm Đà La Ni http://www.dharmasite.net/KinhDaiBiDaLaNi.htm

(3) Nguyên văn Hoa ngữ: 專一則馳則蔽 - Chuyên nhất tắc linh, phân chi tắc tệ.

 

 

Hằng Triều - Ngày 27 tháng 6 năm 1978

Nghèo hơn bên ngoài và giàu hơn bên trong


Con đường núi hẹp cheo leo như một dải băng trang trí cây thông Giáng Sinh bên mặt của các vách đá thẳng đứng phóng thẳng xuống biển cách mấy trăm bộ Anh phía bên dưới. Con đường được xây dung cho loại xe Model T và thời đại chậm chạp. Thời gian đã thay đổi nhưng con đường vẫn như vậy. Hai xe cắm trại không thể tránh nhau trên mặt đường. Lề đường chỗ rộng nhất chỉ rộng bằng bề ngang hai bánh xe hơi và thường không có lề đường. Người ta, sợ ra khỏi xe để nhìn xuống, thận trọng liếc nhìn ra từ các cửa sổ xe đã quay kiếng xuống, trong khi nắm giữ chặt giây nịt an toàn. Thỉnh thoảng một người can đảm dừng lại để chụp hình với một chân vẫn giữ trong xe. Không ai đi bộ, Tuy nhiên có gì trong vũ trụ rộng lớn này là chắc chắn và bảo đảm? Đâu là trung tâm? Rào chắn thì gắn vào cái gì hay xa lộ thì nằm trên cái gì? Không gì cả ngoài không khí loãng và một biển bụi.

“Lúc đó tại rừng Thệ Ða, Bồ Tát đại chúng đều thấy tất cả cõi Phật khắp pháp giới hư không giới. Trong mỗi mỗi vi trần đều tất cả Phật sát vi trần số Phật độ.”  (1)
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Nhập Pháp Giới


Các quốc gia trong các hạt vi trần số lượng nhiều như các hạt vi trần. Mặt đất rắn chắc chúng ta đang đứng chỉ là một hạt vi trần đang lơ lững trong vũ trụ. Và trong hạt vi trần đó là vô lượng tỷ ức các thế giới của các hạt vi trần, gắn với nhau một cách lỏng lẻo và tạm thời bởi gió của trọng lực. Dưới chân chúng ta là một biển chất lỏng và khí tan chảy.

Trung tâm là không trung tâm. Chúng ta tìm thấy gốc rễ và nền tảng của chúng ta trong “tâm không chấp trước, không bị ràng buộc, tâm giải thoát” – ngôi nhà đích thực của tất cả các chúng sanh. Bên trong nhân của mỗi một tế bào trong cơ thể chúng ta là một hạt nhỏ xíu quá nhỏ để có thể nhìn bằng kính hiển vi. Các nhà khoa học gọi nó là gen. Trong lòng gen “bui vi trần” này là khả năng tái sinh toàn bộ chủng tộc người – số người nhiều như số các hạt bui vi trần trong tất cả thế giới. Chúng ta ngay hiện tại đang sống giữa sự phi thường và kỳ diệu và tất cả chung quanh chúng ta toàn bộ thế giới đang liên tục nói Kinh Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm. Và như thế:

Sự rộng lớn vĩ đại

Có thể vào không chốn

Vi trần lông trùm khắp

Không có gì ở ngoài.

Kinh Hoa Nghiêm


*** ***


Việc bái lạy làm tuôn tràn ra cả khối cặn bã tâm lý. Các ký ức và ấn tượng trỗi dậy từ đáy của tâm thức và lướt qua với các chi tiết phong phú, rất rõ ràng và sống động chúng khiến cho thực tại dường như giấc mơ trong quá khứ. Cả cuộc đời diễn hành ngang qua để kiểm tra- một sự liệt kê các thành công và thất bại, chiến thắng và thua cuộc. Được tổng kết lại và được đánh giá, cuộc đời không giống như đám hơi sương bốc lên bởi gió từ một cơn sóng đánh vào bờ. Không một vật nào trên thế gian mà tôi tìm kiếm hay đạt được mang đến cho tôi sự đầy đủ hay hạnh phúc thực sự. Hai câu từ kinh Hoa Nghiêm liên tục vang lên trong tâm trí tôi.

“Không có một pháp nào khi đắc được đem đến đường vào Pháp tánh."

"Trong tất cả các hạnh phúc trên thế gian, không có hạnh phúc nào mà không có khổ đau”.

Ngược lại, trong tất cả các khổ đau trong sự tu tập, không có khổ đau nào là không hạnh phúc. Chúng ta chưa từng nghèo hơn bên ngoài và giàu hơn bên trong. Rất bất định nhưng cũng rất an ổn. Tại sao? Pháp chính là như vậy. Tu tập là thứ chân thật duy nhất trên thế gian. Tu tập cũng không thể nhìn thấy. Với con mắt nhìn thoáng qua thì dường như không có gì xảy ra; đôi tai thông thường không bắt được âm thanh nào cả. Đạo thì mong manh, mờ nhạt, ẩn dấu và tĩnh lặng, nhưng làm no đủ và nuôi dướng tất cả vạn vật.

Nhìn Đạo thì không thấy,
Lắng nghe cũng không thấy,
Nhưng dùng thì không hết. (2)

Đạo Đức Kinh

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Nhập Pháp Giới http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem39PhamNhapPhapGioi1.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

視之不足見,

聽之不足聞,

用之不足既.

 

Thị chi bất túc kiến,

Thính chi bất túc văn,

Dụng chi bất túc kí.
 

Đạo Đức Kinh - Chương 35.
 

 

Hằng Triều - Ngày 28 tháng 6 năm 1978

Họ là những Thiện Tri Thức tốt nhất của quý vị

 

Buổi sáng hôm nay tôi lại nhìn thấy vô minh trở thành trí tuệ một cách tự nhiên khi có đủ giới định. Điều này không xảy ra bằng cách suy nghĩ hay cố gắng [chuyển vô minh trở thành trí tuệ].

Ðạo lớn của Như Lai

Vi diệu khó biết được

Lìa niệm chẳng phải niệm

Cầu thấy chẳng thể được. (1)

Kinh Hoa nghiêm - Phẩm Thập Địa

 

Những phản ứng theo bản năng “niệm đầu tiên” (2) của chúng tôi đối với các nguy hiểm và khảo nghiệm chúng tôi gặp trên xa lộ chứng minh là có hiệu quả nhất và đúng cho tình trạng thực tế của chúng tôi. Trí tuệ và vô minh là những trạng thái của toàn bộ cơ thể và tâm trí, không phải là vấn đề của sự nhanh trí hay thiếu sót về chỉ số thông minh (IQ). Tuy nhiên, trạng thái của trí tuệ tự nhiên không thể được đạt đến qua sự áp đặt hay chỉ qua suy nghĩ bằng trí óc.

Vô niệm và rời con đường của tâm trí….

Kẻ trí biết rằng trí năng không với tới.

Chỉ do tu tập giới định lâu dài

Mới chuyển mê thành ngộ, phàm thành thánh.

Lâu dài, không phải ngay lập tức,

Khi làm đúng thì không biết ngay cả điều gì đang xảy ra.

Phương pháp cổ xưa này vô thức và chất phác như thế.

Để hiểu thấu vạn vật,

Cần khổ công nỗ lực.

Khi công phu đến chốn,

Tâm lặng lẽ thấu suốt.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

***

“Năng lực để chế phục tất cả ma quỷ”

Kinh Hoa Nghiêm

“Ma quỷ thử thách quý vị để xem có phải là một mặt thì quý vị bái lạy, nhưng mặt khác lại đang khởi vọng tưởng hay không. Nếu quý vị vượt qua được tthử thách hì không sao. Nếu không, quý vị sẽ phải bắt đầu lại từ đầu. Nếu quý vị không nhận ra sự thử thách, thì quý vị sẽ phải luyện lại một lần nữa.

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường, thành phố Los Angeles, 1978

 

Ma quỷ hiện ra dưới nhiều hình thức. Chúng có thể xuất hiện ở bên ngoài như con người, ma quỷ, những người bất bình thường kỳ lạ, và những kẻ kỳ quái, ở xuất hiện bên trong thì như bệnh tật hoặc các trạng thái của tâm trí chính bạn. Ví dụ, chúng có thể biểu hiện như là “những tiếng nói của sự hoài nghi” ở bên trong để thử sự thành tâm và định lực của bạn. Hôm nay, trong khi đang lễ bái, tôi nghe thấy tiếng nói hoài nghi đó ở trong tâm trí về Phật pháp và con đường đến Phật quả. Tôi không dứt khoát cắt bỏ chúng. Tôi nửa nghe nửa bỏ qua. Nhưng nửa nghe đã mở ra một khe hở cho môt con quỷ chui vào. Ngay lập tức, tôi mất chánh niệm và đi vào trạng thái mơ mộng. Trong một giờ đồng hồ hoặc hơn (chỉ phỏng đoán vì tôi mất sự kiểm soát về thời gian và hoàn toàn bị say trong mộng như xuất thần), các suy nghĩ của tôi bị cuốn vào một bộ phim mộng tưởng ở đó tôi là một vị “Bồ tát che dấu tông tích” đang tu Đạo, nhưng không mặc áo tràng và giới y – một “nhà sư không theo quy tắc” không có tu viện.

Trong giấc mơ tối hôm đó tôi gặp những con quỷ xấu xa và phải chịu đựng một sự mất năng lượng lớn.

“Ma quỷ không nhất định là xấu. Chúng là những Thiện Tri thức tốt nhất của quý vị. Tại sao? Khi chư Phật không còn làm công việc của họ, họ trở thành ma quỷ. Ma quỷ muốn thử thách quý vị… Quý vị càng bị khảo nghiệm, quý vị càng trở nên sáng hơn cho đến khi quý vị tỏa sáng như mặt trăng mùa thu. Điều này giống như mài dao: ma quỷ mài giũa quý vị cho đến khi quý vị trở nên sắc bén và sáng ngời.”

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường

 

Bài học: Chế phục cơ thể và kiểm soát cái miệng thì chưa đủ. Tâm trí cũng phải vững chãi và thanh tịnh nếu không bạn sẽ luôn thua cuộc. Tu hành là ngay chính tại điểm này: thâu nhiếp và canh chừng tâm trí, không thả lỏng trong suy nghĩ. “Tâm trí thật nguy hiểm, hơn nữa, nó lại sâu thẳm” - Kinh Hoa nghiêm nói như vậy. Cứ chỉ chạy theo bất kỳ thứ gì trong tâm trí bạn thì sẽ chuốc lấy tai họa và gặp ma quỷ. Tại sao? Do dục vọng.

“Các cảnh giới ma quỷ đến từ một chút dục vọng hay bám chấp trong tâm trí của chính quý vị kết hợp với các duyên bên ngoài và thể hiện ra một con quỷ. Chất độc bên trong kết hợp với chất độc bên ngoài. Đừng dao động! Đừng động tâm…. Hãy hành xử như thể chúng không tồn tại.

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường

  

Tái bút: Ngày hôm sau, bài ma quỷ khảo nghiệm giống hệt đã xuất hiện. Lần này tôi không để cho tâm trí lang thang nữa. Tối hôm đó, các con quỷ tập trung lại trong một giấc mơ để gây rối tôi. Nhưng đột nhiên một một danh sách các lời nguyện của tôi hiện ra trước mắt, bao quanh bởi sức mạnh và sự hiện diện đáng kinh ngạc của Tam Bảo. Các con quỷ biến mất, giấc ngủ yên ổn.

“Ma quỷ đến từ sự ích kỷ. Gốc rễ của tất cả các phiền não là dục vọng. Đến chỗ không mong cầu, thì không còn lo lắng Nếu quý vị không tìm cầu bất cứ điều gì, thì ma quỷ có thể làm gì được quý vị? Quý vị phải chế phục tất cả các loại ma quỷ."

Hòa Thượng Tuyên Hóa khai thị trên đường - Cuộc đối thoại tại phi trường, 1978.

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26PhamThapDia.htm

(2) Niệm đầu tiên hay còn gọi là đệ nhất niệm (第一念). Hòa Thượng Tuyên Hóa có giải thích:

- Nếu quý vị ở niệm đầu tiên (đệ nhất niệm) thì quý vị sẽ không có tâm phân biệt. Niệm thứ nhì (đệ nhị niệm) chính là rơi vào tâm phân biệt. Niệm đầu tiên chính đó là Phật tánh, niệm thứ hai chính là vọng tưởng, là thức tâm. (你若第一念,那就沒有分別心;第二念,就是落於分別心。第一念,就是那個佛性;第二念,就是那個妄想、識心). http://www.drbachinese.org/vbs/publish/493/vbs493p012.pdf

- Niệm đầu tiên nói lên ý niệm do tâm phát ra. Chữ niệm thứ hai là chỉ ý niệm do miệng thốt ra. https://www.dharmasite.net/khaithi1.htm#8

 

Hằng Thật - Ngày 29 tháng 6 năm 1978

Tôi ước tôi đã bỏ túi mánh lới ở cánh cổng

 

“Người rất ngu ngốc”

Tôi được đào tạo để trở thành số 1, trở thành nhanh nhẹn, một người xông xáo, giữ liên lạc và chịu trách nhiệm. Bất kể tình trạng xã hội như thế nào, tôi cũng đẩy con đường của mình tiến đến phía đỉnh. Kết quả là: một bản ngã lớn, sự thỏa mãn ít ỏi, sự tranh giành tham lam nhều hơn và một ham muốn lớn về danh vọng. Tôi ước tôi đã vứt bỏ cái túi mánh lới này ở trước cửa của Tu Viện Kim Sơn Thánh Tự, nhưng tôi đã không vứt bỏ. Mất đến vài tháng bái lạy để bắt đầu thấu hiểu cái túi nặng nề của tập khí tìm kiếm danh vọng sâu dày này.

Tu đến giống kẻ khờ thật diệu thay.

Chỉ khi học đến ngu ngốc mới thật hiếm có.

Chúng tôi đang học một sự nhận thức về chính bản thân mới. Trở thành giống như Người Rất Ngu Ngốc thì chưa được thịnh hành; có một ít người làm gương để noi theo, nhưng lại cảm thấy có thứ gì đó như: không tỏa sáng, không quan hệ đến mình, không có sức thu hút, không quyến rũ. Nhưng hạnh phúc. Hạnh phúc là sự bí mật. Người Rất Ngu Ngốc trông giống chết hơn là đang sống.

Đừng để bị đánh lừa. Anh ta bận rộn bên trong, tập trung tâm trí mình vào công việc tu hành. Anh ta không có thời giờ cho việc tán gẫu xã hội. Vẻ bề ngoài ngốc nghếch của anh ta không phải là màn trình diễn; anh ta hoàn toàn thức tỉnh trong một thế giới không lời (vô ngôn), chú tâm hoàn hảo. Không mặt nạ, không giả vờ, Người Rất Ngu Ngốc không tranh đua với người khác để có vị trí số một. Anh ta không cần gì cả và không tim kiếm danh vọng hay lợi ích.

“Tôi nghe cha tôi kể rằng khi Hoà Thượng Hư Vân được hỏi một câu hỏi, ngài thường nhắm mắt và không trả lời. Ngài luôn niệm Phật.” nữ cư sĩ Quả Ngộ nói.

Người Rất Ngu Ngốc không lo lắng về bề ngoài của mình trông như thế nào; anh ta không nghĩ về chính mình một chút nào. Anh ta thấu hiểu được ảo ảnh của bản ngã và quyết tâm không để lãng phí một giây nào trên đường về nhà về cõi Tịnh Độ.

Khó để hiểu nhưng chân thật từ trong tâm. Thế giới có thể dùng ít chiến sĩ hơn. Thiên nhiên tri ân những Người Rất Ngu Ngốc.

 

Không tranh mà khéo thắng;

Không nói mà có kẻ nghe;

Không gọi mà tự đến;

Thong thả mà xong việc. (1)

Đạo Đức Kinh - Chương 73

 

Bằng việc tu tập, chúng ta từ từ gạt bỏ những ý tưởng sai lầm về việc nỗ lực giành danh vọng. Thay vào đó, chúng ta học cách trân quý sự tốt đẹp sâu xa của sự nhường nhịn và đi chậm lại. Bái lạy dạy những bài học muôn thủa.

 

Danh và thân, cái nào quí hơn? (2)

Tao Te Ching, Chương 44

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ:

Đạo Đức Kinh - Chương 73

不爭而善勝,
不言而善應,
不召而自來,
坦然而善謀。
 

Bất tranh nhi thiện thắng,
Bbất ngôn nhi thiện ứng,
Bất triệu nhi tự lai,
Thản nhiên nhi thiện mưu。
 

(2) Đạo Đức Kinh - Chương 44

名與身孰親?
 

Danh dữ thân thục thân
 

 

Hằng Triều - Ngày 29 tháng 6 năm 1978

Phòng khách sạn phân hủy sinh học


“Giới hay khai phát gốc bồ-đề” (1)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hiền Thủ

 

Giới luật là “sự đảo ngược vĩ đại”, sự quay trở lại và tiến về bờ bên kia. Khi từng lời nói, từng suy nghĩ và hành vi được tập trung lại và nấu chảy lại trong lò nung của đạo đức, cơn gió và ánh sáng của mảnh đất ban đầu (bổn địa) sẽ trở lại. Những sự chán nản độc hại sẽ phân tán và chúng ta lên tới được quốc độ cao, tới nơi công đức của hạnh thanh tịnh.

Đây chính là đang lấy được Viên Ngọc Như Ý. Khi các giới luật thanh tịnh thì bất kỳ thứ gì chúng ta mong ước thì chúng ta đều đạt được.

Ví như trong tất cả thế gian
Mà có như ý diệu bảo châu.

Nếu thường trì giới và tu học
Thời hay đầy đủ các công đức. (1)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hiền Thủ

 

Bixby Landing, Big Sur

Một người lính cúng dường hai cái ba lô màu đỏ. Chúng thật lý tưởng cho việc mang bộ Kinh, bi đông nước, áo ấm và áo che gió trong khi chúng tôi bái lạy. Màu đỏ tươi làm tăng thêm sự an toàn – những chiếc giới y cũ bạc màu và áo tràng xám của chúng tôi gần như là không thấy được đối với một người lái mô tô tốc độ cao, đặc biệt khi trời chạng vạng tối hay vào một buổi sáng sương mù và ảm đạm. Ngay cả những người biết chúng tôi đang ở khu vực nào và đang tìm kiếm chúng tôi cũng gặp khó khăn trong việc tìm hai hình dáng đang chuyển động chậm mặc y phục che dấu sự hiện diện của họ. Tăng đoàn Phật giáo truyền thống mặc các y phục màu nâu đất để biểu thị cho Con đường Trung đạo, để không rơi vào tầm nhìn cực đoan của thường kiến và đoạn kiến. Màu đỏ thuộc về lửa và thuộc về phương Nam, không phải phía Giữa (Trung). Nhưng nếu việc mặc một chút màu “lửa” đỏ giữ chúng tôi tránh khỏi bị xe cán, thì đó là tôn trọng tinh thần của con đường Trung đạo, đó là: tùy duyên. Đừng rơi vào cái không và đừng bám vào cái có.


…. cuộc sống chỉ là một giấc mộng.

Mơ hay tỉnh dường như chỉ là các tốc độ khác nhau của cùng một động cơ, tâm trí. Bât cứ điều gì chúng ta vọng tưởng và dính mắc vào đều tạo nên các đợt sóng trên mặt nước của tâm trí. Đạo lý này áp dụng tương tự - ngủ và thức. Chỉ có điều là khi thức, chúng ta quá bận rộn để có thể nhận ra các đợt sóng. Nhưng trong giấc ngủ, khi các cơ quan cảm giác của chúng ta được cho phép nghỉ ngơi, chúng ta có một cái nhìn thoáng qua một góc nhỏ của tâm địa. “Tư tường ý thức” hay “vô thức”, “thực tại” hay “giấc mơ” không mô tả tâm trí nhiều như chúng bộc lộ sự thiếu hiểu biết về tâm trí của chính chúng ta. Tâm trí luôn luôn thức và tỉnh táo. Tâm trí không ngủ và không bị giới hạn bởi cơ thể, nơi chốn hay kích thước khác.

Tâm chẳng trụ nơi thân
Thân chẳng trụ nơi tâm

Tâm đó luôn chẳng trụ
Vô-lượng khó nghĩ bàn
Thị-hiện tất cả sắc
Ðều riêng chẳng biết nhau.(2)

Kinh Hoa Nghiêm- Phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán
 

Giấc mơ chỉ là vọng tưởng khi cơ thể nghỉ ngơi – xét cho cùng không khác với “điên đảo mộng tưởng” chúng ta làm khi đang “tỉnh”. Bản thân cơ thể là một sự vay mượn, một căn phòng khách sạn có thể phân hủy sinh học, nhưng tâm trí thì mãi mãi và luôn như vậy. Chúng ta chỉ thấy thoáng được một phần của Như Lai bởi vì chúng ta nhắm mắt lại và quên rằng chúng ta chỉ đang mơ. Năng lực của tâm trí rộng lớn và vĩ đại nhưng chúng ta cố gắng giam giữ chúng trong một căn phòng nhỏ bé.

Như tâm, Phật cũng vậy

Như Phật, chúng sanh đồng

Phải biết Phật cùng tâm

Thể tánh đều vô tận.(2)

Kinh Hoa Nghiêm- Phẩm Dạ Ma Cung Kệ Tán
 

Ghi chú:

(1) http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem12PhamHienThu.htm

(2) http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem20PhamDaMaCungKeTan.htm

 

 

Hằng Thật - Ngày 30 tháng 6, 1978

Cô ấy không biết sự thực hành của chúng tôi

 

“Một số ngày đói, một số ngày no”

 

Khi thấy bát trống

Nguyện cho chúng sinh

Rốt ráo thanh tịnh

Không còn phiền não. (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Phạm Hạnh

 

Một nữ cư sĩ tốt bụng khuỳnh tay nhấn đầy cơm trắng vào những cái chén của chúng tôi. Cô ấy sẽ khiếp sợ khi biết cô ta đang làm tâm trí chúng tôi tràn đầy phiền não, hoàn toàn trái ngược với ý định của cô. Rất nhiều chuyện khôi hài ở đây. Các cư sĩ mang theo một bài giảng Pháp đến bữa ăn hôm nay. Thày Hằng Triều và tôi đang khắc phục tánh tham ăn của chúng tôi bằng việc ăn một lượng thức ăn nhất định trong ngày. Đây là một thực hành khó khăn nhưng chúng tôi quyết định là bao tử của chúng tôi cần có kỷ luật nghiêm ngặt. Tuy nhiên Phật Pháp lại không cố định. Công phu thật sự đòi hỏi sự uyển chuyển và sự hòa hợp nhẹ nhàng. Sự thực hành của chúng tôi hôm nay trở thành một sự bám chấp, nguồn gốc của vọng tưởng và mê mờ.

Là những người hành giả tập sự, chúng tôi chưa học cách tùy theo hoàn cảnh. Chúng gọi là “thấy biết hẹp hòi về giới” (2), một trong Năm Thứ Thấy Biết Sai (3). Thay vì dẫn đến hòa bình, thanh tịnh và an lạc, các ý tưởng cố định, cứng nhắc về tu tập của chúng tôi hôm nay mang đến cho chúng tôi nỗi khổ.

Vị nữ cư sĩ xúc đầy cơm vào chén của chúng tôi. Lời nguyện tịnh khẩu của chúng tôi đã ngăn lời không giải thích là  “Hãy đợi một chút! Chúng tôi chỉ ăn một lượng thức ăn nhất định, dù thức ăn đó là thứ gì”. Cô ấy không biết sự thực hành của chúng tôi. Cô ấy đưa cho chúng tôi một phần cơm bình thường và sau đó tỏ ra lo sợ khi chúng tôi từ chối các đồ ăn khác.

 

Khi nhìn chén đầy

Nguyện cho chúng sanh

Đầy đủ sung mãn

Tất cả thiện pháp. (2)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Phạm Hạnh

 

Bởi vậy không những chúng tôi đã không tùy thuận với mọi người mà chúng tôi cũng không biết cách trân trọng cơ hội tốt của việc đơn giản có một chén thức ăn để ăn. Chúng tôi cảm thấy khó khăn khi chỉ ăn cơm trắng, nhưng ít nhất chúng tôi được ăn. Ở Ấn Độ, các nhà sư hành khất ăn những gì đến trong bình bát khất thực của họ mà không bình luận. Một số ngày đói, một số ngày no. Nhiều người trên thế giới thường phải đi ngủ với cái đói; hai chúng tôi hiếm khi phải ăn chưa đầy bụng của mình.

“Tôi không biết là có bao nhiêu ngày trong cuộc đời này mà tôi không ăn; quá nhiều để có thể đếm.” thầy chúng tôi nói.

Nhiều bài học hôm nay.

 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ http://tripitaka.cbeta.org/X60n1115_001

若見空鉢

當願眾生

究竟清淨

空無煩惱

Nhược kiến không bát

Đương nguyện chúng sinh

Cứu cánh thanh tịnh

Không, vô phiền não

 

(2) Giới cấm thủ kiến: Thấy biết hẹp hòi về giới

(3) Ngũ Lợi Sử: Năm Thứ Thấy Biết Sai.

(4) Nguyên văn Hoa ngữ http://tripitaka.cbeta.org/X60n1115_001

若見滿鉢

當願眾生

具足盛滿

一切善法

Nhược kiến mãn bát

Đương nguyện chúng sinh

Cụ túc thạnh mãn

Nhất thiết thiện pháp

 

Hằng Triều - Ngày 30 tháng 7 năm 1978

Chỉ còn cách cánh cửa vài bước



Nhiều bài học hơn: Không đính mắc vào bất cứ thứ gì, bên trong hay bên ngoài. Vào mọi lúc và ở mọi nơi quay ánh sáng trở lại soi sáng bên trong.


Trong, ngoài, và trong các thế giới,
Bồ Tát không bám chấp nơi nào.
... Trong các quốc độ khắp mọi phương,
Bồ tát không nương trụ nơi nào.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa


Mọi thứ phải được từ bỏ, thậm chí các suy nghĩ, nghi ngời, tham dục. Sự thanh lọc phải tỷ mỉ kỹ lướng và tinh thuần như luyện kim nếu không thì con thuyền Pháp không thể vượt qua bài thử thách của lửa. Mọi thứ thuộc về cái tôi được vứt bỏ để tăng vận tốc cuộc hành trình bên trong. Nhiều hơn số dặm chúng tôi đi bằng chân của mình, chuyến hành hương là những thay đổi chúng tôi tạo nên trong tâm mình. Sự tự do đạt được là do làm mất đi, do thật sự buông xả. Xuất gia là một trạng thái của tâm trí. Khi một người xuất khỏi “ngôi nhà” (gia) của các dục vọng, phiền não và tà kiến, đây thực sự là xuất gia. Tôi vẫn cố gắng bám vào những gì tôi có được cho đến khi tôi hoàn toàn chắc rằng những gì phía trước là an toàn và chắc chắn. Kết quả là một chân của tôi thì trên chiếc thuyền đang ngược dòng và chân còn lại thì bám vào bờ. Một số ít lần tôi lấy hết can đảm để buông xả mọi thứ và tạo “bước nhảy vọt của niềm tin” thì tôi cảm thấy như một chú chim nương vào gió, bay trên các ngọn sóng.


Phật pháp giống như biển lớn, chỉ với niềm tin chúng ta mới có thể thâm nhập Phật pháp.
Hòa Thượng Tuyên Hóa - Thủy Kính Hồi Thiên Lục.

Cuối ngày. Một người đàn ông lớn tuổi, cao lớn, tóc bạc với bộ râu dài trắng như tuyết chậm rãi bước quanh chiếc xe vài lần, chìm trong suy nghĩ, xem xét kỹ lưỡng từng phân chiếc xe Đạo Tràng lưu động của chúng tôi. Sau đó ông rảo bước về phía chúng tôi, chắp tay xá chào một cách cung kính và rời đi.

Nước uống mới, quà tặng của Căn Cứ Hải Quân Point Sur. Chúng tôi trước đó chỉ còn vài ly nước cuối cùng – một sự cúng dường kịp thời và được đón chào. Chuyến đi này khiến chúng tôi trân trọng những điều đơn giản trong cuộc sống, như nước uống. Tôi luôn cho nước là thứ đương nhiên có sẵn, không có gì đặc biệt. Nhưng nước uống lạt bình thường là một kho tàng quý giá. Chúng tôi có thể đi mãi vô hạn dù không có tạp chí, thịt, nước cô ca, ti vi, bồn tắm, và giường ngủ nhưng chúng tôi không thể đi một ngày nếu không có nước. Pháp cũng vậy. Như một vị tăng già nói với chúng tôi “Một người tu hành có thể đi một ngày không có thức ăn, một ngày không ngủ, một ngày không áo ấm nhưng anh ta không thể đi một ngày mà không có Pháp”

Chúng tôi buộc phải bái lạy 400 lần tại một chỗ đất đậu xe nhỏ phía bắc của Cầu Rocky Creek. Con đường dẫn đến cây cầu không có một chút lề đường nào và chúng tôi không bao giờ bái lạy qua cầ; thay vì bái lạy qua cầu, chúng tôi đi bộ qua cầu và sẽ thêm 10% số bái lạy để bổ sung cho những chỗ bái lạy bị bỏ qua. Trong bữa ăn trưa, một người đàn ông lạ mặt từ cầu đi đến. Anh ta trông giống chú bé thần Pan vui nhộn, tôi đã có một cảm giác kỳ bí về anh ta, và tính khí của một nhân vật thần thoại trong câu chuyện cổ tích.

“Các ông có biết có một con đường đi vào bên trong cầu không? Đi nào, tôi sẽ chỉ cho các ông”, anh ta nói với một nụ cười tinh nghịch, hé nhìn vào cửa sổ xe đang mở.

“Tôi nghĩ các ông sẽ thực sự thích nó. Bốn cái cột trụ đó có một lối đi bí mật và các ông có thể đứng bên trong chúng. Đi nào, đi nào!” anh ta khuyến khích với đôi mắt vui vẻ và vẫy tay ra hiệu trong khi nhón chân đi lùi về cây cầu đá lớn.

Chúng tôi từ chối. Chúng tôi không bái lạy qua cầu bởi người ta nói rằng những cây cầu có những linh hồn và tinh linh thường gây rắc rối đang cư ngụ (như những con quỷ lùn và yêu tinh trong truyện dân gian và những “huyền thoại” phổ thông). Tôi tin điều này. Cả hai lần dừng để nghỉ và ăn quá gần một cây cầu, những “người” lạ mặt đều xuất hiện. Lần trước là hai vị quỷ loại thần dê cúng dường sữa dê tươi. Họ biến thành màu trắng như khăn trải giường và chạy xa khi chúng tôi bắt đầu niệm Chú Đại Bi. Chúng tôi thậm chí không niệm lớn – mà chỉ niệm trong tâm trí.

“Vị yêu tinh” trên cầu hôm nay xuất hiện bất ngờ tại bảng hiệu nói “Kết thúc vùng Big Sur”, giống như khi chúng tôi gặp “những quỷ thần đại dương và những người lập dị trên núi” tại điểm bắt đầu của vùng Big Sur.

***

Gió và biển không khóc hay cười. Thiên đường và trái đất không sợ hãi hay thèm muốn. Vậy tại sao tôi phải như vậy? Đá và cây, những dòng sông vĩ đại, những ngọn núi và sa mạc tất cả đều không có một cái tôi. Mọi thứ trong tự nhiên không có cái tôi và của tôi. Và tôi cũng nên như vậy, nên như vậy.

“Trống rỗng lìa ngã và ngã sở, vô tri vô giác, vô giác, vô thọ như cỏ cây, đá vách, cũng như vang bóng.”
Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập địa

Trái đất không dừng lại để cảm ơn mưa, các đỉnh núi cao không cản trở các đám mây bay, và mùa đông nhường lại cho mùa xuân mà không cần ký kết một giấy tờ nào. Không có bản ngã là hòa hợp với Đạo, đồng một thể tánh với tất cả vạn vật.

Kể từ lúc khởi đầu của cuộc hành hương, tôi từng có một giấc mơ thường lặp lại và trong giấc mơ đó có một người bạn cũ xuất hiện như một ác tri thức để dẫn tôi và nhiều người khác xuống một con đường sai lạc, xuống con đường của những hang động ích kỷ và nhưng phòng nhỏ tối mờ. Anh ta khuyến khích sự biểu lộ bản ngã, tự do cá nhân và làm bất cứ điều gì mình cảm thấy vui thích ngay lúc đó. Đạo đức, hiếu thảo, và sự đứng đắn thông thường bị chà đạp và phỉ báng một cách trắng trợn. Tối qua, anh ta xuất hiện trở lại, nhưng tôi đã có thể đứng dậy và nói “không”. Tôi thấy bản thân mình đang nói lên đạo lý chân thật với đoàn tùy tùng của anh ta.

Mọi người dừng lại. Giấc mơ dừng lại. Mọi người sửng sốt và lắng nghe, nói “Đúng như vậy”. Động lực đã xoay chuyển và một buổi tối khác với cuộc rượu chè truy hoan trác táng và nổi loạn đã bị đảo ngược. Như thể là một ai đó bật đèn sáng lên trong một bữa tiệc tối thắp đèn cầy mờ ảo và ngừng âm nhạc lại. Tôi biết đây là kết quả của việc bái lạy trong sự ăn năn và sửa đổi. Nếu không tôi sẽ không bao giờ có thể đứng dậy và chặn đứng điều này trong giấc mơ. Trong khi bái lạy trong ngày ngay trước hôm đó, tôi đã xin sự giúp đỡ và thành tâm cầu nguyện để chấm dứt nghiệp chướng này vĩnh viễn. Giấc mơ này đã đến vào mỗi tối. Sức mạnh của sự sám hối và sửa đổi thật tuyệt vời và thâm sâu.

“Nếu quý vị có thể khạc nhổ tội lỗi ra, thì hãy làm như vậy. Tại sao phải nhai lại các tội lỗi của mình? Với tư tưởng sám hối và sửa đổi này, chúng tai đảo ngược và phá được tâm trí đã liên tục nhớ về các việc làm ác.”

Lời nói đầu Kinh Hoa Nghiêm
Quốc Sư Thanh Lương

***


Đôi khi chúng tôi chạm đến điểm chúng tôi cảm thấy không thể tiếp tục nữa. Niềm tin dao động và giống như không còn con đường nào. Có thể đó là cơn gió hay cơn gió bão mùa đông khắc nghiệt dồn dập. Có thể đó là cái nóng như thiêu đốt hay một cái lạnh rét buốt cắt đến xương thịt và bám theo ngày này qua ngày khác. Có thể đó là một cảnh giới của tâm, những suy nghĩ nghi ngờ, những bài khảo nghiệm sức mạnh ý chí và sự thành tâm lại không lường được và làm mệt nhoài hơn bất cứ yếu tố thời tiến nào. Hôm nay, tôi chạm đến điểm này, tới giới hạn cuối cùng của tâm trí. Và đột nhiên tôi nhớ đến một chuyện thời thơ ấu ở tiểu bang Wiscosin: Trong suốt cơn mưa bão kéo dài năm ngày, một người nông dân mang một chiếc đèn lồng và đi kiểm tra các con bò của ông ta. Trên đường trở về từ chuồng bò, gió đã thổi tắt đèn cùa ông. Tuyết trôi dạt đã phủ kín đường mòn. Mặc dù ngôi nhà chỉ cách chuồng bò chưa đến 75 thước, ông đã bị lạc. Ông đi tới đi lui, sau đó đầu hàng và nằm trên đống tuyết. Vào buổi sáng hôm sau, người ta tìm thấy ông bị chết vì cóng trong khi chỉ còn cách cửa sau nhà một vài bước chân.

Nếu tôi dừng lại và nằm lại trong cơn bão tuyết trong tâm trí tôi, tôi có thể cũng bị lạnh cóng đến chết khi chỉ còn cách cửa nhà mình vài bước chân. Cửa nhà của người tu hành là tâm trí không bao giờ nằm xuống, ý niệm không trụ vào nơi nào. Chỉ một ý niệm tiếp tục đi khi bạn cảm thấy bạn không thể đi thêm một chút nào nữa cũng giải thoát đủ năng lượng để tiếp tục đi mãi mãi. Bánh xe Pháp luôn chuyển động (Pháp luân thường chuyển), con đường Bồ Tát là vô tận. không thối chuyển.

Trong tất cả thế giới tận cùng vị lai Bồ Tát trụ trong Bồ Tát Đạo không nhàm mỏi…. Bồ Tát phát tâm Bồ Đề không bao giờ thối chuyển."
Kinh Hoa Nghiệm - Phẩm Thập Hồi Hướng


***
 

Một “người thuyết giáo” đạo Cơ đốc xuất hiện để cải đạo chúng tôi. Tôi cố gắng nói với anh ta nhưng nó thật lạc lõng. Anh ta đã “đi”. Anh ta đứng trên đỉnh của một đống sỏi của Sở Giao Thông Tiểu bang California, một tay kẹp quyển Thánh Kinh, tay kia đưa thẳng lên trời, lắc mạnh và cảnh báo. Mặt đỏ, đầy cảm xúc, anh ta thậm chí còn không biết tôi đang cố gắng nói chuyện với anh ta. Tôi quay trở lại bái lạy.


“Chưa từng tạm khởi tâm hý luận
Chỉ quán các pháp không vô ngã.…

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

 

Tháng Bảy

 

Hằng Thật - Ngày 1 tháng 7, 1978

Tất cả có thể biến mất trong giây phút kế tiếp

 

Đi từ lúc mặt trời mọc cho đến tối, từ lạy này đến lạy khác. Không có dự tính nào cả là một dạng của giải thoát. Phật Pháp làm giàu có cho trái tim, lấp đầy từng khoảng trống tạo nên bởi giảm thiểu thức ăn, quần áo, ngủ nghỉ, lời nói, suy nghĩ dư thừa.

Sự thất bại và thành công mất ý nghĩa của chúng. Cuộc sống trở nên đơn giản, quay vào bên trong những thay đổi thường xuyên, một bài học không bao giờ dừng trong việc thích nghi và hài hòa.

Không gian bái lạy của chúng tôi, đồ đạc, xe, và thậm chí cuộc sống của chúng tôi tất cả có thể biến mất trong giây phút kế tiếp. Món quà của sự sống chính nó giống như một bong bóng nước trên mặt hồ, giống một hình phản chiếu trên tấm gương, giống như một giấc mơ qua đi trong một cái quay đầu. Có thành hiền xưa nói rằng:

 

Không cầu đạo lớn thoát đường mê

Cô phụ tài hiền, sao trượng phu (1)?

Trăm năm, ngày giờ như điện chớp.

Một đời, thân giống bọt nước trôi.

Thê, tài: vất đi! - Nào thật có

Tội nghiệp: theo mình, khó dối ai.

Thử hỏi chất vàng cao bằng núi,

Mua được “vô thường” đừng lại chăng? (2)

 

Ghi chú:

(1) Trong bài Đại Trượng Phu, Hòa Thượng Tuyên Hóa giải thích:

Trong tâm của đại trượng phu xuất thế thì chẳng có giàu sang, mà cũng chẳng có nghèo hèn, chẳng có quan niệm về giai cấp, về quyền lực; quan niệm về mình về người cũng chẳng còn nữa; trong tâm chẳng còn gì, quan niệm về uy vũ chẳng có, những chuyện thế gian đã được gội sạch, chỉ còn lại là cái phong thái đội trời đạp đất, thông suốt thiên địa, trong cái hào khí triền miên, và cái thái độ chính đại quang minh đầy ắp vũ trụ. Mọi ý niệm phải trái của người với của ta đã im bặt, những chuyện dính mắc thuộc loại này không còn nữa. Vậy thì người đó còn sự hiểu biết chăng? Còn hiểu biết. Cái gì cũng hiểu biết cả, có điều là họ không đi ngược lại đạo lý. Những bậc đại trượng phu ấy, họ nhờ vào cái gì mà có thể "giàu sang không dâm, nghèo hèn không đổi, quyền uy không thể khuất phục"? Bởi trong tâm của họ không còn cặn bã, không có thứ gì làm vẩn đục tâm của họ.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ của bài thơ: http://www.drbachinese.org/online_reading/dharma_talks/volume2/volume2_73.htm , bản dịch Việt ngữ Đời Người Như Giấc Mộng Như Ảo Ảnh

不求大道出迷途

縱負賢才豈丈夫

百歲光陰石火爍

一生身世水泡浮

妻財撇下非君有

罪業將行難自欺

試問堆金等山嶽

無常買得不來乎.

 

Bất cầu đại đạo xuất mê đồ.

Túng phụ hiền tài khải trượng phu!

Bách niên quang âm thạch hỏa chước,

Nhất sinh thân tợ thủy bào phù.

Thê, tài phao hạ phi quân hữu,

Tội nghiệp tương hình nan tự khi!

Thí vấn đôi kim đẳng sơn nhạc,

Vô thường mải đắc bất lai hồ.

 

 

 

Hằng Triều- Ngày 1 tháng 7, 1978


“Marty” nôn nóng muốn xuất hiện trở lại

 


“Công đức – Tìm kiếm từ bên trong”


Trí huệ thấu suốt biển các pháp,
Thường thích tu hành pháp lìa si,
Thành tựu đủ công đức xuất thế,
Chẳng còn tu học pháp thế gian. (1)

 

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng
 

Khi tôi lần đầu tiên đọc bài kệ này vào một buổi chiều, lúc đang ngồi trên một cồn cát xa khỏi xa lộ gần bờ biển, tôi gần như xúc động muốn khóc. Tại sao? Khó có thể diễn tả. Nó gợi lên một cảm nhận sâu sắc về sự giải thoát và để lại trong tôi một viễn cảnh về một con đường mới đang mở ra trước mắt tôi – một con đường thanh tịnh đưa tôi ra khỏi ngôi nhà tam giới. Tôi cũng biết hổ thẹn và hối hận vì đã lãng phí quá nhiều năm trong đời với những chuyện nhỏ nhặt và theo đuổi các pháp thế gian.

 

“Nhưng công đức là gì” Tôi tự hỏi. Thuật ngữ này dường như lặp lại trong các kinh, luận và trong lời dạy của Hòa Thượng trên đường đi. Ngài nói với chúng tôi “Chúng ta nên giữ hành vi với bản thân như thế nào? Thái độ của chúng ta nên là:

Có công đối với thế giới,
Có đức đối với con người.
Làm lợi ích to lớn cho bốn châu thiên hạ”.

Lập công tu đức là mục đích của con người và là nền tảng để trở thành một vị Thánh. Điểm cốt tủy trong cả ba trường phái tư tưởng Trung Hoa cổ đại là vun bồi và trau dồi đức hạnh. Khổng Tử, trong sách Đại Học gọi đức hạnh là đỉnh cao nhất của giáo dục và gốc rễ của tất cả mọi thứ khác.

“Đạo của học thức lớn (Đại Học) nằm trong việc làm sáng tỏ cái đức sáng của chính mình (Minh minh đức ), yêu thương dân (Tân dân), an trụ ở nơi chí thiện (Chỉ ư chí thiện)... Tu thân là gốc của vạn vật…”  (2)

Khổng Tử cho rằng giống như sự giàu có tô điểm cho ngôi nhà, cũng vậy đức hạnh tô điểm cho con người (3). Và bởi vậy,

“Người quân tử trước hết và trên hết dồn tâm trí vào đức hạnh của mình” (4)

Mạnh Tử thì cho rằng tất cả con người đều được thiên nhiên ban cho phẩm chất đức hạnh của Thánh nhân, “Vạn vật đầy đủ ở nơi ta” (5) ông nói, và

“Thánh nhân khác phàm phu chỉ ở chỗ họ không phung phí vốn quý của mình. Tìm kiếm sẽ  thấy, nhưng bỏ mặc thì sẽ mất nó” (6)

Bởi vậy Mạnh Tử nhấn mạnh:

“Con đường đức hạnh cần theo đuổi mà không được quay lại và không một ý nghĩ về bổng lộc” (7).

 

“Người trí không có gì là không biết nhưng họ chăm chú nhất về điều quan trọng. Người nhân từ không gì là không nhân ái, nhưng điều chú trọng nhất là tu dưỡng đức hạnh." (8)

“Người dậy vào lúc gà gáy và chăm chỉ làm thiện là học trò của vua Thuấn.” (9)
 

Lão Tử, khi đặt đề mục cho tác phẩm nổi tiếng nhất của mình, Đạo Đức Kinh, đã không còn nghi ngờ gì về sự vượt trội của đức hạnh trong việc tu Đạo.

Đạo sinh ra vạn vật
Đức nuôi dưỡng vạn vật
Khiến vạn vật hình thành
Hoàn thành vạn vật.
Vì vậy mà vạn vật đều
Tôn trọng Đạo và quí Đức. (10)

 

Đạo Đức Kinh - Chương 51

Nhưng trong Phật giáo, công đức được đón nhận sâu sắc nhất và đạt đến sự biểu lộ cao nhất trong Con đường Bồ Tát (Bồ Tát Đạo). Sự viên mãn tột cùng của công đức là Bồ Đề Tâm, là sự phát tâm vô thượng đến Phật quả.


Muốn biết tất cả các Phật-pháp
Phải nên mau phát Bồ-đề-tâm
Tâm này hơn hết trong công-đức
Tất được Như-Lai vô-ngại-trí. (11)


Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức.


Tôi nhận ra ngày hôm đó trên đường quốc lộ bên bờ biển rằng tôi không có hiểu biết thực sự về công đức đích thực. Ở Phương Tây, chúng tôi học về các nhà phát minh, những người thám hiểm - những người đọ sức với bản tính của người khác, và chiến thắng. Những điều thiếu sót là thiếu những vị Thầy hướng dẫn có trí tuệ dẫn đường cho hành trình bên trong và cho con đường tâm linh của những anh hùng vĩ đại. Tôi nghe về công đức, đọc về công đức nhưng tôi không thực sự hiểu công đức. Đó là mảnh đất mới, tuy nhiên là mảnh đất lâu xưa nhất, mảnh đất bản hữu của tâm chân thật của chúng ta. Đạo và các phẩm chất đạo đức không bao giờ rời bỏ chúng ta dù chỉ một khoảnh khắc. Phật tánh không đến không đi, không tăng không giảm, chúng ta chỉ đơn giản là bỏ quên Phật tánh. Bởi vậy Khổng Tử nói,


Đạo không thể rời trong khoảnh khắc
Nếu nó rời đi thì không phải là Đạo. (12)

Trung Dung – Thiên Mệnh
 


Trí tuệ Phật như vậy
Thấu khắp tâm chúng sanh
Do vọng tưởng trói buộc
Chúng ta nào hay biết.
 

Kinh Hoa Nghiêm


Công đức là gốc rễ từ đó tất cả các nhánh cây nảy nở. Công đức là biển cả nơi tất cả các dòng nước nhỏ hơn tụ về. Công đức vượt qua tất cả sự khác biệt về thời gian và nơi chốn, kết nối Đông và Tây, cổ đại và hiện đại, vào một hiện thực ngay đây và bây giờ. Những lời dạy của Khổng Tử, Mạnh Tử, Lão Tử, tất cả chứa đựng những mô tả tuyệt vời về công đức. Nhưng cách diễn đạt “đanh thép” đầy đủ và chính xác nhất tôi tìm được là trong Kinh Pháp Bảo Đàn. Những trích dẫn từ Đai Sư Huệ Năng vô cùng quý báu và thân thiết đối với tôi. Nhiều lần trong khi bái lạy tôi tìm thấy mình quay trở lại những lời này như nguồn dinh dưỡng. Chúng hướng dẫn, truyền cảm hứng và hơn tất cả như là một khuôn đúc thích hợp để rót tâm trí của tôi vào đó, tôi luyện và rèn nên một con người mới với chánh tri kiến. Tôi cuối cùng đã chép các đoạn tôi ưa thích vào cuốn số tay và mang theo hành lý của mình. Tôi lấy chúng ra trong khi ngồi trên lề đường hay trong tiệm giặt mở suốt đêm và quán sát phần tốt nhât của việc làm người và những nền tảng cơ bản để trở thành một vị Phật.



“Công Đức – Tìm kiếm bên trong”


“Công đức ở bên trong Pháp thân, không phải do tu phước mà được. Thấy Tánh là Công, bình đẳng là Đức. Mỗi niệm không ngưng trệ, thường thấy bản tánh, diệu dụng chân thật gọi là công đức”. “Trong tâm khiêm hạ là công, bên ngoài hành lễ phép là đức. Tự tánh dựng lập muôn pháp là công, tâm thể lìa niệm là đức; không lìa tự tánh là công, ứng dụng không nhiễm là đức. Nếu tìm công đức pháp thân, chỉ y nơi đây mà tạo là chân công đức”


“Nếu người tu công đức, tâm tức không có khinh, thường hành khắp kính. Tâm thường khinh người, ngô ngã không dứt, tức là không công, tự tánh hư vọng không thật tức tự không đức, vì ngô ngã tự đại thường khinh tất cả”

“Này Thiện tri thức, mỗi niệm không có gián đoạn là công, tâm hành ngay thẳng là đức, tự tu tánh là công, tự tu thân là đức.

Ghi chú: “Thân” tức là “không tham, sân, si. Nếu không sát sanh, trộm cắp, nói dối, là tu thân. Đó là công”

“Này Thiện tri thức, công đức phải là tự thân mà thấy, không phải do bố thí cúng dường mà cầu được. Ấy là phước đức cùng với công đức khác nhau. Tổ sư ta không có lỗi”
“… Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân là cửa. Ngoài có năm cửa, trong có cửa ý…Phật nằm trong tánh mà tạo, chớ hướng ra ngoài mà cầu. Tự tánh mê tức là chúng sinh, tự tánh giác tức là Phật.” (13)


Kinh Pháp Bảo Đàn


* * *


“Đầy đủ tự nơi mình, và không dựa vào những gì bên ngoài, đó là đức.”


Hòa Thượng Tuyên Hóa

Los Angeles, ngày 8 tháng 5, 1978



* * *


Người xưa dạy rằng xã hội chỉ có thể trật tự khi tâm trí và bản tánh của người dân được trật tự. Quốc gia thái bình và thịnh trị chỉ khi các người lãnh đạo học được cách điều phục bản thân bằng cách tu sửa và “tìm kiếm sự trọn vẹn của bản thân” Khi nền tảng đức hạnh được vững chắc, và cái đức bên trong tròn đầy, thì nó sẽ sinh ra một năng lượng thiện lành chánh trực tự nhiên tuôn chảy nuôi dưỡng và dẫn dắt tất cả sự sống.

“Người quân tử tuân thủ nghiêm ngặt tu thân thì thiên hạ được bình yên” (14)
Mạnh Tử

Công đức nằm trong việc tự tu tập bản thân. Tự tu tập bản thân nghĩa là thanh lọc tất cả sai lầm, ích kỷ, nhỏ nhen, phiền não, và sửa chữa lại tất cả các sai lầm, các thói quen xấu, thái quá và thiếu sót. Con người được tu tập qua việc sửa sai lầm cho tâm trí. Sửa sai lầm tâm trí nằm ở việc loại bỏ hết các dục vọng. Công đức cao nhất và hoàn thiện nhất xuất hiện mà không cần nỗ lực khi tâm trí chánh trực, giống như một cơn mưa nhẹ, và vô tận như mạch nước trong núi. Tâm trí chánh trực nằm trong việc nảy sanh suy nghĩ không dính mắc vào đâu cả. Đây là tự tánh căn bản của con người, và là nghĩa của “tu thân” và “phản bổn” (trở về cội nguồn).


Các bậc Thánh Hiền cổ xưa khác nhau chút ít trong sự nhấn mạnh và cách tiếp cận, nhưng sự đồng ý với nhau của họ về cách thức tu tập công đức bằng các phương tiện của suy nghĩ đúng đắn và hành xử thanh tịnh là rõ ràng và chắc chắn. Thanh tịnh là nguồn gốc của công đức; trí tuệ là các cành nhánh của công đức.


“Phép dưỡng tâm không gì bằng bớt dần những điều ham muốn” (15)

Mạnh Tử

 

“Nếu còn tham muốn thì không có được chân chánh ”
Khổng Tử


“Bởi vậy, thường không có tư dục, mới nhận được chỗ huyền diệu của đạo;
Thường bị tư dục nên chỉ thấy chỗ chia lìa của Đạo. (16)
Lão Tử


“Ông tu phép Tam-muội cốt để ra khỏi trần-lao, nếu không trừ lòng dâm, thì không thể ra khỏi trần-lao được”.(17)
Kinh Thủ Lăng Nghiêm - Quyển sáu


* * *


Tu thân được hoàn thiện bằng việc sửa những sai lầm của tâm trí. Tâm trí được sửa chữa bằng việc xua đuổi các dục vọng. Dục vọng tự đuổi chúng đi khi các suy nghĩ được làm sạch và lắng lại. Khi dục vọng biến mất và suy nghĩ dừng lại, khi đó trạng thái tự nhiên của sự tĩnh lặng thanh tịnh giải thoát xuất hiện trở lại, như mặt trời chiếu sáng khi mây đen tan biến. Trạng thái cao nhất của tâm trí tự quay trở lại về nơi chốn không có thứ gì để tìm kiếm, không có gì để đạt được (vô cầu, vô đắc). Và sự trọn vẹn của công đức đến từ việc đơn giản biết đủ. Và bởi vậy, một tác giả cổ xưa viết,


Quả giác ngộ viên mãn
Trở về nơi vô đắc
Tự mình có đầy đủ
Không tìm cầu bên ngoài
Là trọn vẹn công đức.

* * *

Đường chia hai ngả giữa rừng vàng
Tiếc thay không thể đi cả hai
Tôi khách cô hành đứng lại lâu
Nhìn đường xa tắp cuối tầm nhìn
Tận khúc quanh xa trong bụi cây. (18)

Robert Frost


Phia cuối vùng Big Sur. Chúng tôi tái nhập trở lại nền văn minh trên vùng ven phì nhiêu của Cao nguyên Carmel.

“Ê Marty! Ê Marty!” ai đó gọi to từ phía sau khi chúng tôi lạy gần biển. Phải mất một lúc để cái tên “Marty” được cảm nhận. Đó là tên của tôi trước khi đi tu – tôi đã không nghe tên này trong hơn một năm (một năm tu tập dài hơn cả toàn bộ cuộc đời).

Chiếc xe chở đầy những người bạn cũ vẫy tay và cười.

“Chúng tôi cá rằng đã làm bạn bị bất ngờ, đúng không?” họ nói. Nếu mà họ biết rõ hơn, có những sự ngưng lại khó khăn, những cái nhìn chằm chằm lâu dài, có thể một chút bàng hoàng khi chúng tôi hòa nhập lại và dò tìm một vùng chung, một đường mòn quen thuộc. Đường mòn thì không còn nữa và vùng chung cũ thì đã cỏ mọc đầy.

Đây là những người bạn thân cũ. Chúng tôi cùng chia sẻ nhiều năm của những nhân duyên và kinh nghiệm sâu đậm trong cuộc sống: kết hôn, con cái, đại học, sống chung, sinh đẻ và qua đời, ly hôn, những quãng thời gian khó khăn và đẹp đẽ, nước mắt và những bài hát, tất cả những kết gằn và ràng buộc tình cảm của con người. Chúng tôi không bao giờ quên được nhau, tuy nhiên khi chúng tôi đứng đối diện trên xa lộ doc bờ biển đầy gió này, qua yên lặng, qua trực giác, tất cả chúng tôi đều biết rằng – lần này đã thay đổi tốt đẹp.

... Và hai con đường sớm mai ấy
Lá phủ đầy, chưa có dấu chân
Ồ, đường đầu tiên sẽ đi hôm khác!
Tuy biết đường sẽ tiếp nối đường
Ta không chắc còn quay trở lại. (18)

Robert Frost
 

Chúng tôi bắt đầu 15 năm trước đây trong căn phòng phía sau của một nhà hàng Ý nhỏ, quanh một tấm vải trải bàn hình ô đánh cờ có thắp đèn cầy cùng thề nguyện là “sẽ đi theo sự thật cho dù việc đó sẽ dẫn đến bất cứ nơi nào.” Chúng tôi còn trẻ, đầy lý tưởng và nhiệt huyết. Chúng tôi đã đi vào trận chiến cùng nhau, nhưng trận chiến của tâm hồn thì luôn luôn đơn độc và những người bạn tốt nhất phải nhanh chóng chọn những con đường khác.

"Người hành Ðạo ví như một người chiến đấu với muôn người; mang giáp ra cửa, hoặc có ý khiếp nhược, hoặc nửa đường rồi lui, hoặc chống cự đến chết, hoặc đắc thắng mà về.

Bậc Sa-môn học Ðạo phải giữ lòng bền vững và tinh tấn lướt tới, chẳng sợ cảnh trước, phá diệt bọn ma, chứng được Ðạo-quả." (

Kính 42 chương - Chương 33


Thật khó để tập trung sau khi họ rời đi. Nhiều kỷ niệm khuấy động, đầy những suy nghĩ. Ra khỏi vùng hoang vu đến một chiếc xe đầy những người bạn cũ là một cú sốc kép – một là văn hóa, hai là sự nhận diện. “Marty” thì rất háo hức muốn xuất hiện trở lại. Còn Hằng Châu mới, mong manh thì cảm thấy vụng về, không tự tin không sinh động, nhưng khá châm chạp và không ổn định. Lặng lẽ, nói nhỏ có thể thậm chí một chút lạnh lùng. Thật không dễ để thay đổi.

Và tuy vậy, nhà tu hành, một ẩn sĩ người “leo gió và cưỡi sương”, là ngôi nhà thật của tôi, trái tim tôi biết hạnh phúc của việc xuất gia, của việc chân thật và tự nhiên, của sự mất tất cả mọi thứ để tìm thấy tất cả. Miệng tôi không thể tìm được từ ngữ đẹp dễ hay cuộc nói chuyện lịch lãm nào, nhưng bên trong tôi quan tâm sâu sắc đến tất cả họ và tất cả nhân loại.

Tôi là một người mới bắt đầu, hãy còn là một Bồ tát bằng đất sét, vừa chỉ mới có thể giữ được chính tôi nổi trên biển – chỉ cần một con sóng và tôi vỡ vụn. Nhưng khi đất sét trở thành kim cương, thì tôi sẽ quay trở lại đưa tất cả chúng sinh vượt qua biển khổ.

“Tôi bây giờ vì tất cả những chúng sanh này, tu tập phước huệ, và các pháp trợ Đạo. Bằng tự lực, tôi quyết tâm và không tìm kiếm bạn đồng hành. Tôi dùng công đức để làm tất cả chúng sinh tích tụ sự thanh tịnh tuyệt đối cho đến và bao gồm Thập Lưc của Như Lai và trí tuệ vô ngại.”

Kinh Hoa nghiêm.


Một phần trong tôi muốn tỏa chiếu một nụ cười lớn, nói chuyện hài hước, vỗ lưng, và làm giống trở lại như ngày trước. Nhưng chúng ta đã từng làm tất cả thuộc về thời trước và chúng không mang đến sự giải thoát; chúng không đuổi những bóng tối hay làm đầy âm vang trong trái tim. Đả đến lúc tiến tới. Sự trưởng thành trên những chồi nụ ở đầu nhánh cây, và mùa xuân cũng vậy. Chúng tôi quay ngược lại với bụi trấn để tái hợp với sự gíac ngộ (bội trần hơp giác). Làm sao chúng ta có thể là những người bạn chân thực của nhau trừ khi trở nên chân thực với tâm hồn của chúng ta? Tu Đạo là cô đơn và tự do, đầy niềm vui và sự kỳ điệu – Đó là con đường ít người đi và điều đó tạo nên sự khác biệt.

Tôi sẽ thở dài kể chuyện này
Từ nơi nào đó đã lâu rồi:
Hai ngả đường rẽ ra trong rừng
Và tôi chọn đường ít qua lại
Và điều đó làm nên khác biệt. (18)

Robert Frost


 

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hồi Hướng https://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem25PhamThapHoiHuong1.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ:

大學之道在明明德,在親民,在止於至善... 修身為本

Đại học chi đạo tại minh minh đức, tại thân dân, tại chỉ vu chí thiện... Tu thân vi bổn.

(3) Nguyên văn Hoa ngữ:

富润屋,德润身

Phú nhuận ốc; đức nhuận thân

(4) Nguyên văn Hoa ngữ:

 :是故君子先慎乎德

Thị cố quân tử tiên thận hồ đức

(5) Nguyên văn Hoa ngữ:

萬 物 皆 備 於

Vạn vật giai bị ư ngã

(6) Nguyên văn Hoa ngữ:

求則得之,舍則失之
cầu tắc đắc chi, xá tắc thất chi.

(7) Nguyên văn Hoa ngữ:

經德不回,非以乾祿也
Kinh đức bất hồi, phi dĩ can lộc dã 
 

(8) Nguyên văn Hoa ngữ:

知者無不知也,當務之為急;仁者無不愛也,急親賢之為務

Tri giả vô bất tri dã, đương vụ chi vi cấp; nhân giả vô bất ái dã,cấp thân hiền chi vi vụ.

(9) Nguyên văn Hoa ngữ:

雞鳴而起,孳孳為善者,舜之徒也

Kê minh nhi khởi,tư tư vi thiện giả,Thuấn chi đồ dã。

(10) Nguyên văn Hoa ngữ - Đạo Đức Kinh:

道 生 之,

德 畜 之,

物 形 之,

勢 成 之.

是 以 萬 物 莫 不

尊 道

而 貴 德


Đạo sinh chi,
Đức súc chi.
Vật hình chi,
Thế thành chi.
Thị dĩ vạn vật mạc bất
Tôn Đạo.
Nhi quý Đức

(11) Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức https://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem17PhamSoPhatTamCongDuc.htm

 

(12) Nguyên văn Hoa ngữ:

道也者, 不可須臾離也;
可離, 非道也。

Đạo dã giả, bất khả tu du ly dã;
Khả ly, phi Đạo dã。

 

(13) Kinh Pháp Bảo Đàn

 

(14) Nguyên văn Hoa ngữ:

君子之守,修其身而天下平

Quân tử chi thủ, tu kì thân nhi thiên hạ bình

(15)  Nguyên văn Hoa ngữ:

養心莫善於寡欲。
Dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục.

(16)  Nguyên văn Hoa ngữ:

常無, 欲以觀其妙; 常有, 欲以觀其徼
Cố thường vô dục dĩ quan kỳ diệu; thường hữu dục dĩ quan kỳ kiếu.

(17)  Nguyên văn Hoa ngữ:

汝修三昧本出塵勞。婬心不除塵不可出
Nhữ tu tam-muội bổn xuất trần lao. Dâm tâm bất trừ, trần bất khả xuất.
(18) Nguyên văn bài thơ Anh ngữ của Thi sĩ Robert Frost (1874 - 1963) https://poets.org/poem/road-not-taken: 

The Road Not Taken
Robert Frost - 1874-1963


Two roads diverged in a yellow wood,
And sorry I could not travel both
And be one traveler, long I stood
And looked down one as far as I could
To where it bent in the undergrowth;

Then took the other, as just as fair,
And having perhaps the better claim,
Because it was grassy and wanted wear;
Though as for that the passing there
Had worn them really about the same,

And both that morning equally lay
In leaves no step had trodden black.
Oh, I kept the first for another day!
Yet knowing how way leads on to way,
I doubted if I should ever come back.

I shall be telling this with a sigh
Somewhere ages and ages hence:
Two roads diverged in a wood, and I—
I took the one less traveled by,
And that has made all the difference.

 

 

Hằng Thật - ngày 2 tháng 7, 1978

Đưa tôi xem bàn tay đáng thương của bạn

 

“Hãy sẵn sàng”

Thường tu tập như vậy

Ngày đêm không nhàm mỏi

Thiện căn càng sáng sạch

Như lửa luyện chơn kim. (1)

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Địa

 

Trượt dài trên hạnh phúc của sự tu tập. Tôi trở nên lười biếng sáng nay và nhận được một bài khảo nghiệm. Trở về từ bái lạy cảm giác thảnh thơi và say sưa với vẻ đẹp của bờ biển. Lòng đầy lơi lỏng, tôi không sử dụng sự kiên nhẫn và tinh tấn của Thiền. Xả thiền quá sớm, trước khi tôi thu nhiếp thân và ttập trung tâm niệm lại. Ăn trưa với tâm trí phân tán. Không an ổn và lêch lạc, tôi quay trở lại bái lạy trong ánh nắng chói sáng của buổi chiều. Bài khảo nghiệm xuất hiện trước khi tôi lạy được chín bước.

Chiếc xe  thể thao màu xám dừng trong đám bụi mịt mờ, cách đầu tôi vài phân tây.  Cửa bật mở. Một giọng phụ nữ khàn khàn nói “Có phải các ông đang tìm đi nhờ xe? Tôi đang đi đến Hot Springs (Suối Nước nóng). Các ông có muốn đi cùng tôi không? Vị nữ hoàng rừng rậm sải bước ra từ ghế lái xe. Một người phụ nữ đã lập gia đình khoảng hơn 50 tuổi, dáng điệu nhún nhảy, tóc vàng hoe cao khoãng  1 thước 78. Khuôn mặt mập, váy lụa đen xẻ dài bên cạnh. Trang sức bạc hiệu Navajo lủng lẳng trên tai, tay, cổ. “Đi nào, tôi sẽ mời các ông ăn trưa và chúng ta cùng đi tắm. Các ông sẽ không đi suốt cả đoạn đường đến Monterey như thế này chứ? Để làm gì vậy?” “Tôi cũng là một người theo đạo Phật. Tôi thuộc về nhóm như vậy. Nhưng bây giờ tôi chuẩn bị đi ăn trưa và tắm nước khoáng nóng. Tôi sẽ mời các ông. Chúng ta đi chứ? (Cô ta ra lệnh) Lên xe”.

Bà ta nói thêm “Đưa cho tôi xem bàn tay đáng thương của các ông”

Bà đưa tay ra. Tôi rút tay lại. Bà ta dậm chân, lao đi và bước dài về chiếc xe, đồ trang sức rung rinh, kêu lách cách. Ống khói xe phun mạnh, bánh xe quay tít, chiếc xe biến mất sau đoạn đường vòng. Phù!

Những Thiện tri thức như bà ta thật hiếm. Bài học của họ không phai đi nhanh chóng. Bả ta nói Pháp về sự cần phải cẩn mật thận trọng liên tục ngày đêm, không mệt mỏi.

Giống như các nam hướng đạo sinh, hành giả tu Đạo phải luôn “sẵn sàng”. Các cảnh giới và khảo nghiệm đến từ mười phương. Chúng dường như tóm lấy chúng ta lúc không có sự phòng vệ, xuất hiện với thời điểm kỳ lạ vào lúc hành giả bất cẩn.

Bồ tát không một niệm thôi nghỉ phế bỏ. Ði, đứng, ngồi, nằm, nhẫn đến lúc ngủ chiêm bao cũng chưa từng tương ưng với cái chướng. Luôn không hề bỏ những quán niệm (về trí tuệ sáng suốt)  trên đây. (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa - Phần Địa Thứ Bảy: Viễn Hành Địa

Tại sao? Bởi vì tất cả đều là khảo nghiệm. Chúng ta có thể thường vượt qua khảo nghiệm nếu tâm trí chúng ta trong sáng và tỉnh táo. Tâm ý chân thành cắt xuyên các cảnh giới một cách khéo gọn. Khi chú tâm, chúng ta không phân biệt các bài khảo nghiệm và không phải bài khảo nghiệm cho đến khi các cảnh giới đến và đi. Nhưng trong một khoảnh khắc lơi lỏng hay mê mờ, chúng ta che phủ lên trí tuệ của chúng ta và “đối cảnh lầm không biết” chúng ta sẽ trượt bài khảo nghiểm và phải làm lại từ đầu. (2)

 

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26PhamThapDia.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ - Bài kệ của Hòa Thượng Tuyên Hóa:

一切是考驗,

看爾怎麼辦?
覿面若不識,

須再從頭煉。

 

Nhất thiết thị khảo nghiệm,
Khán nhĩ chẩm ma bạn?
Địch diện nhược bất thức,
Tu tái tòng đầu luyện。

 

Tất cả là khảo nghiệm,

Coi thử mình ra sao,

Ðối cảnh lầm không biết,

Phải luyện lại từ đầu.

 

 

Hằng Thật - Ngày 3 tháng 7, 1978

Đi thuyền sang bờ bên kia

 

“Kiên nhẫn rất vĩ đại. Nếu quý vị có thể làm chủ được sự kiên nhẫn, quý vị sẽ đến được bở bên kia. Không có kiên nhẫn, quý vị không thể đến nơi. Quý vị có thể gọi kiên nhẫn là một con thuyền. Quý vị cỡi con thuyền kiên nhẫn để đến bờ tinh tấn bên kia.

“Quý vị lắng nghe và lắng nghe, nhưng ở đây lắng nghe không có tác dụng gì cả. Quý vị phải đi và làm. Bất cứ ai có thể kiên nhẫn sẽ đạt được đại phước, đại trí  và đại an lạc.”

Hòa Thượng Tuyên Hóa

Ngay bây giờ ngồi tĩnh lặng trong thời khóa thiền buổi tối cần sự kiên nhẫn. Xương đầu gối tôi nóng cháy giống như ngọn lửa cháy rừng Ventana Cove đang cháy ngay phía đông nơi đây. Tôi lặng ngắm cách dòng nước khắc tạc một cách kiên nhẫn như thế nào để tạo nên các dòng suối sâu trong các vách núi đá rắn chắc. Tôi kiên nhẫn trì chú giống như dòng nước đang chảy róc rách trong tâm trí. Sẽ đến lúc Pháp âm sẽ tạo nên một dòng suối xuyên qua ngọn núi đá rắn chắc của các phiền não của tôi.

 

 

Hằng Triều - Ngày 3 tháng 7, 1978

Trắng tay gặp Diêm Vương

 

Giấc mơ: Một mình, cỡi các con sóng khổng lồ chạm tới những đám mây, chỏm núi và rơi trở lại về biển. Không sơ hãi, nhẹ nhàng và tự tại thoải mái. Tôi đáp xuống một hòn đảo bùn đang trôi nổi. Tôi rất vui thích và trước khi nhận thức ra thì tôi bị gài bẫy và làm quay cuồng bởi các linh hồn quỷ. Bị kẹt trong bùn, không thể quay về với các con sóng lớn.

Hòa Thượng Trụ Trì và đại chúng xuất hiện để nạp điện lại các bình điện của tôi. Hòa Thượng mỉm cười như một người cha và đưa tôi quay trở lại con đường đến Vạn Phật Thánh Thành. Tôi đã quá mệt mỏi sau khi chiến đấu với bọn quỷ trong đảo bùn và đã ngủ gục trong lúc ăn trưa. Một nhóm các vị Hộ Pháp xuất hiện trong một chiếc xe van bán tải bốn bánh. Con đường phía trước là không thể vượt qua, chỉ toàn là bùn. Các vị Hộ Pháp hét lớn: ”Chúng ta sẽ đi qua. Tiến lên và vượt ra khỏi những xiềng xích này”.

“Nhưng, nhưng…” Tôi lắp bắp

“Không nhưng gì hết!” người trưởng đoàn nói   “Nhanh lên”

Chẳng bao lâu chúng tôi đưa được chiếc xe van bán tải chạy lên ngọn đổi và thoát ra khỏi hố bẫy bùn. Những vị Hộ Pháp khỏe mạnh, tự tin và vui vẻ. Giấc mơ đã đến sau khi “tách khỏi cái này”. “Cái này” là gì? “Cái này” là nhất tâm, cái vô tâm không không mưu cầu, không nắm bắt, không lo lắng. Tôi rời “cái này” để đến “cái kia” cố gắng nghĩ về sự vật bên ngoài và dự đoán tôi sẽ hành động như thế nào, sẽ nói gì nếu những người bạn cũ của tôi quay trở lại. Họ sống ở thành phố Carmel, cách đây một vài dặm và tôi không thể xua họ ra khỏi suy nghĩ của mình. Tâm trí của mình nên giống như tấm gương: khi một hình ảnh xuất hiện, tấm gương phản chiếu hình ảnh; khi hình ảnh đi rồi thì tấm gương trở về trống rỗng.

Tâm trí tôi thay vào đó lại giống như một tấm phim ảnh nhạy bén– in dấu và hấp thụ mọi hình ảnh đi qua. Vào cuối ngày, tôi cảm thấy giống như một cuốn an bum cũ bị nhồi nhét quá nhiều ảnh và giống như bị kẹt trên đảo bùn.

 

Nhứt tâm cầu Phật trí

Chuyên ròng không niệm khác.

...

Chẳng thích những thế sự

Thường lợi ích thế gian. (1)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa

 

Trong một vài phút, tôi rời khỏi các suy nghĩ quanh quẩn, cố gắng “vui sướng trong các việc thế gian”. Ân hận ngay lập tức. Làm sao tôi có thể quên: Không có niềm vui nào trong các việc thế gian. Niềm vui thực sự duy nhất là rời khỏi thế giới.

 

Không trụ Pháp thế gian

Ưa thích rời thế gian

Biết pháp như hư không

Chẳng từ nơi nào đến.

Trụ biên tế vô tướng.

Chỉ còn có nhất tướng...

Tôi đọc những dòng này trong Kinh Hoa Nghiêm, ngồi trong xe mở cửa nhìn ra mặt trời lặn. Thầy Hằng Thật đang rửa trong một thau nhựa trên mũi trước xe. Một khoảng thời gian lặng lẽ trong ngày, một khoảng trống để nhìn lại. Các bạn tôi đã đi rồi, gia đình thì ở xa. Gió thổi từ biển. Phía trên, những đám mây trắng bồng bềnh cô độc trôi qua. Bên dưới, chúng tôi nhỏ xíu, bình yên bái lạy với tất cả mọi thứ. Tôi nhớ Hòa Thưọng Trụ Trì nói với đại chúng ở thành phố Loas Angeles:

“Thứ gì ở đó mà quý vị có thể cho là quan trọng trong cuộc sống này? Đó là tại sao tôi nói cho quý vị biết:

Cá hăm hở trong nước

Người thế gian cuồng náo,

Không biết làm công đức,

Mất tâm tạo nghiệp tội.

Vàng bạc cao như núi,

Nhắm mắt đều nào còn,

Trắng tay gặp Diêm Vương,

Hối hận nước mắt tuôn. (2)

 

Điều gì đáng giá với quá nhiều mồ hôi nước mắt và sự điên đảo? Hãy suy nghĩ kỹ, suy nghĩ thật kỹ”.

 

Ghi chú:

(1) Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Địa http://www.dharmasite.net/KinhHoaNghiem26PhamThapDia.htm

(2) Nguyên văn Hoa ngữ http://www.drbachinese.org/vbs/publish/272/vbs272p031.htm

魚在水裡躍,

人在世上鬧,

不知為善德,

虧心把孽造,

金銀堆成山,

閉眼全都撂,

空手見閻君,

悔心把淚掉

Ngư tại thủy lý dược,
Nhân tại thế thượng náo,
Bất tri vi thiện đức,
Khuy tâm bả nghiệt tạo,
Kim ngân đôi thành san,
Bế nhãn toàn đô lược,
Không thủ kiến diêm quân,
Hối tâm bả lệ điệu。

 

 

Hằng Thật - Ngày 4 tháng 7, 1978

Trong mỗi hoàn cảnh đều có một phương pháp

 

“Phương pháp”

Chiếc xe Plymouth là nơi chật cứng. Để tiến đến được chỗ ngồi thiền tôi sử dụng cách lăn và chui của một vận động viên. Thầy Hằng Triều nghiêng mình vào phía trước đúng thời điểm. Tôi đặt một chân trên bục cửa, một tay trên phần che bánh xe, cúi nhanh, nâng lên, xoắn vặn, trượt và tiến được vào bên trong, giống như những con cò màu xanh lớn thanh nhã gập mình lại trong không gian và trở về trái đất. Chúng tôi đã hoàn thiện nghi thức đi vào chỗ. Tôi hiếm khi đá lăn lò nướng hay thúc đầu gối vào tai Thầy Hằng Châu như tôi thường gây ra trước đây. Trong mỗi hoàn cảnh đều có một phương pháp. Phương pháp chấm dứt sanh tử tùy thuộc vào sự tập trung. Quán sát Trung Đạo, nguồn của mọi sự sáng tạo. Không gượng ép, không sợ hãi, không suy nghĩ, không tìm cầu hay tham lam, một cách đơn giản là đưa tất cả tâm niệm về Chân Tâm. Tập trung. Hòa hợp với các không gian xuất hiện, chui vào và cúi xuống, nâng lên và bước. Sau đó, không có gì trong Pháp giới có thể cản trở việc trở lại chỗ ngồi thiền của bạn.

 

 

Hằng Triều - Ngày 4 tháng 7, 1978

Đôi khi tôi quên tâm niệm đó, nhưng tâm niệm đó không bao giờ quên tôi

 

“Mặc dù các hành vi ác không to lớn, nhưng tâm ác lan khắp mọi nơi”

Kinh Hoa Nghiêm Sớ Tự

 

Phía Nam của Thung lũng Carmel. Ngày Lễ Độc Lập yên lặng. Bị một thử thách về lời nguyện của tôi là không uống nước trái cây sau bữa ăn trưa (một trong mười hai khổ hạnh hữ ích Đức Phật khuyến khích để gia tăng tinh tấn và nâng cao năng lượng). Một nửa chai nước nho đặt trên cửa sau xe trong khi tôi rửa đĩa, cuối cùng lưỡi tôi bị vướng mắc vào. Nhấp một ngụm nhỏ và một chiếc xe van bán tải ngay lập tức gầm rú và dừng lại sau lưng tôi. Một người đàn ông với đôi mắt giận giữ, hoàn toàn kỳ dị và không đoán trước được nhảy đến. May thay, tôi giữ lại được mình sau một ngụm nhỏ và cưỡng lại sự thúc giục của việc uống trọn cả chai.

Người đàn ông kỳ dị chếnh choáng say, nhe răng cười lớn và đưa tôi hai trái dâu tây đã héo.

“Các cậu bé đang định làm cái gì vậy hả?” ông ta cười khúc khích và bỏ đi.

Các hành giả ngày xưa không tự cho phép sự nuông chiều đam mê nhỏ nhặt nhất hay coi bất cứ điều ác nào là quá nhỏ không cần tránh. Họ vận hành trong phạm vi nhân quả như một người đang đứng trên bờ vực thẳm hay đang bước đi trên băng mỏng. Tại sao? Bởi mặc dù hành vi sai trái có thể là một việc nhỏ, tuy nhiên tâm trí sai trái lan ra khắp mọi thứ. Do đó người cổ đại

... Thn trng như qua sông mùa Đông

Cẩn trọng mt nhìn ra bn phía.

Nghiêm kính dường như khách l,

Nhường nhịn như băng tan. (1)

Lão Tử Đạo Đức Kinh - Chương 15

***

Có một tâm niệm giữ tôi tiếp tục tiến bước trong khi những thứ khác thất bại và nao núng: Tu Đạo như một nhà sư, không bám chấp, không nhà cửa; thanh lọc tâm trí để hoàn thành mong ước chấm dứt sự khổ đau của tất cả các chúng sanh. Đây là nơi tôi thuộc về. Tâm niệm này đã theo tôi từ lâu không nhớ từ hồi nào. Đôi khi tôi quên tâm niệm đó, nhưng tâm niệm đó không bao giờ quên tôi. Tâm niệm đó còn hơn cả cơ thể và tâm trí của tôi. Để trở thành một “vị Phật”, một người đại ngộ và giúp đỡ, hỗ trợ những người khác đạt được như vậy – đây là một niệm, là trái tim duy nhất không bao giờ rời xa hay lay chuyển. Niệm này xâu lại tất cả những hạt rải rác của quá khứ, hiện tại và tương lai của tôi. Thâm chí trước khi tôi nói về niệm này, tôi đã có cảm giác về niệm này. Tôi tin tất cả chúng sanh cũng như vậy. Bây giờ cuối cùng hạt giống này sắp đến lúc kết trái khi tôi dần dần trở thành trái tim này và trái tim này trở thành tôi. Tôi trượt và ngã nhào nhưng chưa bao giờ quá xa.

Những ma quỷ cũ, những vai diễn và mặt nạ bao phủ và ràng buộc, nhưng không lâu dài và mạnh mẽ bằng. Đây là một điều tuyệt vời.

Chú tâm cầu Chánh giác

Độ tận các chúng sanh

Không bao giờ xao lãng

Lìa bỏ xa tâm này.

Kinh Hoa Nghiêm

 

Ghi chú:

(1) Lão Tử Đạo Đức Kinh - Chương 15 - Hiển Đức 顯 德:

豫 焉 若 冬 涉 川.

猶 兮 若 畏 四 .

儼 兮 其 若 客.

渙 兮 其 若 冰 之 將 釋.

 

Dự yên nhược đông thiệp xuyên.
Do hề nhược úy tứ lân.
Nghiễm hề kì nhược khách.
Hoán hề kì nhược băng chi tương thích.

 

 

 

Hằng Thật - Ngày 4 tháng 7, 1978

Quý vị có dục vọng nhưng đừng dùng dục vọng

 

“Vô Niệm Như Nhánh Sông”

“Thần Chủ Sông Ly Trần Tịnh Nhãn được giải thoát môn dùng phương tiện đại bi khắp rửa sạch phiền não trần cấu của tất cả chúng sanh." (1)

 Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm

 

Khi những niệm nóng giận lên, tôi quán sát,

“Tôi không có bản ngã nào để có thể được hoặc mất. Tôi không tìm kiếm sự tiến bộ về bất kỳ mục tiêu nào. Tu tập làm thế giới trở nên một nơi tốt đẹp hơn cho tất cả mọi người. Hãy chỉ lễ lạy và hãy an lạc. Một lạy, không có suy nghĩ, không có tướng do sự giận dữ là một chút thiện lành. Sự tranh đua làm hủy hoại thế giới”.

Nhánh sông Salmon (Cá hồi), nhánh sông Soda, khe sâu Redwood, và hánh sông Spruce, không bao giờ tìm kiếm sự tự lợi. Chúng rì rầm róc rách không ngừng nghỉ, mang lại lợi ích cho tất cả chúng sinh một cách bình đẳng, không suy nghĩ về sự báo ơn và không bao giờ suy nghĩ về sự tranh đua.

 

Thiện lành cao nhất giống như nước;

Nước làm lợi cho vạn vật mà không tranh.

Lão Tử - chương 8

 

“Gốc Dục vọng”

“Tất cả các phiền phức rắc rối của quý vi là đến từ dục vọng không được thỏa mãn. Bản chất của dục vọng là nó không bao giờ được thỏa mãn. Dục vọng là vấn đề cơ bản của việc tu Đạo. Tuy nhiên không thể làm cho dục vọng ngừng tồn tại. Quý vị có dục vọng nhưng chỉ đừng dùng dục vọng. Hãy thả lỏng và thư giãn, tự tại, không dính mắc”.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Dục vọng ra hiệu, tâm tìm kiếm và chạy theo, phiền não đốt cháy và sự thống khổ không bao giờ dừng lại. Tôi đang ngồi trên một gốc cây mục nát dưới bảng hiệu màu nâu của Sở Lâm Viên Quốc gia, nhìn ngắm mặt trời và bóng mát lay động trên những nhánh lá nhọn của cây tùng đỏ. Phải rồi, tôi muốn trở thành Phật. Phải rồi, tôi muốn chấm dứt sanh tử. Phải rồi, tôi muốn chứng được Toàn Trí.

Tuy nhiên thậm chí tìm kiếm những viên ngọc tinh khiết nhất vẫn là còn tham; đó là dục vọng về tâm linh. Còn hàng trăm lễ lạy cần làm hôm nay, hàng trăm dặm bờ biển để đi tiếp và còn nhiều chúng sanh bên trong tâm tôi nhiều hơn cả lá nhọn cây tùng đỏ dưới chân tôi cần giáo hóa .

Gió làm rớt trái tùng đỏ từ một nhánh cây trên đầu. Không có gì tồn tại mãi ngoài sự kiên nhẫn tu tập. Có chỗ nào để bám chấp vào?

“Khi đến chỗ không mong cầu thì không còn lo lắng”. (3)

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ Kinh Hoa Nghiêm:

離塵淨眼主河神得以大悲方便普滌一切眾生諸惑塵垢解脫 門.

Ly Trần Tịnh Nhãn Chủ Hà Thần đắc dĩ đại bi phương tiện phổ địch nhất thiết chúng sanh chư hoặc trần cấu giải thoát môn.

(2) Nguyên văn Hoa ngữ Đạo Đức Kinh chương 8 易 性 - Dị Tánh

上 善 若 水. 水 善 利 萬 物 而 不 爭

Thượng thiện nhược thuỷ; Thuỷ thiện lợi vạn vật. Nhi bất tranh.

(3) Nguyên văn Hoa ngữ:

到無求處便無憂

Đáo vô cầu xứ tiện vô ưu

 

 

Hằng Triều, - Ngày 5 tháng 7, 1978

Không có công thức bí mật

 

Như cọ cây lấy lửa,

Chưa cháy mà nghỉ luôn,

Thế lửa liền tắt nguội,

Người giải-đãi cũng vậy.

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Bồ Tát Vấn Minh

Công việc tâm linh giống như bất kỳ công việc nào khác. Không có công thức bí mật, không có gì là bí ấn hay kỳ diệu – chỉ thuần là mồ hôi và nỗ lực. Càng làm việc chăm chỉ, bạn càng tiến nhanh. Càng nuông chiều và không cố gắng, bạn càng thối chuyển nhanh chóng.

Tu tâp là một kinh nghiệm của toàn bộ cơ thể và tâm trí, nhất nguyên không phân hai từ bắp thịt đến huyền vi. Khi tâm trí và ý chí kết hợp lại thành một điểm duy nhất, tất cả các đau đớn và mệt mỏi tan biến. Nhưng khi các niệm tán loạn và ý định yếu đi, thì ngọn lửa, giống như sự nỗ lực, sẽ yếu dần và biến mất. Khi chánh niệm được duy trì và dốc sức cho đến tột cùng, có thể có một sự chuyển đổi, một sự đột phá sang trạng thái vừa tuyệt vời vừa chưa từng đạt đến.

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ Kinh Hoa Nghiêm:

如鑽燧求火

未出而數息 

火勢隨止滅

懈怠者亦然

 

Như toản toại cầu hỏa

Vị xuất nhi sổ tức 

Hỏa thế tùy chỉ diệt

Giải đãi giả diệc nhiên.

 

 

 

Hằng Thật- Ngày 6 tháng 7, 1978

Nảy bật như trái banh bóng bàn

 

“Đến Thành Phố Los Angeles Bằng Xe Tải Nhỏ”

Quả Tài Schmitz đón chúng tôi trong chiếc xe tải dưới thành phố Carmel. Chúng tôi ăn trưa trong một cánh đồng dưới Tu viện dòng Carmelite, chuyền các túi ngũ cố dinh dưỡng (granola) và trái cây trên sàn xe tải nhỏ. Tôi ngồi ở phía sau xe khi chúng tôi ra con đường theo hường Nam đến thành phố Los Angeles. Quay mặt về phía sau, ngồi thế liên hoa trong khi vùng làng quê chạy vụt qua làm tôi nghĩ “Đây là cách tâm trí làm việc với các huyễn cảnh.”

"Như mộng, như ảnh, như huyễn, như hóa, dối phỉnh kẻ ngu." (Như mộng, như huyễn, như bóng, như vang, nói dối phỉnh kẻ ngu.)

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Thập Hạnh

Từ xe tải, thế giới hiện ra giống như mô tả của kinh về các pháp. Những ngôi nhà, bảng hiệu, xe cộ, cây cối trông trống rỗng và giả dối, giống như giấc mơ và những cái bóng, giống như một bộ phim chạy ngược lại. Tâm trí tôi đã nhanh chóng trở nên mệt mỏi khi cố gắng giữ lại các ảo ảnh và rồi để tất cả các ảo ảnh qua đi. Không dính mắc là cách để thích nghi. Mọi thứ là vô thường, kể cả thân thể này. Đó là một sự ghép nghệ thuật dễ tan vỡ của đất, nước, gió, lửa, không khác so với các hình ảnh xoay tròn bay qua chiếc xe tải này theo chiều ngược lại.

  

Tám mốt nghi hết, cuồng tâm ngừng

Tĩnh lặng tư duy ai bận rộn

Tám vạn bốn ngàn tự chúng đi

Tự tại không đi, giác tánh vương.

 Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

“Phía sau tay lái”

Sau đó đến lượt tôi lái. Đường xa lộ đến hường nam thành phố Pasadena chạy nhanh và đầy các khúc đường cong. Đã nhiều tháng không lái xe và tôi liên tục phán đoán không đúng các khúc đường cong. Tôi cán lên đường phân chia và nghe thấy tiếng trrmpp! trrmmpp! của dải phân chia dưới lốp xe. Dường như càng cố gắng lái vào giữa đường riêng dành cho xe, tôi càng bị lệch ra khỏi đường. Tôi sắp vào đoạn đường cong kế tiếp. Tôi không thể giảm tốc độ; mọi ngả đường tốc độ giao thông đều rất nhanh. Chiếc xe bán tải nảy lên như trái banh bóng bàn từ dải phân cách giữa hai chiều đến lề đường và bật trở lại với tốc độ 55 dặm/giờ.

Nguyên lý ở đây là gì? Lái ở tốc độ này tôi có thể nhìn phía trước ít nhất khoảng cách 10 chiếc xe và điều chỉnh thời gian cho sự đổi hướng ở phía trước, đúng không? Đúng!

Ngồi ở phía sau, tôi đã cố gắng tập trung và bị chóng mặt. Chiếc xe bán tải lăn quá nhanh. Tôi tìm được  tâm điểm của mình chỉ bằng cách buông đi mọi thứ bám chấp và hòa vào nhịp điệu và dòng chảy của cảnh vật trôi qua.

Tôi áp dụng phương pháp này với đoạn đường cong khi lái xe. Đúng rồi! Chiếc xe gặp phải một đường rãnh và trượt như một miếng bơ qua phần giữa của làn đường. Bằng cách buông xả và tùy theo, đường Đạo tiếp tục luân lưu.

"Vì không có chút pháp nào là hiện sanh, đã sanh, sẽ sanh. Không có pháp nào có thể lấy, có thể chấp.

Kinh Pháp Hoa - Phẩm Thập Hồi Hướng

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ Kinh Hoa Nghiêm:

如夢如影。如幻如化。誑惑愚夫

Như mộng như ảnh Như huyễn như hóa Cuống hoặc ngu phu.

 

(1) Nguyên văn Hoa ngữ bài kệ Khách Trần Tụng http://www.drbachinese.org/vbs/1_100/vbs7/7_4.html

 

Thủ bút của Hòa Thượng Tuyên Hóa - Bài kệ Khách Trần Tụng viết ngày 29 tháng 8 năm 1970

客塵頌

九九惑盡歇心狂

靜慮思惟是誰忙

八萬四千由他去

自在無往覺性王

1970年八月廿九日

Khách Trần Tụng
Cửu cửu hoặc tận hiết tâm cuồng

Tĩnh lự tư duy thị thùy mang
Bát vạn tứ thiên do tha khứ

Tự tại vô vãng giác tính vương.


1970 niên bát nguyệt nhị thập cửu nhật

 

 

Hằng Thật - Ngày 22 tháng 7, 1978

Áp lực làm cản trở dòng chảy tự nhiên

 

“Không mong cầu”

Lời giải thích căn bản nhất cho sự không cầu mong đã quá rõ ràng: đừng mong đợi những của cải thế gian hay thành tựu xuất thế gian. Bất cứ những nghiệp quả bạn tự tạo đều sẽ xuất hiện trên con đường của bạn mà không cần nỗ lực nào của bạn. Trân trọng những gì đến với mình, không tham lam mong cầu nhiều hơn cũng không hoàn toàn từ chối. Tất cả mọi thứ mà tôi muốn có được trong chuyến đi của tôi đã đốt bỏng bàn tay tôi trước khi nó biến mất. Vì sao? Bởi vì mong cầu là dục vọng, dục vọng tạo áp lực lên tự nhiên và áp lực làm cản trở dòng chảy tự nhiên.

“(Bồ Tát liền suy nghĩ rằng): cảnh ngũ dục này là thứ chướng đạo, nhẫn đến chướng vô thượng Bồ Đề. Do đây nên Bồ Tát chẳng có một niệm dục tưởng, lòng thanh tịnh như Phật.”

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Hạnh Thứ hai mươi mốt.

 

Hằng Triều - Ngày 22 tháng 7, 1978

Đối xử với nó như một ngôi đền thiêng liêng

 

“Đức Phật ở đâu”

“Hiểu biết tự tánh của mình được gọi là Phật.”

Kinh Hoa Nghiêm

 

Trung tâm thành phố Monterey vào một buổi sáng thứ bảy – người đi mua sắm, du khách, thương gia và những câu hỏi thường xuyên nhất:

“Này, các ông đang làm gì thế?”

“Lạy,” tôi trả lời

“Lạy ai? Lạy Chúa à?” ông ấy hỏi

“Lạy Phật” tôi nói

“Phật là ai? Đó là chúa của ông à?”

“Không hẳn…” tôi bắt đầu

“Ô, vậy sao!? Chúa ở trên thiên đường, nhưng Phật thì ở đâu?” ông ấy hỏi thêm.

Đôi khi có một tâm hồn trung thực, cởi mở ẩn sau những câu hỏi và có cơ hội để đưa ra một câu trả lời trung thực cởi mở. Đôi khi có một bức tường lừa gạt  của sự đối địch và những ý kiến bảo thủ đằng sau sự thăm dò, chỉ cho phép im lặng để trả lời. Nhưng trong tấm trí khi đang lạy tôi im lặng đưa ra câu trả lời này:

Đạo-Sư không lai khứ

Cũng lại không sở trụ.

Xa lìa các điên đảo

Đây hiệu Đẳng-Chánh-Giác.

Như Lai không sở trụ

Mà trụ tất cả cõi

Tất cả cõi đều qua

Tất cả nơi đều thấy,

Kinh Hoa Nghiêm - Phẩm Đâu Suất Kệ Tán

 

Đức Phật là một người giác ngộ hoàn toàn. Đức Phật chính là sự thức tỉnh tự tánh của chúng ta mà mỗi người trong chúng ta đều có khả năng để kinh nghiệm.

Tự tánh là khuôn mặt thật sự (bổn lai diện mục) của chúng ta, là gốc rễ và cội nguồn mà tất cả chúng sanh tìm kiếm để quay trở lại và là nơi tất cả những cuộc tìm kiếm kết thúc. Đây cũng chính là Trung Đạo và “đến được bờ bên kia” (đáo bỉ ngạn). Đó là Bồ Đề - Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, và tất cả đều có thể trở thành Phật. Tự tánh không

đến hoặc đi, không được hay mất. Chúng ta giác ngộ tự tánh bằng cách tu hành hành vi thanh tịnh, định tâm, và trí tuệ, hay chúng ta che đậy tự tánh với sự tham lam, sân hận, và ngu si. Nhưng tự tánh không bao giờ rời khỏi chúng ta. Không một ai có thể đưa tự tánh cho chúng ta; không ai có thể lấy tự tánh khỏi chúng ta.

“Đức Phật ở đâu… Đức Phật là gì?” người lạ hỏi,

Những cuốn Kinh chúng tôi mang trong chiếc ba lô đeo sau lưng dạy rằng,

Nếu có kẻ muốn biết

Tất cả Phật ba đời

Hãy quán tánh Pháp Giới

Tất cả do tâm tạo.

 Kinh Hoa Nghiêm

Nhưng tâm trí chúng ta giống như một cái gương bụi bặm, sự sáng lạn của gương bị che tối bởi những ý niệm của tham lam, sân hận, và đố kỵ; bị hoen ố đi bởi những lời nịnh hót, lừa dối và sự ngạo mạn. Tôi như vậy, tất cả chúng sanh đều như vậy. Tuy nhiên nếu chúng ta có thể lau sạch những bụi bẩn và với một tâm trí ngay thẳng thường luôn làm điều tốt và tránh làm ác, nếu trong tất cả mọi lúc chúng ta có thể thanh tịnh suy nghĩ của mình và chiều soi  tâm trí mình, thì lúc đó chúng ta có thể trở về tri kiến của Đức Phật. Đức Phật chỉ chính là tâm của chúng ta.

Ngươi nay phải tin rằng cái Phật tri kiến đó chỉ là tự tâm của ngươi, chớ chẳng có Phật nào khác.”  Lục Tổ Đại Sư nói. [Kinh Pháp Bảo Đàn - Phẩm Cơ Duyên]

Lạy giúp dần dần khôi phục lại sự sáng lạn tự nhiên trong tâm trí chúng ta. Đó là một cách nhẹ nhàng lau chùi sạch nó lần này qua lần khác để đống chướng ngại biến mất. Và khi tất cả bụi bẩn đều đi hết, thì người đó được gọi là Đức Phật.

* * *

Một nhóm người Việt Nam theo đạo Phật gặp chúng tôi sáng nay ở Monterey. Sau khi cúng dường bữa ăn trưa dưới một vài bóng cây ở một công viên nhỏ, và mặc dù lái xe gần 7 giờ đồng hồ từ thành phố Los Angeles, họ vẫn còn năng lượng để thực hiện Ba bước Một lạy với chúng tôi trước và sau khi ăn. Thật là hứng khởi! Chúng tôi lạy theo hàng dọc ở trên đường dành riêng cho xe đạp xuyên qua Công viên Monterey và vào khu phố thương mại – một đoàn người gồm chín Phật tử đa dạng, với những chiếc áo tràng màu xám hoặc nâu phất phới trong gió, nhấp nhô như một con sóng với hai cậu bé đến gần từ phía sau.

“Ba ơi! Nhìn kìa!” một cậu bé nói với người cha, gần như sắp té ngã khỏi xe đạp “Họ đang làm gì vậy?”

“Ba không biết con à!” người cha hơi bối rối nói. “Chắc đó là một cách cầu cho hòa bình thôi, phải không con?” trong khi họ rời ra khỏi đường mòn và nhìn chúng tôi đi qua.

* * *

Hai tín đồ Hồi Giáo bên ngoài tiệm ăn Denny.

“Tuyệt vời, nhưng ở đây dơ bẩn quá. Mấy ông sẽ được tốt hơn nếu ở một chỗ sạch sẽ hơn.” họ nói.

“Sạch hay dơ đều tùy thuộc vào cách bạn nhìn nó.” tôi trả lời

“Tôi biết, nhưng ngay cả với một tâm trong sạch, vỉa hè vẫn quá dơ bẩn!” họ đáp.

Tạp nhiễm và thanhtịnh

Vô lượng thế giới chủng

Tùy tâm chúng sanh khởi

Bồ Tát lực gia trì “

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hoa Tạng Thế Giới

Dơ bẩn hay sạch sẽ tùy thuộc vào cách mà bạn nhìn nó. Ví dụ như, hầu hết mọi người đều cảm thấy cơ thể là một tài sản vô giá – chúng ta liên tục thỏa mãn thèm khát của nó, nuông chiều nó và phô trương nó, yêu mến và trang điểm nó và không bao giờ cảm thấy mệt khi cố gắng làm hài lòng và giữ gìn nó. Nhưng thật ra, cơ thể chỉ là một cái nhà vệ sinh – một túi rác thối tha, rỉ nước. Không có xà phòng, nước hoa, chất khử mùi, kem che khuyết điểm, kem trang điểm, phấn và một tủ đầy thuốc, thuốc xịt, thuốc bôi lên vết thương và thuốc viên, nó thực chất sẽ có mùi hôi thối, ghê tởm: chất từ mắt, nước nhầy từ mũi, ráy tai, nước bọt từ miệng, cùng với nước tiểu và phân, máu và mủ, vảy từ da chết và ngay cả mồ hôi ghê tởm từ các lỗ chân lông. Vậy mà chúng ta vẫn luôn đối xử với nó như một ngôi đền thiêng liêng. Chúng ta coi nó đáng yêu và luôn lo lắng về một viễn cảnh nó bị “dơ bẩn” trên lề đường hay bị lấm bẩn với đất trên mặt đất. Tuy thế những đồ mà chúng ta ăn đến từ đất và nó thấm đẫm trong phân bón, thuốc trừ sâu hóa học, và những thứ tương tự như vậy. Nước chúng ta uống và khí chúng ta thở, đầy đầy vô số vi sinh vật, vi khuẩn, bào tử, chất độc hại, thậm chí bụi phóng xạ.

Ở thế giới này, mọi thứ không như mọi người nghĩ. Bẩn thỉu và trong sạch hòa quyện và kết hợp lại. Vậy nên,

Uế thế giới tức là tịnh thế giới

Tịnh thế giới tức là uế thế giới,,

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Sơ Phát Tâm Công Đức

Bên trong cửa hàng mở cửa 24 giờ “sạch sẽ” mà chúng tôi đang lạy phía trước, trên vỉa hè “bẩn thỉu”, mọi người thản nhiên ngấu nghiến thịt bò, thịt heo, thịt gà, thịt cá, thịt cừu, được phục vụ trên đĩa được khử khuẩn hoặc gói trong giấy trắng sạch được vệ sinh và ly nhựa. Nhưng chính những thức ăn đó, xác thịt của động vật đã chết, cũng được tẩm ướp đầy chất hóa học, và những độc tố tự nhiên và nhân tạo mà việc tiêu thụ chúng sẽ dần dần dẫn tới sự tự sát chậm. Thịt được biết đến như một nguyên nhân chính của bệnh ung thư. Bệnh ung thư vào đến ngay cả những ngôi nhà sạch nhất để giết ngay cả những người cẩn thận nhất. Sau bữa ăn trưa có người mở ra những bao thuốc lá vệ sinh sạch sẽ, niêm phong bằng bao nhựa với những điếu thuốc trắng như bông huệ tây (lily) và thong thả hít những khói thuốc độc giống hệt như những thứ phun ra từ ống khói thải của xe hơi. Bao thuốc được dán nhãn rõ ràng “Nguy hiểm cho sức khỏe,” họ nuốt sâu khói thuốc và thổi đám khói độc vào mặt bạn của họ. Tất cả là ở cách nhìn.

Vì tâm chúng-sanh tịnh

Được thấy cõi thanh-tịnh."

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Hoa Tạng Thế Giới

Với một tâm trí trong sạch thì ngay cả những nơi dơ bẩn cũng là sạch sẽ; với một tâm dơ bẩn thì ngay cả một nơi sạch sẽ cũng trở nên dơ bẩn. Những thứ dơ bẩn nhất thế giới này không phải là những vỉa hè của thành phố, những nhà vệ sinh hay thậm chí những bãi rác. Những thứ dơ bẩn nhất thế giới này là nhựng niệm sân giận và gây hại, những hành động phá hoại và ích kỷ. Bom nguyên tử và bạo lực là bất tịnh, sự thèm muốn và dục vọng là dơ bẩn. Nơi sạch sẽ nhất, trong sạch nhất để sống là ở trong tâm không bám chấp bất cứ thứ gì, không bị xiềng xích gò bó, tâm giải thoát. Giới luật là thanh tịnh, bố thí là thanh tịnh và chế ngự bản thân là thanh tịnh.

(Người trí do đây mà hồi hướng)

"Cúng dường vô lượng vô biên Phật

Bố thí trì giới phục các căn

Vì muốn lợi ích các chúng sanh

Khiến khắp tất cả đều thanh tịnh.”

Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hồi Hướng

 

 

Hằng Thật - Ngày 23 tháng 7, 1978

Không quá chậm, không quá nhanh


“Khóa Thiền 1978”

Mỗi ngày, cảm giác ngạc nhiên kỳ diệu của chúng tôi tăng thêm lên và lòng kính trọng của chúng tôi ngày càng sâu đậm hơn đối với trị liệu pháp tâm lý cổ xưa có tên là Phật Pháp đưa chúng tôi trở về cội nguồn của tâm trí chúng tôi. Cần có áp lực ổn định đều đăn mà không cần ép buộc, và dụng công vững chắc trên con đường Trung Đạo.

Đó là khóa Thiền năm 1978.
Không quá chậm, không quá nhanh. Đừng căng thẳng!
Chỉ cần tiến bước đều đặn, liên tục, tinh tấn.
Chẳng bao lâu quý vị sẽ đến Phật Địa.

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

 

Hằng Triều - Ngày 23 tháng 7, 1978

Hết sợ hãi và cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy "người tốt"

 

Monterey. Một ngày chủ nhật đầy nắng và yên tĩnh. Quang cảnh lạy thông thường ở trong thành phố: khách du lịch với những chiếc máy ảnh đang cố không đẻ ý đến chúng tôi; đám thanh niên trong những chiếc xe thời trang đang nổ máy ầm ầm gầm chạy gần đến chúng tôi để thử thách thần kinh cùng với những việc làm táo bạo; còn những người chân thành không kể tuổi tác, tầng lớp xã hội, chủng tộc hay tín ngưỡng đều chia sẻ tấm lòng chung về lòng nhân ái thuần khiết và một mong ước cho một thế giới hòa bình. Họ đến gần, cầu chúc cho chúng tôi “may mắn”, và đôi khi còn hỏi họ có thể làm gì để giúp.

Vào thời điểm cuối ngày chúng tôi chúng tôi lạy đến đoạn cuối của con đường chính, hai vị mục sư của đạo Tin Lành bất ngờ xuất hiện trước chúng tôi. Mở sách Kinh Thánh, tâm trí khép lại, và một trận mưa đá lửa và diêm sinh phóng ra.

“Đã có ai giảng Thánh Kinh cho các anh chưa?” một người hét lên

“Hãy tán thán chúa Giê Su! Hallelujah! (1) Amen, amen! (2)”,  anh ta hét lên trong tay vẫn cầm cuốn sách màu đen. “Đây là Kinh Thánh! Kinh Thánh … Thánh thiện…!”

Sau đó họ buông ra những lời nói không ngừng và những câu hỏi. Không có thời gian để trả lời, chỉ những lời đe dọa, cảnh báo, lăng mạ và cáo buộc liên tục. Họ đặc biệt độc hại đối với Đức Phật.

“Jesus là Chúa. Ông ấy là số một. Đức Phật là một nhà tiên tri sai lầm. Tất cả bọn ngươi sẽ xuống địa ngục. Bọn ngươi sẽ không bao giờ tới được thiên đường nếu theo Đức Phật,” lời chế nhạo từ một khuôn mặt đỏ bừng.

“Bọn ông nghĩ rằng Đức Phật có một phương pháp tốt ư, ồ chúa Jesus đã hiện hữu từ rất lâu trước cả Đức Phật rồi,” một người khác nhẹ nhàng nói, sau đó bỗng đột nhiêu lên giọng và mất bình tĩnh. Sủi bọt mép ở miệng, người ấy xỉ vả chúng tôi:

 “Jesus là tối thượng, Đức Phật thì không như vậy! Jesus đã thoát ra được, còn Đức Phật thì không. Chỉ có chúa Jesus mới cứu được các ông. Đức Phật thì không thể cứu các ông. Bọn ông đang phí bỏ cuộc đời mình. Bất cứ cái gì hay bất cứ người nào mà các ông đang lễ lạy đến đều không mang lại cho ông dù một xíu lợi ích. Hãy tin nhận chúa Jesus. Mấy ông có nghe tôi nói không?” người đàn ông đó đe dọa. “Hãy tin nhận Chúa Jesus!”

Nghe có Phật hay không có Phật, nghe có pháp hay không pháp, nghe có Bồ-Tát hay không Bồ-Tát, nghe có Bồ-Tát hạnh hay không Bồ-Tát hạnh, nghe có Bồ-Tát tu hành được xuất-ly hay chẳng xuất-ly, … đối với trong phật-pháp tâm đều chẳng thối chuyển.”

Kinh Hoa Nghiêm. Phẩm Thập Trụ thứ 15

Những người giảng đạo càng trở nên chống đối và không có lý trí. Thái độ họ hung hăng, lời nói họ thiếu văn hóa: “Chúa nhìn chúng mày như một cái giẻ rách dơ bẩn. Chúng mày có biết không?” một người cười nhạo. Một người mẹ và hai đứa con của bà đã tham gia buổi lạy chiều. Họ đã chứng kiến sự gặp gỡ đó trong một sự im lặng điếng người, gần như bang hoàng. Họ là những con người tử tế, an lạc. Một trong những đứa trẻ của họ đã khóc khi vô tình giết chết một con kiến. Họ đã rất sợ và lo lắng, gần như kinh hoảng bởi hành vi lăng mạ và đe dọa của hai nhà truyền đạo kia. Họ chưa từng thấy ai bạo lực và gần như mất kiểm soát như vậy đặc biệt là quá thật và rất gần.

Đột nhiên một người lạ nhô ra từ một khu đất bán xe cũ đã đóng cửa. Ông ấy chạy băng qua đường nhanh và nhẹ như một cơn gió. Không khí trở nên năng động như được nạp điện. Rắn chắc và vạm vỡ, ông ấy có một mái tóc xoăn màu đỏ và ánh thiện quang tỏa ra.

Đứng vững chãi hai chân trên vỉa hè, ông ấy chen vào giữa chúng tôi và những nhà truyền giáo, ngực ông ưỡn ra và sẵn sàng chiến đấu. Năng lượng của ông ấy thật mạnh mẽ, thượng võ; thái độ của ông ấy thật chánh trực. Giọng nói của ông ấy đầy uy lực, nhưng không lấn áp. Tức giận nhưng không mất kiểm soát, ông ấy nói như búa rìu chẻ củi, mỗi lời đều chắc nịch và dứt khoát. Ông ấy hùng hồn, cùng với tài hùng biện quả quyết không một chút sợ hãi. Tinh thần công bằng của ông ấy đã bị chọc giận và ông ấy sẵn sàng cho một cuộc đụng độ ở góc phố. Ông ấy sẵn sàng để bảo vệ những nguyên tắc mà ông ấy thực sự tin tưởng và ông ấy biết rõ Kinh Thánh hơn những nhà giảng đạo tự phong.

“Các người đã bao giờ đọc về người Samartian nhân hậu chưa?” (3), ông ấy thách thức hai người kia. “Để những người này yên. Hãy nhân ái! Đó là tất cả, đó là những gì chúa Jesus đã dạy. Những gì chúa Jesus nói thì hãy làm! Đừng chỉ giảng đạo mà không thực hiện nó!”

Những nhà chuyền đạo sững sờ trong một khoảnh khắc, ngọn lửa của họ đã bị dập tắt bởi nước lạnh.

“Đúng vậy, nhưng…” một người bắt đầu phản kháng.

“Các người sẽ như thế nào khi ai đó đến và cố tước Chúa khỏi các người?” người lạ đó hỏi. “Đừng có can thiệp vào những chuyện này, tôi nói cho các người biết.” Ông ấy nói ở một giọng điệu mà không một ai muốn xem nhẹ. Nó có không khí như một mệnh lệnh lệnh của một hoàng đế hay như Trời đang nói vậy.

“Nhưng!” một người truyền đạo nói một cách yêu ớt, “Ông biết Chúa nói rằng nhờ ân sủng thì ông mới đến với Ngài. Thế nhưng, ông có thể nhìn thấy những gì họ đang làm phải không? Họ đang cố gắng làm theo cách của họ đó”.

“Đúng vậy” người lạ mặt gắt lên, “và các ngưởi có biết không, tôi nghĩ họ sẽ thành công trước các người.”

Tất cả kết thúc. Bầu không khí được giải tỏa, những nhà truyền đạo lui ra, hoàn toàn bị chế ngự và áp đảo. Chúng tôi tiếp tục trên con đường của mình. Từ đằng sau tôi nghe thấy một người truyền đạo đưa ra một lời bào chữa yếu ớt, “À, chúng tôi chỉ đang cố gắng truyền bá tin lành…”

“Họ mới là những người thật sự truyền bá tin lành” người lạ nói. “Và các người đang làm gì? Các người đang quấy rầy họ. Các người đáng lẽ ra phải đi chân trần và truyền đạo. Đó là những gì chúa Jesus đã làm.”

(Những đứa trẻ sau đó có nói với chúng tôi rằng ngay vừa khi chúng nhìn thấy ông ấy, chúng đã biết ông ấy là “một người tốt”. Chúng thấy “ánh sáng phát ra từ ông ấy” và lập tức hết sợ hãi và cảm thấy vui mừng khi nhìn thấy ông ấy.) “Ông ấy đích thực là một vị Hộ Pháp, con biết điều đó. Ông ấy xuất hiện từ hư không và sau khi tất cả kết thúc, ông ấy lại biến mất” một trong những đứa bé trai nói.

 

Ghi chú:

(1) Hallelujah : Lời ca ngợi Thiên Chúa.

(2) Amen: nghĩa là "Sự thật là như vậy!"

(3) Người Samartian nhân hậu (good Samartian): https://www.voatiengviet.com/a/nguoi-samaritan-nhan-hau-11-07-2011-133377863/917154.html

Dưới ảnh hưởng của Phúc Âm Luca, chữ “Samaritan” trở thành biểu tượng của sự từ ái nói chung. Và từ thế kỷ 17, nó nhập vào kho từ vựng tiếng Anh, với nghĩa là người có thiện tâm, biết đồng cảm với nỗi đau của người khác và không ngại cứu giúp người khác. Không phải chỉ giới hạn trong văn chương. Nó còn biến thành luật. Trong thuật ngữ luật pháp, có chữ luật “Good Samaritan” rất phổ biến, với ý nghĩa là “một người nào đó sẵn sàng cứu giúp một kẻ khác đang bị thương hoặc có nguy cơ bị thương chỉ vì thiện chí và không hề tính toán đến chuyện được đền đáp hay bất cứ một phần thưởng nào khác.”