Pháp Nhũ Thâm Ân (PDF) (18 Mb)

Pháp Nhũ Thâm Ân

Mục lục:

Sơ Lược Tiểu Sử Hòa Thượng Tuyên Hóa

Giới Thiệu

1. Lời Tựa

2. Nhân Duyên Thành Lập Vạn Phật Thánh Thành Tại Mỹ Quốc

3. Hoằng Pháp Tại Việt Nam

4. Thì Ra Thầy Mới Là Pháp Sư Độ Luân

5. Đón Mừng Tết Nguyên Đán

6. Đại Thi sĩ Hòa Thượng

7. Vạn Phật Thành ¡V Kỷ Niệm Thuở Ban Đầu

8. Giáo Sư Richard Viết Lời Kết tập Kệ Tán Của Sư Phụ

9. Một Hồi Tưởng Thú Vị Về Việc Học Tiếng Hoa

10. Phương Tiện Thiện Xảo

11. Ứng Dụng Phật Pháp Vào Đời Sống

12. Mãi Mãi Tri Ân

13. Hãy Cố Gắng Hết Sức Mình

14. Thiện Trí Thức Dạy Bảo Tôi

15. Nhẫn Chịu Áp Lực Tả Hữu Mọi Bề Là Nhân Xuất Thế

16. Vừa Đủ

17. Chuyện Phóng Sanh Lừa

18. Kiếp Nhân Sanh

19. Án Ma Ni Bát Di "Ngưu"

20. Phát Hiện Bảo Tàng

21. Thuận Tay Trái - Tự Do Phát Triển Thái Quá

22. Ăn Vụng!

23. Phương Thức Học giỏi:  "Ba Trong, Ba Trên"

24. Sự Giáo Huấn Của Ân Sư

25. Tên Thật

26. Sống Bên Thầy

27. Bồ Tát Từ Bi

28. Trích Lược Lời Dạy Sau Cùng Của Sư Phụ

29. Ngày Truy Niệm và Đại Lễ Trà Tỳ

30. Nghi Lễ Rải Tán Tro Cốt

Phụ Lục: Nguồn Trí Huệ - Lối Ăn Lành Mạnh - Đổi Thành Ăn Chay

SLTS

GT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

Phụ lục

¡@

SLTS

GT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20

21

22

23

24

25

26

27

28

29

30

Phụ lục

¡@

¡@

Lời Tựa

Sách này tuyển chọn một số bài viết của các đệ tử xuất gia và tại gia của Hòa Thượng thượng Tuyên Hạ Hóa. Đa số các bài được chuyển dịch từ quyển ¡§Phật pháp đã thay đổi đời tôi!¡¨ Nguyên văn: "How Buddhism changed my life!". Sách cũng trích dịch từ những bài trong nguyệt san Vajra Bodhi Sea của Vạn Phật Thánh Thành. Ngoài ra cũng gồm một số bài giảng thâm thúy cùng các câu chuyện với lời lẽ ví von vui tươi của Hòa Thượng.

Hầu hết các mẩu chuyện trong đây, chúng đệ tử kể lại những kinh nghiệm kỳ đặc mà họ trực tiếp được Hòa Thượng đích thân dạy dỗ lúc sống bên Ngài, vị thầy khả kính. Hòa Thượng đặc biệt dùng nhiều phương pháp thiện xảo giáo hóa đệ tử tùy theo căn cơ của mỗi người, mong họ tiến bộ trên đường tu học. Có lúc Ngài ra vẻ nghiêm khắc, la rầy thẳng thừng mong họ sửa sai. Có khi Ngài rất từ bi, huề hòa an ủi những ai yếu tâm đạo. Nhiều lúc các đệ tử cũng phải giật thót mình khi biết Ngài đọc được tim đen của mình. Các vị tường thuật lại thật rõ nét về các tâm trạng vui mừng, hớn hở, hay hồi hộp, âu lo¡K lúc bấy giờ.

Qua đó chúng ta cũng tìm thấy chúng đệ tử tri ân thâm sâu và ghi nhận những lời dạy bảo qúy báu của Ngài vào tận tâm thức như thế nào. Cảm thương thay khi thấy Hòa Thượng không quản khó nhọc, nhẫn nại dùng nhiều phương tiện giáo hóa chúng đồ đệ thuộc nhiều quốc gia khác nhau, hầu mong họ mau tỉnh giác trên đường Bồ Đề. 

Mặc dù Hòa Thượng đã viên tịch gần 10 năm nhưng pháp nhũ của Ngài như vẫn còn văng vẳng bên tai. Sau khi vắng bóng Ngài chúng đệ tử vẫn tiếp tục thực hiện lời di chúc của Ngài, duy trì quy cũ và tông chỉ Vạn Phật Thánh Thành. Họ nguyện luôn học tập theo tinh thần vì pháp quên thân của Hòa Thượng, và sẽ tiếp nối tâm quyết hoằng dương Phật Pháp qua Tây phương của Ngài trong việc phiên dịch kinh điển, chấn chỉnh nền giáo dục, cùng bồi dưỡng nhân tài để cùng nhau lợi lạc. 

Qua quyển sách này, chúng tôi hy vọng rằng, những ai đã, đang và sẽ có niềm tin cùng nhân duyên với Hòa Thượng Tuyên Hóa sẽ tìm thấy nhiều điều ích lợikhông thể nghĩ bàn trên đường tu hành giải thoát.



Ban Phiên Dịch Việt Ngữ


¡@

¡@

2) Nhân duyên thành lập Vạn Phật Thánh Thành tại Mỹ Quốc

Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới thành lập Vạn Phật Thánh Thành vào năm 1974. Và nơi đây cũng chính là trụ cột của Tổng Hội, với diện tích rộng gấp hai mươi lăm lần Tòa Bạch Ốc Mỹ.

Hòa Thượng đã thuật lại nhân duyên Vạn Phật Thánh Thành được kiến lập như sau:
Có thể cho rằng nhân duyên thành lập Vạn Phật Thánh Thành như đã được an bày từ vô lượng kiếp về trước. Cùng với ước nguyện giáo Pháp sẽ được hoằng dương qua phương Tây nên Vạn Phật Thánh Thành được ra đời. Sự hiện diện này không phải từ trên trời sa xuống, hoặc dưới đất mọc lên, mà là do công sức của con người gầy dựng thành.

Trước đệ nhị thế chiến, nền kinh tế Mỹ rất hưng thịnh nên chánh phủ đã dùng vật liệu đặc biệt và công trình kiến trúc rất mỹ thuật với công lao cần mẫn, kỹ lưỡng của công nhân trong việc kiến lập nên một bệnh viện thật quy mô, kiên cố tại tiểu bang California. Bệnh viện gồm hơn bảy mươi tòa nhà, với khoảng hai ngàn phòng lớn, nhỏ và các cơ sở khác... Nơi đây có thể dung chứa khoảng hai mươi ngàn người đến trú ngụ.

Vào giữa năm 1970, vì tiểu bang California gặp phải nạn đại hạn hán, nên chánh quyền ra lệnh dân chúng phải tiết kiệm nước, nếu không sẽ bị phạt vạ. Bệnh viện cũng bị ảnh hưởng trầm trọng vì không đủ nước cung cấp cho khoảng sáu ngàn người, gồm cả nhân viên và bệnh nhân. Hơn nữa vùng lân cận lại toàn là vườn cây ăn trái, chỗ nào cũng rất cần nước. Vì vậy nông dân ở đó thường đệ đơn phàn nàn chánh quyền địa phương về việc bệnh viện công cộng tiêu thụ lượng nước quá nhiều, khiến họ thiếu nước dùng. Chánh phủ cũng đã mướn nhiều kỹ sư chuyên môn nghiên cứu việc đào giếng để giải quyết nạn khan hiếm nước này. Họ đã ra công dò tìm, khoan đào nhiều chỗ sâu đến hàng trăm thước mà vẫn không tìm ra được mạch nước nào cả. Cuối cùng bệnh viện phải bị đóng cửa. Chánh phủ phải thuyên chuyển bệnh nhân và nhân viên đến các bệnh viện khác để bán khu bệnh viện.

Lúc đó có một vị thương gia mua lại khu vực này với ý định muốn đầu tư vào bệnh viện để làm ăn, nhưng sau đó ông lại đăng bảng bán, và trải qua nhiều năm vẫn không có người mua.

Bấy giờ chùa Kim Sơn tại San Francisco lại quá nhỏ hẹp, với số Phật tử ngày một thêm đông. Phần vì chùa nằm giữa thành phố nên thường có các ông bụi đời lang thang qua lại, khiến cho nhiều người sợ hãi. Mặt khác chúng tôi cũng muốn tìm một nơi yên tĩnh hơn ở ngoại ô, để kiến tạo một đạo tràng thuận lợi cho sự tu tập.

Tôi có một đệ tử người Mỹ, sau khi xuất gia vì muốn báo ân Sư Phụ nên đã ra công tìm chọn địa điểm thích hợp cho việc kiến lập đạo tràng. Vị này đã tìm kiếm đến tận Tiểu bang Seattle, thuộc phía bắc nước Mỹ. Trên đường về thấy bảng đăng bán bệnh viện, chú bèn dừng lại để xem xét, tham khảo. Về chùa chú thuật lại cho tôi nghe và đề nghị nên mua khoảng hai hay ba mươi tòa nhà của khu bệnh viện đó. Theo ước đoán của chú là mỗi tòa nhà có thể chứa cả trăm người trú ngụ. Chú còn vạch ra hoạch định về việc nên dùng tòa nào làm chánh điện, nơi đâu dành cho Sư Phụ, chỗ nào là phòng xá cho đệ tử...

Theo lời chú, tôi cùng năm đệ tử đến tận nơi để quan sát. Quả thật là một vị trí tốt với rất nhiều tòa nhà, nhưng ngặt nổi giá cả lại quá cao. Làm sao đây? Ngay cả Sư triệu phú cũng không đủ khả năng mua, huống hồ gì là một Sư nghèo xơ như tôi, chỉ nghĩ thôi, còn chẳng dám nghĩ đến, huống chi nói tới việc muốn mua.

Khoảng nửa năm sau, lại có một người đến bàn với tôi về việc đầu tư vào bệnh viện, nơi mà lúc trước chúng tôi đã xem qua. Mặc dù cả tiền lẫn vốn tôi đều không có, nhưng tôi và mười tám đệ tử cũng cùng đến đó quan sát thêm một lần nữa. Khi đến phía trước dãy bệnh xá, tôi xót xa vô cùng khi thấy tòa nhà đang cất vẫn còn dở dang. Tôi thầm nghĩ: Họ đã xuất ra khoản chi phí lớn như thế, vậy mà công trình xây cất vẫn không hoàn tất được. Thế là tôi xoay qua nói với mười tám đệ tử rằng:
- Là Phật tử, chúng ta nên làm Phật sự. Nếu như chúng ta không phụng sự Phật giáo thì nên sanh tâm hổ thẹn, vì sẽ không còn mặt mũi nào để đối diện với người đời. Nay tôi phát nguyện là sẽ mua toàn bộ khu đất này.

Vì nhận thấy địa thế thiên nhiên nơi đây rất thích hợp để thành lập đạo tràng nên tôi đã trở lại đó thêm ba lần nữa để thương lượng với chủ nhân về việc mua lại khu vực này. Tôi mong rằng đây sẽ là nơi phát dương Phật Giáo trên thế giới, hầu đem Phật Giáo Đông Phương giới thiệu sang Tây Phương, thành lập Trung Tâm Phật Giáo Quốc Tế với mục đích nâng cao tinh thần đạo đức và giác tỉnh nhân tâm.

Sau khi mua được khu bệnh viện, chúng tôi cải biến thành Vạn Phật Thánh Thành. Vấn đề khan hiếm nước đã được Sư phụ giải quyết trước sự kinh ngạc của bao người. Cho tới nay, người ta vẫn còn hứng thú bàn về chuyện này:

Trong khi các thợ đào giếng dùng máy dò dẫm tìm mạch nước thì Sư phụ cũng có mặt ở đó. Sau một hồi đi tới đi lui nơi họ đang làm việc, Ngài đột nhiên gõ gậy xuống đất nói:

- Khoan ở chỗ này nè!
- Vô ích, mấy nơi đó chúng tôi đã thử qua nhiều lần rồi, vả lại máy đo cũng báo cho biết là ở đó tuyệt nhiên không có nước!
- Ậy! Không sao mà, các ông cứ thử tiếp xem!
Y lời Ngài, họ thử thêm một lần nữa. Quả nhiên khi họ vừa khoan xuống khoảng một trăm thước thì mạch nước ào ạt vọt phun lên. Với nguồn nước dồi dào này, nếu có thêm một vạn người nữa cũng đủ dùng.

¡@


3) Hoằng Pháp tại Việt Nam


Từ ngày 20 tháng 11 năm 1974 đến 12 tháng 1 năm 1975, Hòa Thượng thượng Tuyên hạ Hóa lãnh đạo đoàn hoằng pháp qua Đông Nam Á, đến các nước như: Hương Cảng, Ấn Độ, Tân Gia Ba, Việt Nam, Đài Loan...

Dưới đây là sơ lược bài thuyết giảng của Hòa Thượng tại Việt Nam:

"Trước khi buổi giảng bắt đầu, quý vị làm ơn cho tôi xin vài điều nhá! Nghe tới đây, chắc có người thầm nghĩ: 'Tông chỉ của Hòa Thượng là:

Dù lạnh đến chết, cũng không phan duyên
Dù đói đến chết, cũng không xin cầu
Dù nghèo đến chết, cũng không đòi hỏi.

Tại sao nay vừa mới đến Việt Nam là Hòa Thượng lại xin xỏ này nọ. Vậy có phải là mâu thuẫn với những tông chỉ trên sao?'

Không phải đâu! Điều tôi xin đây khác với những gì quý vị đang nghĩ, bởi vì tôi không xin tiền bạc hay phẩm vật chi cả. Vậy tôi muốn xin gì đây? Tôi chỉ muốn xin cái gốc phiền não của quý vị thôi. Quý vị làm ơn gom hết cho tôi đi! Tôi có thêm nhiều phiền não chừng nào, càng tốt chừng ấy; còn quý vị nên giảm bớt sầu não đi. Một khi quý vị trút bỏ được những ưu phiền cùng ba độc: tham, sân, và si thì sau này tự nhiên quý vị sẽ phát sanh đầy đủ giới, định, huệ. Đó chính là điều đặc biệt mà hôm nay tôi muốn nhắc nhở đến quý vị.

Quý vị nên tận dụng hết năng lực sẵn có của mình, chớ đừng nên gò bó trong khuôn khổ hạn hẹp như những hạt bụi li ti. Vì tâm quý vị vốn có công năng bao trùm khắp hư không tận pháp giới. Nó có thể to đến nỗi chẳng vật gì mà chẳng dung chứa được; mặt khác nó cũng nhỏ đến nỗi không vật gì mà không thể chứa được. Với sự diệu dụng này, quý vị nên mở rộng tâm mình trùm khắp không gian và cùng hòa nhập vào cả hằng sa thế giới. Một khi tâm hòa đồng cùng pháp giới là quý vị có thể hóa độ chúng sanh.

Ngược lại nếu chúng ta không biết dụng tâm thì sẽ thấy đây là Việt Nam, đó là Nhật Bản, hay nọ là Trung Hoa, Thái Lan, Miến Điện, Tích Lan... hoặc lãnh thổ này nhỏ, quốc gia kia to... và như vậy chúng ta sẽ không thể nào cứu độ được chúng sanh ở thế giới này. Là Phật tử, chúng ta nên xem tất cả các quốc độ trên thế giới như chính ngôi nhà chung, đồng là một thể tánh với mình. Chúng ta cũng đừng tạo nên những ranh giới cách biệt giữa ta và chúng sanh. Bất kỳ thuộc phái Bắc Tông hay Nam Tông, quý vị cũng nên phá bỏ những ranh giới phân biệt này mà cùng nhau nỗ lực hoằng truyền Phật Pháp đến khắp mọi nơi, ngỏ hầu hòa hợp thành một Hội Phật Giáo Thế Giới. Chúng ta không nên hạn cuộc vào quốc gia nhỏ bé của mình, mà phải mở rộng tầm nhìn ra xa đến khắp cả hoàn cầu.

Ngày nay khoa học thật hiện đại đã làm sáng tỏ nhiều điều, nên người ta không còn những tư tưởng suy đoán mập mờ xưa cũ. Mỗi người chúng ta phải khai mở những cánh cửa sổ của tâm hồn mình, để thông hiểu chính chắn về sự hòa hợp này như: giúp đỡ người cũng chính là giúp ta, chăm sóc người chính như chăm sóc bản thân mình vậy.
Chúng ta phải có phương pháp hợp nhất để quy tụ tất cả Phật tử thành một đoàn thể để lập nên một Hội đoàn không phân biệt giữa các tông phái, đồng thời phá tan những quan niệm tu hành biệt lập. Quý vị không nên vướng mắc vào hình thức hay thành kiến về Đại Thừa hoặc Tiểu Thừa. Bởi vì đạo Phật vốn đồng một thể, nên chúng ta không những, riêng nhận mình là một phần tử trong đó, mà ngay cả những người không tin Phật cũng đồng một thể này.

Như lời đức Phật Thích Ca đã nói: ¡§Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể thành Phật, nhưng chỉ vì vọng chấp mà không thành Chánh Giác.¡¨

Quả thật vậy, chúng ta vì chấp trước, phân biệt: Tôi là người Hoa, anh là người Việt, người Thái, Miến điện, Nhật Bản, Ấn Độ hoặc Tích Lan... nên tâm không thể mở rộng được. Nếu chúng ta không bỏ những chấp trước như thế, tức là không tuân theo lời của đức Bổn Sư. Phật Pháp sẽ được hoằng hóa đến khắp nơi nếu chúng ta không còn những chấp trước này, và lúc đó tâm chúng ta cũng sẽ mở rộng bao trùm khắp pháp giới. Đồng thời chúng ta cũng cần phải phá tan những lằn ranh giới, vì Phật Pháp thì bao la không giới hạn, nếu như chúng ta vướng mắc vào đấy thì không phải là Phật Pháp.

Một lần nữa tôi xin nhắc lời Phật dạy: Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh và đều có thể thành Phật. Có nghĩa là: Đối với người dù tin hay không tin Phật đi nữa, Phật tánh của họ vẫn không bị mai một chôn vùi. Chỉ vì hiện tại họ chưa phát lòng tin, nhưng tương lai họ sẽ tin và nếu tương lai họ không tin, thì những kiếp sau đó họ cũng sẽ tin, rồi cũng có một ngày họ sẽ tin Phật. Tôi xin nhấn mạnh điểm chủ yếu là: Chúng ta nên nhớ điều phục mình. Đừng để mình đến gần những biên giới phân chia, tức là đừng bị cô lập trong giáo lý của đạo Phật. Một khi khái niệm về Ngã và Chúng Sanh hoàn toàn không còn, thì những ranh giới phân biệt cũng không tồn tại."


Cư sĩ Quả Dụ theo Hòa Thượng Tuyên ï Hóa trong suốt cuộc hoằng Pháp, ông viết lại hồi ký như sau:


¡§Hòa Thượng đi đến đâu là nơi đó đều có sự cảm ứng đặc biệt, thật khó nghĩ bàn. Bất luận chúng tôi đến đâu, cũng đều thấy giảng đường ở đó đầy nghẹt người. Nhớ lúc ở Sài Gòn, khi Sư Phụ thuyết pháp trước cả ngàn người, thì cứ mỗi ba phút Ngài phải ngưng lại vì những tiếng hoan hô, vỗ tay ầm ỷ của thính giả. Khởi đầu Ngài giảng bằng tiếng Hoa, kế đến được phiên dịch sang tiếng Việt. Cảnh này cũng giống như trong những trận bóng rỗ gay go, tiếng khán giả reo hò, hồ hởi, phấn khởi vang rền cả hội trường. Điều khiến cho tôi cảm động nhất là Sư phụ lúc đó giống như cái máy, phát nguồn năng lực, với khí lực tràn đầy, không hề mỏi mệt. Dù đã gian lao trải qua một cuộc hành trình dài dẳng mà Ngài vẫn thuyết pháp không ngừng dứt. Chẳng những vậy thôi, Ngài lại còn phải tiếp xúc với những đoàn người không ngớt bủa đến vây quanh, chờ đợi, thỉnh cầu Ngài giúp đỡ. Sư Phụ tâm quyết một lòng quảng độ chúng sanh, dù có phải hao mòn thân thể, rơi xương máu cũng không hề ngưng nghỉ.¡¨


Ngài trở về Mỹ vào đầu tháng giêng năm 1975. Nhưng đến ngày 17 tháng 1, Ngài bảo một đệ tử gởi điện tín về Việt Nam cho cư sĩ Phương Quả Ngộ, với nội dung rằng:

¡§Nếu như các việc đã thu xếp xong, ta hy vọng vợ chồng con hãy đến Mỹ sớm một chút. Mong sẽ có ngày tái ngộ. 
-Kim Sơn Tự-¡¨


Khi nhận được điện tín, Quả Ngộ linh tính có điều không lành, bèn điện thoại thỉnh vấn lý do - Tại sao Ngài muốn vợ chồng bà sớm qua Mỹ như vậy. Sư phụ chỉ nói: ¡§Không có gì!¡¨

Cuối cùng Quả Ngộ đã vâng lời Ngài đến Mỹ ngày 10 tháng 3 năm 1975. Chồng bà vì còn bận bịu công việc làm ăn nên tạm tới Hồng Kông. Lúc bấy giờ Hồng Kông vẫn còn là thuộc địa của Anh Quốc. Đến ngày 17 tháng 4 năm 1975, chồng bà nghĩ, nước Việt chưa có động tĩnh gì, bèn gởi điện tín hỏi bà có muốn về Sài Gòn không? Như thường lệ, Quả Ngộ lại thỉnh giáo Sư Phụ. Sư Phụ nói: ¡§Con hãy đợi ba tuần lễ nữa rồi hãy quyết định.¡¨

Nhưng chỉ đến hai tuần sau đó thì Sài Gòn bị thất thủ. Kể từ đó Quả Ngộ thường lưu ngụ ở Mỹ nhiều hơn là ở các nước khác. (Quả Ngộ vốn là một thương gia nên thường du hành khắp các nước trên thế giới.)

Quả Ngộ đã nhiệt tâm đóng góp rất nhiều công sức vào việc hộ trì Tam Bảo suốt trong những năm đầu mới thành lập Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới. Bà đã không chút quản ngại đời sống đạm bạc, cùng những nề nếp quy củ của nhà chùa, và thường lưu lại chùa phụ giúp biên thảo, kiểm duyệt cho việc kết tập những bài thuyết giảng của Sư Phụ. Ngoài ra bà còn huấn luyện khích lệ các thanh thiếu niên Mỹ đang học tập phiên dịch Kinh điển về những từ ngữ Phật học hay những thành ngữ Trung Hoa.
Hòa Thượng thật tận tình ái hộ và cứu trợ người Việt Nam, Ngài đã thành lập Trung Tâm Cứu Trợ Dân Tị Nạn Đông Nam Á tại Vạn Phật Thánh Thành từ năm 1980 đến 1986. Đồng thời với sự chấp nhận của chánh quyền Mỹ, Vạn Phật Thánh Thành cũng đã mở lớp huấn luyện nghề nghiệp và lớp dạy Anh Ngữ cho dân tị nạn ở đó, giúp họ sớm thích ứng vào cuộc sống mới nơi đất Mỹ.



4) Thì ra Thầy ¡§Mới¡¨ là Pháp Sư Độ Luân 



Sau năm 1975 tôi cùng một số đông đồng bào tỵ nạn, di tản đến nước Pháp một cách bình an ngay trước cảnh Việt Nam bị thất thủ. Trước lúc rời Việt Nam, tôi được một đệ tử của vị Thầy mà tôi quy y năm 1977, khuyến khích tôi nên tìm cách gần gũi một vị cao Tăng, Pháp Sư Độ Luân đang ở Mỹ. Thế nên tôi đã tìm kiếm khắp nơi. Tôi cũng đã nhờ các bạn Việt Kiều sống ở Mỹ dò hỏi giúp tôi tìm tông tích vị Pháp Sư này.

Vào một ngày nọ, tôi rất đổi vui mừng khi nghe nói có một Pháp Sư người Hoa đang hướng dẫn Tăng đoàn đến nước Pháp hoằng dương Phật pháp. Lúc đó có hơn 100 người tới nghe thuyết giảng. Khi buổi giảng kết thúc, đã có sáu người liền phát tâm giữ giới không sát sanh và ăn chay trường. Lại có khoảng hơn 10 người khác quyết tâm ăn chay mỗi tháng mười ngày. Còn tôi thì sau 11 năm chờ đợi mà cũng không thấy Pháp sư Độ Luân xuất hiện, ¡§tôi như đi tìm Ngài đến mòn cả gót giày mà vẫn không gặp¡¨, nên cuối cùng quyết định không chờ nữa. Thế là hôm đó tôi cùng 56 người khác thỉnh cầu quy y với vị Pháp sư này.

Cùng đến tham gia khoá lễ Vạn Phật Bảo Sám năm nay (1997), với những gương mặt hồng hào của ba phụ nữ là: Lư Quả Ngân, 69 tuổi; Trịnh Thân Chu, 71 tuổi và Quách Kim Loan, 61 tuổi. Họ say sưa kể lại câu chuyện kỳ ngộ của mình về ¡§vạn dặm đường truy tầm Pháp sư Độ Luân.¡¨

Họ đồng thanh bảo rằng: 

- A! Làm chuyện lành thì thường gặp nhiều trở ngại đó! Cũng như lúc chúng tôi thỉnh cầu quy y thì bị Sư Phụ từ chối không cho phép. Ngài nói: 

- Các vị không được quy y với tôi nữa vì các vị đã quy y và có Thầy rồi. Chúng tôi nghe lời Ngài tuyên bố giống như tiếng sấm vang dội giữa bầu trời quang đãng, Thế rồi người nào người nấy đều buồn hiu đứng ngây người qua một bên - Không biết phải làm sao. May thay có một chị trong nhóm nhanh trí, chị ta can đảm giải thích với Sư Phụ:

- Chúng con bị mất nước, nên không biết bao giờ sẽ gặp lại Thầy cũ. Vả lại chúng con đã không có Thầy hơn mười năm nay rồi. 

Nghe vậy Sư Phụ mới truyền Tam Quy cho chúng tôi được tròn ước nguyện. Từ đó chúng tôi xem như đã có một vị thầy từ bi để y chỉ tu hành. 

Tuy nói là ¡§đã đi mòn gót giày và từng nếm mùi khó khăn trong cuộc tìm kiếm, mà vẫn tìm không ra Pháp sư Độ Luân¡¨, nhưng trời cũng không phụ lòng thành, khiến chúng tôi gặp được một vị đại thiện tri thức là ngài Tuyên Hóa lảo Hòa Thượng . Dù đã không tìm được Pháp sư Độ Luân, nhưng chúng tôi cũng đều rất sung sướng. Ba người chúng tôi chẳng ai ngờ rằng, vị thầy đang trước mặt mình, lại là Pháp sư Độ Luân mà chúng tôi đã tìm kiếm bao năm qua.

Sau khi quy y xong, chúng tôi mỗi người tự thỉnh một quyển khai thị của Hòa Thượng. Chúng tôi đọc say mê đến nỗi không nỡ buông rời quyển sách. A! Chúng tôi đột nhiên phát hiện Sư Phụ ¡§Mới¡¨ lại chính là Pháp Sư Độ Luân. Đây thật không phải là chuyện nhỏ! Thế là cả nửa ngày hôm đó, chúng tôi không sao dằn được nỗi vui buồn lẫn lộn. Rồi ngay cả từ năm 1990 tới bây giờ là 1997, mỗi lần nhắc đến chuyện đó, chúng tôi vẫn không thể không ngăn được dòng nước mắt.¡¨

Cô Lư Quả Ngân, cô Quách Kim Loan cùng những bạn đạo quy y hôm đó, đều cảm nhận được nguồn lực đại oai đức của Hòa Thượng. Chúng sanh vì lưu lạc lâu ngày, nên rất khát ngưỡng cầu Pháp. Họ nói: 

- Khi nghe Sư Phụ giảng pháp, chúng tôi không có cảm giác nóng nảy, bồn chồn, mà chỉ cảm nhận được bầu không khí thật an lành, bình tĩnh. Điều đó như đã tạo thành một sức mạnh giúp cho những kẻ sau nhiều năm lạc loài mất nước như chúng tôi. Lại cũng khiến cho tâm đạo chúng tôi càng thêm kiên cố để hướng về thế giới Cực Lạc.

Cô Trịnh Thân Chu ngồi một bên im lặng nghe, gật đầu mỉm cười đồng ý những lời mà các bạn đạo thuật lại câu chuyện về ¡§Sư Phụ của chúng tôi.¡¨ Cuối cùng cô cũng góp lời: 

- Tôi thích pháp của Hòa Thượng nên muốn quy y Ngài. 

Cô Lư Quả Ngân còn nhắc thêm là sau khi quy y Hòa Thượng năm 1990, rồi kế tiếp vào những năm 1991, 1992, 1995 và 1997 họ đều đến Vạn Phật Thành. Họ cũng đều thọ Ngũ giới và Bồ Tát giới. Mỗi năm họ lưu lại Vạn Phật Thánh Thành dài hạn hơn. Năm nay tức 1997, họ ở Vạn Phật Thánh Thành luôn cả hai tháng rưỡi. Cô bảo rằng lúc ở Pháp, mỗi lần chuẩn bị đi Vạn Phật, thì nhất định có người, kể cả người không phải đạo Phật cũng đều xin gởi phẩm vật cúng dường Tam Bảo và cúng dường Hòa Thượng.

Cô còn viết thơ trình rõ việc cô thọ giới cho vị Thầy cũ hiện 80 tuổi ở Việt Nam. Thầy cô rất hoan hỉ và hồi âm như: 

- A! Đây thật là nhân duyên thù thắng đại phúc đức mà con đã vun trồng từ kiếp trước đó!

Cô Quách Kim Loan kể: 

- Lần đó ở Pháp, có một số người Hoa trong ban tổ chức chuẩn bị sắp đặt hội trường cho Pháp hội. Trong số đó có người vì quá nhiệt tình muốn mọi việc là phải hoàn toàn tốt đẹp, cho nên sanh ra chuyện tranh chấp với nhau. Sau khi Pháp hội bắt đầu, Hòa Thượng bảo người chuyền một tờ thơ cho vị đã bất bình nổi giận đùng đùng lúc bấy giờ. Cô này đang lúc bận rộn không rảnh rỗi xem kỹ nội dung, nên liền bỏ tờ giấy vào túi áo. Một lát sau, cô chợt nghĩ đến tờ thơ do Sư Phụ chuyển cho, và cho đó là điều rất vinh hạnh. Thế là cô lật đật móc tờ giấy ra đọc. Xem xong, sắc mặt giận xanh lúc trước của cô đã chuyển sang tím ngắt vì xấu hổ. Cô vội kéo người bạn trong hội lại và nói: ¡§Làm sao Sư Phụ biết hả? Lúc tụi mình tranh cãi, Sư Phụ đâu có ở đó!¡¨ Trong tờ giấy đó, Sư Phụ viết là: ¡§Khó nhẫn nên nhẫn. Nhẫn những điều mà người khác không thể nhẫn.¡¨ Rất nhiều người sau này đều lãnh hội được kinh nghiệm quý giá rằng: Chúng ta hạnh phúc lắm đó! Vì không giây phút nào mà Sư Phụ không âm thầm giáo hóa chúng ta hướng thẳng đến con đường chánh tri, chánh kiến, chánh tín, chánh niệm.

Thấy trước mắt là Vạn Phật Thành không đủ tăng ni để có thể phái qua Pháp hướng dẫn tín chúng tu hành. Thế nên họ thỉnh cầu Sư Phụ cho phép được ghi âm các thời khóa tu hành mỗi ngày của đại chúng ở Vạn Phật, cùng các Pháp hội tụng niệm kinh chú như: Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện, Kinh Địa Tạng, Kinh Di Đà, Đại Bi Sám.... Mỗi ngày, khi thu xếp các công việc trong gia đình xong, họ đều đặt thời khóa riêng để tu tập. Họ lại còn sắp xếp thời gian tụ họp cùng nhau tu hành, nghe băng giảng, hoặc cử hành các Pháp hội. Họ cũng nghiêm chỉnh tụng chú Lăng Nghiêm trong khóa công phu khuya. Mới đầu họ cho rằng thuộc chú Đại Bi là đủ rồi, chớ không nghĩ đến chuyện học thuộc chú Lăng Nghiêm dài hơn 500 câu. Nhưng sau đó có một vị đệ tử Mỹ của Hòa Thượng bảo họ: Tôi là người Mỹ mà còn học theo lời Sư Phụ dạy, huống hồ gì các vị là người Hoa mà sao không chịu học?
Nhờ vậy họ mới đem bài chú Lăng Nghiêm, vừa dài, vừa khó để học thuộc lòng. Cô Trịnh Kim Loan đặc biệt nói: 

- Thật là kỳ lạ! Tôi cứ đọc đến thuận miệng là thuộc làu hết cả bài chú lúc nào cũng không biết.
Ba vị thật trẻ trung, họ gật đầu lia lịa và cười nói vui vẻ khi kể lại một loạt chuyện diệu mầu như thế. 



5) Đón mừng Tết nguyên đán 


Đêm giao thừa nối liền hai tuổi. 
Đến canh năm tách rời hai năm. 
Tự tánh nghinh tiếp Thần Tài, Thần Hỉ, Thần quý.


Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng trong khoá 100 ngày Thiền vào ngày 26/1/71 tại chùa Kim Sơn, San Francisco.

Hôm nay là ngày cuối năm. Phong tục người Hoa cho rằng, tối nay tất cả quỷ thần sẽ xuất hiện. Vì vậy họ đưa ông Táo lên trời vào ngày 23, đến ngày 30 thì rước ông về, tức là hôm nay.

Có người hỏi: 

- Từ đất lên trời bao xa? Lộ trình đi khoảng bao lâu?

Ông Già biết chuyện (vì chuyện gì ông cũng rành hết) liền nói: 

- Từ đây tới trời xa khoảng 300 dặm. Người ta lại hỏi: 

- Sao ông biết được?

Ông nói: 

- Thì cứ nghĩ xem! Ông Táo lên trời bữa 23. Mỗi ngày ông cỡi ngựa đi khoảng100 dặm, vậy phải mất ba ngày mới được 300 dặm để đến gặp Thiên Hoàng mà báo cáo chuyện lành, chuyện dữ của thế gian. Báo cáo khoảng một ngày, rồi phải mất thêm ba ngày nữa để trở về. Lần đi khoảng 300 dặm, lần về cũng khoảng 300 chớ không thể hơn quá 350 dặm được vì ông cỡi ngựa đi và cỡi ngựa về mà!
Có phải các vị nói ông Già này rất là biết chuyện phải không?

Đúng vậy, từ mặt đất lên đến trời thì xa thật, vì không có cuộc hành trình nào dài bằng. Chúng ta đâu có thể đi bộ tới, hoặc dù có cỡi ngựa cả đời, cũng không thể nào tới đó được. Thậm chí ngồi máy bay cũng bay không đến nơi, vì máy bay sẽ bị vỡ tan nếu bay ra ngoài không gian. Cho nên phải dùng hỏa tiển. Nhưng hỏa tiễn bây giờ cũng không phóng đến trời, mà chỉ đến các hành tinh hay mặt trăng thôi. Vây cuối cùng rồi chúng ta cũng đều không biết trời ở đâu, hay cách đây bao xa nữa.

Mặt khác, chúng ta có thể nói, trời rất gần. Sao lại nói là gần?

Vì khi mở mắt là thấy trời, thấy đất ngay. Nếu không nói gần thì các vị làm sao mà thấy được chớ! Còn nếu nói là xa thì chúng ta cũng thử mở mắt nhìn nước Nhật, nhưng có thấy đâu. Muốn thấy Trung Quốc hay nước Đức gì đó cũng đâu thấy được, bởi vì xa quá đi. Vậy mà chúng ta chỉ cần ngẩng đầu lên nhìn là thấy trời liền.

Cho nên nếu các vị nói trời xa thì không có chỗ nào xa hơn. Còn nói trời gần thì cũng không có chỗ nào gần hơn vậy. Bởi vì chúng ta còn ở trong vòng trời đất, cho nên cùng trời đất là láng giềng. Vậy trời cũng là hàng xóm của chúng ta.

¡§Thiên nhai nhược bỉ lân. Hải nội tồn tri kỷ¡¨
(Chân trời như láng giềng. Biển cả là tri kỷ). 

Tất cả đều là bạn bè của chúng ta.

Quả Ninh mà cũng biết phong tục người Hoa là đưa ông Táo lên trời vào ngày 23.

Táo Quân tức là vua trong bếp, còn gọi là ông Táo. Khi đưa ông Táo lên trời, người ta nói: 

- Ông Táo ơi! Ông lên đó trình việc tốt rồi nhớ đem chuyện lành về nhé! 

Họ bảo ông Táo rằng: ¡§Lên đó ông nhớ báo cáo toàn chuyện tốt thôi, còn chuyện xấu xin đừng có nói, tôi không muốn ông nói chuyện xấu của tôi đâu à nghen!¡¨ 

Rồi họ dùng ¡§Kẹo Ông Táo¡¨ để cúng. Người Hoa chuyên môn cúng ông Táo loại kẹo này. Tuy nói là cúng cho ông Táo nhưng tụi trẻ con được dịp hưởng trọn.

Kẹo cúng ông Táo làm bằng gì vậy? Là dùng loại bột dẽo dính như keo để làm kẹo. Một khi ăn là môi bị dính lại, mở miệng không ra. Người ta dùng kẹo này để cúng ông Táo, cho nên gọi là kẹo đưa ông Táo. Vì là kẹo dẽo dính như keo, nên để dán miệng lại. Làm như vậy là có ý nghĩa gì? Là vì không muốn ông Táo lên trời nói nhiều. Họ còn cúng vái rằng: 

- Ông Táo tới ăn chút kẹo nhưng nhớ đừng nói việc xấu của tôi nhé! Khi lên trời nói chuyện tốt và đem chuyện lành về. Chuyện tốt nói nhiều thêm, chuyện xấu ít nói một chút. 

Cứ như thế mà họ cúng vái ông Táo.

Sau khi đưa tiển ông Táo xong. Họ để mấy tấm hình ông Táo ở bốn gốc lò rồi đốt đi. Họ cho rằng ông Táo sẽ từ ống khói mà đi thẳng lên trời. Thông thường phong tục đưa ông Táo là như vậy đó.

Các vị thử nghĩ: Tại sao khi đưa ông Táo lên trời, họ muốn dán miệng ông lại như vậy? Tại vì họ tự biết mình làm nhiều điều xấu quá đi, nên không muốn ông Táo nói ra việc xấu của họ chớ gì? Cũng như chúng ta làm chuyện ác, mà sợ người nào đó biết được, bèn mua lễ vật tặng cho người đó. Lại còn dặn dò người đó: ¡§Đừng nói cho ai biết hết! Nhớ làm ơn bảo vệ bí mật này cho tôi.¡¨ Họ cúng kẹo hối lộ ông Táo cũng giống như vậy thôi!

Tôi tin rằng, nếu quả thật ông Táo là Thần, thì lúc miệng ông bị dán dính lại như vậy, chắc ổng đã nổi nóng mà tát một cái cho sưng mặt. Tiếc thay ông Táo đã không biết động đậy chi, bởi ổng chỉ là một tấm hình vẽ. Cho nên từ đó tới giờ, nếu ai làm theo phong tục này đều chưa bị tát tay bao giờ cả. Đúng là ngu si, tự gạt mình mà tưởng là cách khéo léo. Trên thật tế đó chỉ là một hành vi rất ngu ngơ. Nếu các vị sợ người ta nói việc xấu của mình, thì từ ngay lúc ban đầu đừng nên làm điều sai quấy. Nếu làm ác rồi sợ bị người dèm pha, thì thật là chuyện không thể được. Phong tục dùng kẹo dán miệng ông Táo này tuyệt đối nên bỏ đi. 

Như nếu ông Táo là Thần thật đi nữa thì sao các vị lại dám làm chuyện sỉ nhục một vị Thần như vậy? Còn đối với người thì sao? Nếu tôi không muốn quý vị nói xấu tôi. Tôi có thể dán miệng hay thậm chí còn lấy chỉ may miệng quý vị lại, như vậy có được không? Cho nên đây là cách thức do người Hoa mê tín mà ra. Phong tục này nên dẹp bỏ, chớ theo.

Người ta bảo rằng các quỷ thần sẽ hạ giới trong đêm 30. Vì thế Đạo Giáo lại có một phong tục về chuyện này. Phong tục gì vậy? Đạo Giáo cho rằng: Nên thọ trì, đọc tụng kinh điển trong đêm 30. Thọ trì cái chi? Tức là bất kỳ họ niệm được chú gì trong đêm 30, thì trong năm tới, dù lúc nào hay ở đâu, họ muốn niệm nữa đều được linh cảm cả. Còn nếu như không thọ trì trong đêm 30 thì sao? Thì họ không thể niệm ở nhà, mà phải đến một ngôi chùa cô quạnh hay một ngôi mả hoang vắng. Chùa cô quạnh tức là nơi không có người mà chỉ toàn là quỷ thần ở trong đó, tại vì đêm tối chẳng ai dám tới. Nếu ai có thể đến chỗ vắng vẻ như vậy để niệm chú, tụng kinh thì mới gọi là thọ trì. Làm như vậy thì các quỷ thần mới nghe được lời chỉ huy của họ. Hoặc họ tới một ngôi mộ đơn độc hoang vu. Vì chỉ có một ngôi mộ, cũng như chỉ có một con quỷ ở đó. Nếu tới chỗ như vậy niệm chú thì con quỷ này sẽ là Hộ Pháp của họ. Họ muốn sai khiến nó lúc nào thì nó sẽ đến lúc nấy.

Nhưng trong Phật Giáo không có lối giảng Pháp như thế. Mỗi ngày, dù bất cứ lúc nào và ở đâu chúng ta cũng đều có thể đọc tụng được cả. Cho nên chúng ta mỗi ngày đều thọ trì đọc tụng.

Trung Quốc lại có một phong tục về đêm 30 nữa. Phong tục gì? Là người ta sẽ không ngủ trong đêm 30. Họ cho là:

¡§Nhất dạ liên song tuế, ngũ canh phân nhị niên,¡¨ -  Một đêm nối liền hai năm, canh năm tách rời hai năm. 

Vì là đêm hai năm nối liền nhau, nhưng đến canh năm, tức sáng sớm, gà gáy mới là lúc phân chia hai năm. Trong đêm giao thừa 30, hai năm vẫn còn dính liền, nhưng canh năm là lúc phân rời giữa năm ngoái và năm nay.

Đấy là câu đối liễn. Tôi nói cho các vị nghe vì nó là một phần kiến thức của Trung Quốc.

Thông thường vào đêm 30, các gia đình người Hoa lại muốn ăn toàn những món ngon vật lạ. Họ ăn những món ngon nhất, càng nhiều hương vị càng tốt. Đối với người ăn mặn thì họ sẽ ăn hoành thánh. Họ dùng thứ thịt thượng hạng để làm nhưn, rồi ăn vào lúc 12 giờ khuya. Họ cho rằng nếu được ăn loại hoành thánh này, thì nguyên năm tới sẽ như được ¡§ăn bảo vật¡¨ (ăn vàng nén) và luôn có tiền xài trong năm.

Lại thêm chuyện nữa là họ nhét tiền trong nhưn hoành thánh. Cả nồi hoành thánh chỉ có một cái hoành thánh là có đồng tiền trong đó thôi. Ai mà ăn trúng hoành thánh này thì cho là rất có phước và sẽ phát tài.

Hôm nay tôi giới thiệu về những phong tục này để trong tương lai, nếu quý vị có dịp đi Trung Quốc thì quý vị sẽ biết. Còn như không có đi, quý vị cũng hiểu đại khái qua các phong tục đó. 

Tháng giêng là tháng cho họ nghỉ ngơi, họ chỉ làm việc chút ít thôi. Hết tháng giêng, họ bắt đầu đi làm và sẽ không còn ăn các món ngon như vậy nữa. Còn một phong tục khác nữa là: Mồng một tết, họ phải biết nên khởi hành về hướng nào trong ngày đầu năm để họ nghinh tiếp thần Tài, thần Hỉ, thần Quý ở hướng đó. Đêm 30 họ cũng đón tiếp thần Tài. Đón vào lúc nào? Đúng 11 giờ đêm. Họ lập một bàn thờ ở hướng tây nam, rồi đốt một cặp đèn cầy và rót rượu thỉnh thần dùng. Sau đó cả nhà cùng quyến thuộc họ, hướng về phía nam lễ bái. Sau khi lạy xong, họ thỉnh Thần Tài vào nhà.

Chúng ta ở đây cũng tiếp đón Thần Tài, Thần Hỉ và Thần Quý vậy. Thế nào là Thần Tài? Nếu quý vị không để mất tinh thần, tổn hao khí lực, tức là có Thần Tài. Còn Thần Quý thì sao? Trong một năm mà quý vị không nổi nóng là quý lắm rồi, tức là có Thần Quý đó. Nếu quý vị phát tâm rằng: ¡§Năm tới tôi sẽ không phát quạu. Tôi sẽ thay đổi tính tình¡¨ là có được Thần Quý đấy. Còn nếu lúc nào quý vị cũng vui vẻ, hân hoan, tức đang tiếp đón Thần Hỉ rồi! Bởi vậy cách thức diễn giải của tôi thì khác hẳn những lối trình bày cổ truyền của người Hoa.

Ba vị Thần Tài, Thần Hỉ và Thần Quý đều tự có trong quý vị. Bất quá tại quý vị không biết dùng đến, cứ mãi lo chạy ra ngoài để tìm cầu. Các Thần này vốn ngự ở trong ta.

¡@

6) Đại Thi Sĩ Hoà Thượng

Thích Hằng Thật



Lễ bái qua khỏi Vịnh Half Moon (Bán Nguyệt) thì đã đến giờ ngọ. Tôi phủi bụi cát dính trên trán và sửa lại túi đeo sau lưng. Buổi sáng sớm đang yên tĩnh. Cũng là lúc lặng yên những trận mưa trứng tới tấp và những lời chế nhạo, mà chúng tôi đã hứng chịu suốt cả tuần qua ở thị trấn vùng ven biển này. Vừa đến gần bãi biển bên Quốc Lộ Một, sư Hằng Triều đi tới trước ra hiệu cho tôi ngừng lễ lạy để chuẩn bị dùng cơm trưa. Với nét mặt hớn hở Sư nói: ¡§Sư Phụ tới kìa!¡¨ Tim tôi như nhảy vọt lên. Chúng tôi đã không gặp Sư Phụ cả ba tuần nay rồi. Vả lại chúng tôi cũng có nhiều chuyện muốn kể cho Sư Phụ nghe. Đặc biệt là bữa trước, trong lúc trời sương mù dầy đặc, bỗng dưng tôi nổi hứng viết ra một bài thơ bằng tiếng Hoa. Tôi cảm thấy rất tự đắc về bài thơ đó, nên muốn được Sư Phụ khen tặng vài câu về tài làm thơ của mình.

Lúc đó Sư Phụ dẫn theo một số khách là: giáo sư Tạ Băng Oanh, Từ Dật Quân, Quả Ngộ và hai vị Tỳ Kheo Ni từ Vạn Phật Thánh Thành đến.

Đúng lúc quá! Nay có cả giáo sư Oanh, một ¡§Nữ Quân Nhân¡¨ anh hùng trong cuộc kháng chiến chống Nhật ở Trung Quốc. Bà cũng là một nhà văn nổi tiếng. Sẵn dịp này, bà có thể thưởng thức bài thơ của tôi luôn thể vậy.

Suốt bữa cơm trưa đó, bà Oanh với vẻ mặt buồn ủ rủ chẳng vui. Cho nên Sư Phụ muốn khuyến khích tinh thần bà lên. Mặc dù tuổi bà đã cao, nhưng bị ông chồng có tánh ghen tuông, vẫn xem bà như là cô vợ trẻ mới cưới vậy. Cho nên trời vừa sụp tối là ông giới nghiêm không cho bà ra khỏi cửa. Riêng hôm nay bà trốn đi được là nhờ mưu kế của mấy bà bạn.

Vì đã phát nguyện tịnh khẩu, nên tôi đã im lặng từ lúc gặp Sư Phụ lần chót cho đến nay. Dùng cơm xong, bao lời lẽ từ lâu bị đè nén trong lòng tôi như muốn tuôn trào ra cùng một lúc. Đợi dịp mọi người vừa ngưng nói là tôi liền chêm lời vào.

Thưa Sư Phụ, con đã làm một bài thơ về cảnh giới hiện tại của con. Con có thể đọc cho Sư Phụ nghe được không?

- Ồ! Một bài thơ à? Đọc cho tai nghe thử coi! Thơ nói gì vậy? 

Sư Phụ thoáng nghe, không có vẻ gì chú ý, nhưng tôi thì quá cao hứng báo cáo. Với lòng tự hào, tôi lên giọng đọc bài thơ bằng tiếng Hoa như sau:

Ngôn từ biện nghi, kinh thư đa,
Tinh thần bảo quý hy hữu Phật.
Mộng trung giác lai vô sở niệm,
Giác hậu tận khí vị chúng thuyết.


Nghĩa là: 

Lời nói rẻ rề, kinh sách nhiều,
Tinh thần là quý, Phật hiếm hoi
Trong mộng tỉnh ra không chỗ niệm
Giác rồi tận lực vì chúng giảng.

Nghe rồi Sư Phụ thở khì:

- Hừ! Là vậy sao? Chú làm thơ, ngay đến một nửa cũng không đúng! Đọc lại lần nữa coi!

Bao hứng thú trong lòng như sụp đổ! Tôi đọc lại lần nữa.

Ngài nói:

- Sai rồi! Hỏng phải vậy! Bây giờ để tôi sửa bài thơ đó lại một chút cho chú nhen!

Không chút nghĩ ngợi, cũng không cần viết xuống, Sư Phụ đọc lại nguyên bài thơ của tôi và khéo léo thay đổi một vài chữ trong mỗi câu. Bài thơ mới này như ám chỉ thẳng vào tâm trạng hiện thời của tôi, đồng thời nó cũng đập tan đi những hòn bọt kiêu ngạo trong tôi. 

Sư Phụ sửa lại bài thơ của tôi như sau:

Ngôn từ hư vọng, giảo biện đa, 
Bảo quý tinh thần, khả thành Phật.
Mộng trung chỉ ngữ vô sát niệm,
Giác hậu nguyên lai nhất tự một. 

Nghĩa là:

Lời nói không thật, lẽo lự nhiều,
Quý giữ tinh thần sẽ thành Phật.
Trong mơ đừng nói, không các niệm,
Giác rồi một chữ vốn cũng không.


- Giáo sư Oanh, Bà nghĩ thế nào? Sư Phụ hỏi.

Bà cư sĩ giương to đôi mắt dưới cặp kiếng mát, ra chiều vui vẻ. Tiếng cười của mọi người hòa lẫn cùng tiếng chim hải âu đang kêu vang trong không trung. Tôi cảm thấy nghẹt thở, như vừa bị một cú nhu đạo quăng nhào xuống nền cát. Đồng thời tôi cũng không ngăn được sự tức cười. Sư Phụ chớp nhoáng đã sửa lại lời lẽ trong bài thơ, nhằm để chỉ thẳng vào tướng ngã, cái gút mắc trong tâm tôi.
Ngài nói:

- Tôi đem câu ¡§lời nói rẻ rề¡¨ sửa thành ¡§lời nói không thật¡¨. Chú nên nhớ pháp danh ¡§Quả Chân¡¨ của chú tức là ¡§(kết) Quả của lý chân thật¡¨ đấy!

Kể từ ngày tôi được Quy Y Tam Bảo, lời dạy này như là đá thử vàng về sự tu hành của tôi. Ngài tiếp:

- Chú nói ¡§kinh sách nhiều¡¨ tôi nói ¡§lẽo lự nhiều¡¨, chú nên hiểu rõ ý này chớ! Tôi thấy chú vẫn chưa hẳn tập trung vào việc tam bộ nhất bái đó! 

Những lời chân thật không trau chuốt này như chỉa thẳng vào tim tôi, khiến mặt tôi đỏ bừng trong cơn gió lạnh của vịnh Half Moon đây.

Trong câu thứ hai của bài thơ, Sư Phụ đem chữ thứ ba và bốn ra trước hai chữ đầu là bảo quý tinh thần thay vì tinh thần bảo quý. Cho nên ¡§bảo quý¡¨ lúc đầu là tĩnh từ để diễn tả ¡§tinh thần là quý¡¨ nay đổi thành động từ ¡§quý giữ tinh thần¡¨. Đó là chỉ ngay thẳng vào cái mặt nạ trí thức giả dối tu hành, mà tôi vẫn đeo mang trong suốt mấy tháng lễ lạy vừa qua.

- Câu thứ ba tạm được, nhưng tôi đem ¡§không chỗ niệm¡¨ sửa thành ¡§không các niệm¡¨. Chú chưa đến trình độ ¡§không chỗ niệm¡¨ này, đừng có làm bộ lên mặt khoe khoang!

Còn câu cuối ¡§Giác hậu tận khí¡¨ đọc không được lưu loát cho lắm. Hơn nữa, nếu là Bồ Tát chân thật thì không thể nào hết tận khí lực được. Với ý nghĩ này sẽ đưa chú rẽ vào con đường sai lầm thôi! Một khi chú chưa tỉnh ngộ, đó đều là hý luận cả. Thử đổi như vầy ¡§Giác rồi một chữ vốn cũng không¡¨. Thế nào hả? Như vậy có được không?¡¨

Tôi như ngơ ngẩn không nói nên lời. Quả là tôi đã dám múa rìu qua mắt thợ, muốn trổ tài với nhà thi sĩ vô địch của mái trường xưa ở Trung Quốc. Để rồi tôi bị lãnh một chiêu tuy nhẹ nhàng, nhưng đủ cho tôi đo ván hẳn hoi. Đó mới thật là công phu thần kỳ. Một công phu chân chánh, chớ không phải là những thứ quyền thuật, múa máy tay chân.

Võ thuật gì mà trong phút chốc lại có thể dồn võ sinh vào chân tường, để bắt tại trận những chiêu giả dối, sai lầm và những cao vọng kiêu căng trong vần điệu thích hợp như vậy? Thật là thần kỳ! Những khuyết điểm trong bài thơ của tôi đã được cắt xén một cách quyền thuật. Rồi sau đó, nó được trả về để phơi bày những chỗ thiếu sót của tôi. Tuyệt vời hơn nữa là câu chót, nó như hé mở cánh cửa thần bí của tâm giác ngộ - một nơi không có lời lẽ hay ý tưởng gì làm ngằn mé giới hạn ¡§Thiên Phật Tánh¡¨.
Một trận cười từ trong lòng phát nổi lên khiến người tôi rung động. Tôi có cảm giác trên đôi vai và nét mặt mình, hầu như đã tan biến bao nỗi lo ngại của xa lộ trong mấy tuần qua. Tôi cười đến chảy nước mắt, cùng với tâm trạng vừa nhún nhường xấu hổ, lại vừa vui mừng cảm kích. Sư đệ Hằng Triều không thể chia sẻ với tôi chuyện khôi hài này, vì sư không biết tiếng Hoa, cũng như sư đã không thưởng thức được bài học tinh vi và chính chắn đó. Còn tôi nôn cười đến nỗi cũng không có cách gì để giải thích.
Sư Phụ biết tôi vốn rất yêu thích thơ phú. Để rồi trong phút chốc, Ngài đã lộ rõ cho tôi thấy ngọn lửa văn chương nóng bỏng của Ngài. Tôi nhớ đã nghe kể rằng: Trong mấy năm học ở trường, Sư Phụ từng nổi danh làm thơ và đối chữ vì Ngài chuyên viết câu đối dùm cho các bạn học, khi họ làm bài tập mà không thể đối được. Ngài không thích gì hơn là thi đấu trí. Ngài lại có thể sáng tác ra những bài thơ, câu đối, khiến cho ngay cả thầy giáo cũng phải nghiêng mình nể phục. Hiện tại tôi đang liều mình vào vòng đấu với vị thi sĩ vô địch, nên đã bị quất nhẹ từ đầu tới gót. Nhưng bài thơ đặc sắc này là mục tiêu chính xác nhạy bén của sự giáo hóa. Chỉ thay đổi vài chữ trong bài thơ mà bốn câu thơ đầu tiên của tôi đã biến thành một bài học cho cả cuộc đời. Đồng thời đó cũng là sự soi chiếu những điểm mù mờ và các tập khí đã từng cản trở sự giác ngộ của tôi.

- Được rồi! Chúng tôi về nhé! Chú phải nhớ giữ lời hứa của mình là sẽ không nói chuyện với bất cứ một ai. Phật thành tựu đạo nghiệp, bởi vì Phật luôn luôn chân thật trong mỗi hành động, mỗi lời nói. Chú nay chỉ là mới bắt đầu thôi. Tu hành không phải để cho ngày mai hay năm sau, mà là cho vĩnh viễn. Chúng ta phải xem sự hành đạo của Bồ Tát như là bổn phận của chính mình, như là việc cần thiết trước nhất trong công tác hằng ngày, chớ không phải những kiểu cách thô thiển nhằm để gây sự chú ý, hay mong được kẻ khác tán tụng. Chỉ khi nào chú thành tâm thực hành, thì mới có thể vượt qua trần cấu vậy. Chú đồng ý không? Ô kê! Try your best! (Hãy cố gắng hết sức mình nhé!) 

Rồi xe chuyển bánh trực chỉ hướng bắc để trở về San Francisco. Bên tai tôi vẫn còn vang vọng tiếng: ¡§Bảo quý tinh thần khả thành Phật.¡¨



7) Vạn Phật Thành ¡V Kỹ Niệm Thuở Ban Đầu 

Guo Yue Nan



Trong cuộc đời của chúng ta, chắc hẳn rằng ai ai cũng có một vài kỹ niệm vui buồn đáng nhớ. Tuy vậy, có những kỹ niệm người ta không muốn khơi lại, vì biết rằng nếu nhắc đến sẽ làm cho lòng người xao động, nặng trĩu mối ưu phiền. Song cũng có lắm kỹ niệm ví như liều thuốc bổ, giúp cho con người thêm phần nghị lực, vui vẻ hẳn ra nên được nhắc hoài không biết chán. Thật ra nếu biết hồi quang phản chiếu, thì dẫu là kỹ niệm vui hay buồn, chúng ta cũng vẫn có thể rút tỉa được những kinh nghiệm hữu ích trong cuộc sống. Sau đây chúng tôi xin kể lại những kinh nghiệm ngộ nghỉnh khó quên trong những ngày đầu tu hành ở Vạn Phật Thánh Thành dưới sự hướng dẫn của Tuyên Hóa lảo Hòa Thượng.
Chúng tôi sinh ra trong gia đình Phật Giáo, tuy ông nội là tu sĩ, xuất gia vào chùa khi cha chúng tôi lên 9, 10 tuổi, nhưng chúng tôi chưa kịp biết đến giáo lý Phật pháp thì ông nội cũng đã qua đời. Lớn lên cũng theo thông lệ như bao người Phật tử, chúng tôi cũng biết đến chùa lễ Phật và thỉnh thoảng phát nguyện ăn chay. Mãi đến năm 1989, chứng kiến cảnh vô thường, khi người cha thân yêu bất ngờ bị chứng bệnh hiểm nghèo cướp đi mạng sống nên chúng tôi phát tâm xuất gia, từ giã mẹ hiền và ba đứa em để vào chùa tập tu. Mùa hè năm 1990 cả hai chúng tôi cùng được xuống tóc với danh nghĩa là ¡§hình đồng¡¨ vì chưa thọ giới. Lúc bấy giờ Sư Cô trụ trì vì tuổi đạo còn nhỏ không thể thâu nhận đệ tử, nên giới thiệu Thầy của Sư Cô ở Việt Nam làm Hòa Thượng Ni cho chúng tôi, còn Sư Cô thì đại diện làm thầy y chỉ. Sau đó một năm, nhận thấy hoàn cảnh không thích hợp cho việc tiến tu, nên chúng tôi xin phép từ giả Sư Cô lên đường tầm đạo. Cũng may là trước đó không lâu, tình cờ nghe có người kể sơ về nếp sống ở Vạn Phật Thánh Thành, chúng tôi cảm thấy thích thú vô cùng, lòng nôn nao chỉ muốn tìm đến nơi ngay, mặc dù chúng tôi đang ở bên phía đông vùng Philadelphia, Pennsylvania, còn Vạn Phật Thánh Thành thì mãi tít bên phía Tây vùng California của nước Mỹ.

Mùa hè 1991, hai chị em chúng tôi được mẹ và em gái đưa đến tận Vạn Phật Thánh Thành, một nơi hoàn toàn xa lạ để bắt đầu nếp sống tu hành ở chùa người Hoa. Nơi đây ví như một thành phố nho nhỏ, nhưng có lối sinh hoạt hầu như khác hẳn với xã hội bên ngoài. Có lẽ vì thế mà nhiều người khi nghe nhắc đến chùa Vạn Phật Thánh Thành thì le lưỡi lắc đầu nói: ¡§Chùa Vạn Phật là nơi tu khổ hạnh - ngày chỉ ăn một bữa, tối lại phải ngủ ngồi, khó lắm đó!¡¨ Phải chăng những lời này chỉ là tùy vào cái nhìn và căn duyên của mỗi người mà phán đoán?

Thật ra Vạn Phật Thánh Thành đâu có đến nỗi khổ sở như lời đồn đãi. Chẳng qua S