Chinese | Vietnamese

Phật Tổ Đạo Ảnh

Hòa Thượng Tuyên Hóa 

Mục Lục


bookGiới thiệu:


Chư Tổ, tuy Ấn, Hoa có khác, nhưng cùng vẻ thiên dung đạo mạo, rờ rỡ sáng ngời, khiến người chiêm ngưỡng, vơi sạch lòng trần, thấy tướng liền ngộ tâm. Chỉ trong sớm tối, ngàn năm cùng quay về với chư Tổ trong đại quang minh tạng. Chẳng có đạo ảnh thì lấy gì làm nên chuyện đó? Khoảng đời Hồng-Vũ, một số ham thích đạo, cả tăng và tục, cùng nhau miêu họa đạo ảnh Phật và Tổ, từ tôn giả Đại Ca Diếp đến các vị tôn túc cổ sơ trong nước, tính ra là 120 vị, rồi tàng trữ tại núi Ngưu-Thủ phía nam kinh đô. Nét bút tinh thần, phong độ cao khiết, nếu chẳng do sự kỳ diệu của tâm tư, cảm ứng đến chỗ u linh thì dễ gì có được bút pháp như vậy !  

Tổ thứ năm: TÔN GIẢ ĐỀ-ĐA-CA

 

 

Tôn giả Đề-đa-ca người nước Ma-già-đà. Lúc sắp sinh Tôn giả, cha Ngài mộng thấy mặt trời vàng rực chiếu khắp nơi. Lớn lên, Tôn giả gặp Tổ thứ tư (Ưu-ba-cúc-đa), liền xin xuất gia. Tổ hỏi:

          - Thân ông xuất gia hay tâm xuất gia?

Tôn giả thưa:

- Dạ! Con cầu xuất gia không phải vì thân tâm.

- Không vì thân tâm, vậy ai xuất gia?

- Phàm người xuất gia đâu có cái ngã của mình nên tâm không sinh diệt, tâm không sinh diệt thì đúng là thường đạo, chư Phật cũng thế, tâm không hình tướng, thể của nó cũng vậy.

Tổ bảo:

- Lúc ông đại ngộ tâm tự linh thông.

Tổ liền cho Tôn giả xuất gia, thọ giới cụ túc và giao phó đại pháp. Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến Trung Ấn và truyền pháp cho Di-già-ca. Sau đó, Tôn giả phóng mình lên hư không, hiện mười tám thần biến, rồi dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân.                               

Bài tán:

Tâm không sanh diệt

Muốn giấu càng tỏ

Đạo pháp phi thường

Thịt bất khoét ương

Trong mộng nói mộng

Nét xấu phô trương

Hỏa quang tam-muội

Trên tuyết thêm sương

心非生滅 

欲隱彌彰 

法非常道 

好肉剜瘡

夢中說夢 

家醜外揚 

火光三昧 

雪上加霜

 

  Kệ rằng:     

Mộng mặt trời vàng Tổ giáng thần

Linh căn bất muội quyết ly trần 

Xuất gia vô ngã lìa sanh diệt 

Nguyện ước đời tu dứt khổ nhân

Kết thân cùng Phật đồng như Thánh

Cùng Thầy hộ giáo chính pháp hưng

Hoả quang tam-muội thiêu thân huyễn

            Chấn động cung ma khiếp quỷ thần

                                               (Tuyên Công Thượng Nhân)

父夢金日祖降生 

不迷本性覓離塵

無我出家非異滅 

有願脫俗斷苦因

與佛為鄰思齊聖 

同師護教正法興

火光三昧焚幻體 

魔宮震動鬼神驚

                

     Lại có thơ rằng:

Phiền não thế tục tam giới gia

Mộng huyễn bóng nước và không hoa

Thân tâm giải thoát lìa phân biệt

Dài, ngắn, tròn đầy không khác xa

Gánh vác đại nghiệp, ngời Phật Tổ

Tổ ấn cao huyền chiếu muôn nhà

Lâm chung thị hiện lửa tam-muội

Thần thông tự tại không gì qua.

                                                  (Tuyên Công Thượng Nhân)

世俗煩惱三界家 

夢幻泡影與空花
身心解脫離分別 

長短圓融泯剎那
荷擔如來傳大業 

高懸祖印照昏麻
臨行示現火光定 

自在神通妙無涯

 

Giảng:

Tôn giả người nước Ma-già-đà. Lúc sinh Ngài, cha Ngài mộng thấy mặt trời vàng rực chiếu khắp nơi: Tổ thứ năm là tôn giả Đề-đa-ca, người nước Ma-già-đà. Lúc Ngài sắp chào đời, cha Ngài mộng thấy mặt trời vàng rực chiếu khắp nơi. (Chú 1)

Lớn lên, Tôn giả gặp Tổ thứ tư, liền xin xuất gia: Khi trưởng thành, Ngài gặp Tổ thứ tư- tôn giả Ưu-ba-cúc-đa liền xin Tổ thứ tư xuất gia.

Tổ hỏi:  Thân ông xuất gia hay tâm xuất gia ? Tổ thứ tư hỏi Ngài: “Ông muốn thân xuất gia hay là tâm xuất gia?

Tôn giả thưa: Con cầu xuất gia không phải vì thân tâm: Ngài đáp: “Thưa Ngài! Con xin xuất gia, không phải là thân xuất gia, không phải là tâm xuất gia và cũng không phải là thân tâm xuất gia”.

Tổ hỏi:  Không vì thân tâm vậy ai xuất gia?  Tổ thứ tư hỏi: “Ông không phải vì thân tâm xuất gia, không phải vì thân xuất gia, hay tâm xuất gia, vậy rốt cuộc ai xuất gia?”

Tôn giả đáp: Ngài đáp: “Phàm xuất gia: Thế nào gọi là xuất gia? Xuất gia có: xuất phiền não gia, xuất hồng trần gia, xuất sinh tử gia, xuất lao ngục gia, xuất tam giới gia. Người xuất gia, không có cái ngã của mình: Không có ngã, cũng không có một cái gì sở hữu của ngã; nếu không có ngã làm sao có thân và tâm? Tâm không sinh diệt: Chính ở trong tâm cũng không sinh không diệt. Tâm không sinh diệt, đúng là thường đạo: Tâm này không sinh cũng không diệt, đây chính là lí chân thường, một chân lí thường nhiên không thay đổi. Chư Phật cũng thế: Chư Phật cũng vậy, cũng là tâm không sinh, không diệt. Tâm không hình tướng: Tâm này không có hình tướng, cũng không phải màu xanh, vàng, đỏ, trắng hay đen, cũng không phải là dài, ngắn, vuông, tròn. Thể của nó cũng vậy: Thể tính của tâm cũng vậy, cũng không có hình tướng”.

Tổ bảo: Lúc ông đại ngộ tâm tự linh thông: Tổ thứ tư nói: “Sau này ông đại ngộ sẽ hiểu được; lúc khai ngộ thì tâm rất sáng, tự nhiên ông sẽ thông suốt!”

Tổ liền cho Tôn giả xuất gia, thọ giới cụ túc và giao phó đại pháp: Tổ thứ tư liền cho Ngài xuống tóc xuất gia và thụ giới cụ túc. Về sau, Tổ truyền Đại pháp chính pháp nhãn tạng niết-bàn diệu tâm cho Ngài. (chú 2)

Sau khi đắc pháp, Tôn giải du hóa đến Trung Ấn và truyền pháp cho Di-già-ca: Sau khi đắc pháp, Tôn giả du hóa đến vùng Trung Ấn Độ và truyền pháp cho Tổ thứ sáu - Di-già-ca.

Tôn giả phóng mình lên hư không, hiện mười tám thần biến, rồi dùng hỏa quang tam-muội thiêu thân: Từ đất Ngài phóng mình lên hư không, hiện mười tám thứ thần biến. Mười tám thần biến: trên thân ra lửa, dưới thân ra nước, dưới thân ra lửa, trên thân ra nước, ở giữa hư không đứng, ngồi, nằm; lại hiện nhiều cảnh giới không thể nghĩ bàn, rồi nhập định hỏa quang, dùng lửa tam-muội thiêu thân mình.

 

Bài tán:  

Tâm không sanh diệt, muốn giấu càng tỏ: Tâm không sinh không diệt, nếu quý vị muốn che dấu thì nó càng hiện rõ. Ẩn “” là che dấu cái gì đó; di chương “彌彰” là càng lộ rõ ra ngoài.

Pháp phi thường đạo, thịt bất khoét ương: Pháp này không có thường đạo nhất định. “Hảo nhục oan sang” “好肉剜瘡”, là ý nói ngay trên da thịt lành lặn mà lại tạo ra vết thương là điều không nên, bởi tự tính của chúng ta và Đức Phật là như nhau. Nếu miễn cưỡng tạo tác thì có khác gì trên da thịt lành lặn lại khoét thành vết thương.

Trong mộng nói mộng, nết xấu phô trương: Chúng ta ở trong mộng lại nói mộng, giống như đem chuyện xấu trong nhà nói với người ngoài. Gia xú “家醜” là nói chúng ta đều ở trong mộng mà lại nói mộng. Ở đây tất cả đều là hoa trong kính, trăng trong nước, không có gì chân thật. Những điều chúng ta nói ra đều không phù hợp với pháp.

Hỏa quang tam-muội, trên tuyết thêm sương: Nhập định hỏa quang này, giống như trên tuyết lại thêm sương.

 

Kệ rằng:

Mộng mặt trời vàng Tổ giáng thần: Vào ngày Tổ ra đời, khi mà vị thân sinh nằm mộng thấy mặt trời màu vàng là lúc Ngài giáng thần. Ở đây, nói chung cũng theo bát quái. Bát quái của Trung Quốc, hơn một nữa do từ Ấn Độ truyền sang, người Ấn Độ phần đông cũng theo bát quái. Nằm mộng chính là nói về chỗ xuất xứ. Vì vậy, cha Ngài nói đêm qua mộng thấy mặt trời màu vàng, sau đó thì vị Tổ này ra đời.

Linh căn bất muội, quyết ly trần: Bản tính ngài không mê muội, nên tìm cách muốn xa lìa cõi hồng trần này. 

Xuất gia vô ngã lìa sanh diệt: Xuất gia chính là vô ngã. Vô ngã là gì? Chính là nói người xuất gia không có tâm tham danh, lợi, tài, sắc. Tài, sắc, danh, thực, thùy này rõ ràng đều không có phần của ngã! Phi dị diệt “非異滅” xuất gia là phải học pháp môn bất sinh bất diệt này, “biết bản tâm mình, thấy bản tính mình” để xa lìa pháp sinh diệt.  

Nguyện ước đời tu dứt khổ nhân : Xa xưa Ngài đã phát nguyện, muốn đồng chơn[1] xuất gia nhập đạo, đoạn trừ hết nhân khổ.

Kết thân cùng Phật đồng như Thánh: Ngài tu hành, tu hành là được gần gũi Đức Phật. Tư tề thánh “思齊聖” là Ngài muốn đồng thể với chư Phật, giống như chư Phật. Thánh cũng chính là  chư Phật.

Cùng thầy hộ giáo chính pháp hưng: Ngài như sư phụ Ngài-chính là Tổ thứ tư hộ trì Phật giáo, hoằng dương chính pháp, làm chính pháp nhãn tạng niết-bàn diệu tâm không đoạn diệt.

Hỏa quang tam-muội thiêu thân huyễn: Đến lúc thị tịch, Ngài nhập tam-muội Hỏa quang, dùng lửa ấy thiêu thân giả tạm này. Thân huyễn chính là thân tứ đại giả hợp huyễn hóa.

Chấn động cung ma khiếp quỷ thần: Lúc ấy, các cung ma của thiên ma ngoại đạo đều chấn động, quỉ thần đều kinh sợ. Vì chúng biết lúc này trong thế giới có thánh nhân chứng quả, cho nên khiếp sợ.

 

Lại có Kệ rằng:

Phiền não thế tục tam giới gia: Xuất gia chính là ra khỏi ba nhà: nhà thế tục, nhà phiền não, nhà tam giới. Tam giới: là Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới.

Mộng huyễn bóng nước và không hoa: Con người chúng ta giống như mộng huyễn, bọt nước và hoa đốm giữa hư không.

Thân tâm giải thoát lìa phân biệt: Nếu thân tâm quý vị đều đạt đến giải thoát thì không còn sự phân biệt.

Dài, ngắn, tròn đầy không khác xa: Thế là trong khoảng sát-na cũng không có, cũng không có thời gian dài, cũng không có thời gian ngắn.  

Gánh vác đại nghiệp ngời Phật Tổ: Ngũ Tổ gánh vác chính pháp của Như Lai và truyền thừa gia nghiệp vĩ đại này.

Tổ ấn cao huyền chiếu mọi nhà: Tâm ấn cao huyền này là của những Tổ sư trước. Chiếu hôn ma “照昏麻” là chiếu soi những chúng sinh mê muội say sưa mất lí trí.

Lâm chung thị hiện lửa tam-muội: Lúc lâm chung, Ngài thị hiện tam-muội Hỏa quang.

Thần thông tự tại không gì qua: Tự tại và thần thông thâm diệu này không có giới hạn.

 

Thượng Nhân Tuyên Công giảng vào ngày 12, tháng11, năm1983.

 

------------------------

Chú 1: Cảnh Đức Truyền Đăng Lục ghi:

Tổ thứ năm là tôn giả Đề-đa-ca, người nước Ma-già-đà. Lúc Ngài ra đời, cha Ngài mộng thấy mặt trời màu vàng từ trong nhà xuất hiện, chiếu sáng khắp nơi; phía trước lại có núi lớn trang hoàng bằng nhiều thứ báu, trên đỉnh núi có dòng suối vọt lên, chảy thành bốn dòng. Về sau, Ngài gặp Tổ Cúc-đa, Tổ giải thích cho Ngài: “Núi báu là thân ta; dòng suối vọt lên là pháp vô tận; mặt trời từ trong nhà xuất hiện nay là tướng ông nhập đạo; chiếu sáng khắp nơi là trí tuệ siêu việt của ông”. Tôn giả vốn có tên là Chúng Hương, vì có thay đổi nay sư mới có tên này. Tiếng Phạn: Đề-đa-ca, dịch: Thông Chơn Lượng. Nghe Tổ nói xong, Đề-đa-ca vô cùng vui mừng, nói kệ:


Núi bảy báu nguy nguy

Thường hiện suối trí tuệ

Trở về chơn pháp vị

Độ những người có duyên

巍巍七寶山 

常出智慧泉
迴為真法味 

能度諸有緣

Tổ Cúc-đa cũng nói kệ:

Pháp ta truyền cho ông

Sẽ hiện đại trí tuệ

Mặt trời vàng xuất hiện

Chiếu sáng rực khắp nơi

   我法傳於汝 

當現大智慧
  
金日從屋出 

照耀於天地

Nghe bài kệ vi diệu của Thầy, Đề-đa-ca đỉnh lễ thụ trì.

 

Chú 2: Bài kệ truyền pháp của của Tứ Tổ phó chúc cho Ngũ Tổ thấy trong Cảnh Đức Truyền Đăng Lục và Chỉ Nguyệt Lục ghi:

Tâm từ tâm xưa nay

Bản tâm không có pháp

Có pháp có bản tâm

Không tâm không bản pháp.

   心自本來心 

本心非有法
   有法有本心 

非心非本法  


[1] Đồng chơn nghĩa là “non trẻ và trong sạch”, ý nói là xuất gia lúc còn bé, khi còn thanh tịnh, thuần khiết, vô tư.