Chinese and English | Vietnamese

Quy Tắc Căn Bản Cho Cư Sĩ

Dựa Vào Lời Dạy Của Hòa Thượng Tuyên Hóa

Nguyên bản:

居士基本守則

Basic Code of Conduct for the Laity

Published and translated by:

Buddhist Text Translation Society

1777 Murchison Drive, Burlingame, CA 94010-4504 USA

© 2020 Buddhist Text Translation Society

Dharma Realm Buddhist University

Dharma Realm Buddhist Association

 

Nam nữ già trẻ, chư thiện tín,

Khéo nhớ nghĩ, hộ trì Tam Bảo,

Cung kính, cúng dường, thường tinh tấn,

Bố thí, hỷ xả, phá tham, keo.

 

Nhẫn nhục đứng đầu ba la mật,

Tổ sư truyền Thiền định không hai,

Thanh tịnh giữ giới, không tì vết,

Ánh sáng trí huệ chiếu Đại Thiên.

Hòa Thượng Tuyên Hóa - 1978 tại Hương Cảng (Hồng Kông)

 

 

 

Lời tựa 1: Thay Đổi Dòng Vận Mệnh - Bằng Cách Tuân Giữ Giới Luật

Lời tựa 2: Mỗi Lời Nói Ra Đều Chân Thật

Lời Ban Biên Tập

Phần I: Để Tu Học Phật Pháp, Trước Tiên Nên Học Các Quy Củ Căn Bản Về Lễ Độ

Phần II: Cung Kính và Hộ Trì Tam Bảo

2.1 Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di nghĩa là gì?

2.2 Phát Bồ Đề Tâm và Tinh Tấn Tiến Lên

2.3 Những Người Tin Phật Cần Nên Đảnh Lễ Đức Phật

2.4 Nên Sắp Xếp Kinh Sách Phật Giáo Một Cách Cung Kính Và Ngay Ngắn

2.5 Nơi Nào Có Kinh Phật, Nơi Đó Có Chư Phật

2.6 Không Cung Kính Với Kinh Phật Thì Vĩnh Viễn Không Bao Giờ Khai Ngộ

2.7 Nghe Pháp Với Tâm Nhẫn Nại Là Cách Nghe Pháp Chân Chính

2.8 Nên Chắp Tay Khi Gặp Pháp Sư

2.9 Nói Và Nghe Về Điều Đồn Đãi Tầm Phào (Thị Phi) Của Người Khác Chính Là Tham Sân Si

2.10 Phải Khắc Ghi Trong Tâm - Không Được Phá Hòa Hợp Tăng

2.11 Đúng Lúc Cần Nói Thì Nói, Không Đúng Lúc Cần Nói Thì Đừng Nói

2.12 Không Được Kiêu Mạn Đối Với Tam Bảo

2.13 Không Được Phỉ Báng Tam Bảo

2.14. Không Tùy Tiện Đưa Người Xuất Gia Ra Ngoài Chùa

2.15. Không Yêu Cầu Người Xuất Gia Xem Tướng, Đoán Mệnh

2.16 Cư Sĩ Nên Tôn Trọng Lẫn Nhau

2.17 Trong Việc Hộ Trì Và Tôn Kính Tam Bảo, Cần Giữ Thân Oai Nghi Nghiêm Chánh

2.18 Chúng Ta Phải Phát Tâm Chân Thật Vì Phật Giáo

Phần III: Quy Tắc Cúng Dường

3.1 Cúng Dường Tam Bảo Phải Được Thực Hiện Với Sự Khiêm Cung Và Thành Kính

3.2 Quy Tắc Cúng Dường Đức Phật Và Cách Bài Trí Các Phẩm Vật Cúng Dường

3.3 Nên Cúng Dường Khi Thỉnh Được Pháp Bảo

3.4 Phát tâm Cúng Dường Khi Trú Ngụ Trong Tu Viện

3.5 Không Được Có Tâm Phân Biệt Khi Cúng Dường Cho Người Xuất Gia

3.6 Không Được Thỉnh Riêng Một Vị Xuất Gia Thọ Nhận Cúng Dường 

3.7 Không Được Cúng Dường Cho Riêng Một Vị Xuất Gia

3.8 Trong Việc Cúng Dường Cho Người Xuất Gia, Không Được Có Tâm Tham

Phần IV: Thọ Trì Ngũ Giới

4.1 Cần Thiết Phải Có Chánh Tri Và Chánh Kiến

4.2 Người Phật Tử Phải Tuân Thủ Giới Luật Căn Bản Nhất - Ngũ Giới

4.3 Không Ăn Thịt Chính Là Cứu Thế Giới

4.4 Không Được Uống Rượu, Không Được Hút Thuốc, Và Không Được Dùng Những Chất Gây Say

4.5 Tầm Quan Trọng Của Việc Thọ Trì Ngũ Giới

4.6 Đừng Bỏ Lỡ Cơ Hội Thọ Ngũ Giới

4.7 Phải Hướng Về Người Xuất Gia Để Thỉnh Cầu Thọ Giới

4.8 Phải Chăng Không Thọ Giới Là Tự Do Chân Thật?

4.9 Tịnh Giới Là Gì?

Phần V: Xưng Hô Bản Thân Và Người Khác

5.1 Đừng Tự Xưng Là Cư Sĩ

5.2 Không Thể Chỉ Gọi Người Xuất Gia Bằng Pháp Danh

Phần VI: Nghiêm Ngặt Tu Hành Công Phu Mỗi Ngày

Phần VII: Mắt Chọn Pháp (Trạch Pháp Nhãn)

7.1 Chọn Lựa Và Đi Theo Con Đường Thiện, Sửa Đổi Những Điều Bất Thiện 

7.2 Nhận Rõ Đâu Là Chánh Pháp Và Đâu Là Tà Pháp

7.3 Người Phật Tử Chân Chánh Không Truy Cầu Danh Lợi

7.4 Không Có Mắt Chọn Pháp (Trạch Pháp Nhãn), Thì Không Thể Nhận Ra Ma Quỷ

Phần VIII: Người Phật Tử Phải Nên Gánh Vác Trách Nhiệm Của Mình

Phần IX: Châm Ngôn Tu Học Cần Ghi Nhớ Cho Phật Tử

Phụ Lục

1. Hư Vân Lão Hoà Thượng Ngữ Lục

2. Ấn Quang Đại Sư Ngữ Lục

3. Sơ Lược Tiểu Sử Hoà Thượng Tuyên Hoá

4. Giới Thiệu Sơ Lược Về Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới

5. Mười Tám Ðại Nguyện của Hòa Thượng Tuyên Hóa

6. Ghi Chú Của Ban Biên Tập

 

 

 

Lời tựa 1:

Thay Đổi Dòng Vận Mệnh - Bằng Cách Tuân Giữ Giới Luật

Hòa Thượng Tuyên Hóa, ngày 9, tháng 7, năm 1986


Hiện tại chính là thời kỳ Mạt Pháp; tuy vậy hàng Phật tử chúng ta nên nâng cao tinh thần, lập những chí nguyện kim cang bất hoại, chuyển biến thời Mạt Pháp thành thời Chánh Pháp, và làm một người Phật tử chân chính. Nếu chúng ta đều thật sự thành tâm làm Phật sự, chúng ta sẽ có thể chuyển thời Mạt Pháp thành thời Chánh Pháp. Tuy nhiên, nếu hàng Phật tử chúng ta không thật sự thành tâm và không hành trì Phật pháp một cách thực tế, thì thậm chí thời Chánh Pháp cũng sẽ trở thành thời Mạt Pháp.

Vì sao vậy? Đó là bởi lẽ nếu mọi người đều ngay thẳng, thì Pháp của họ cũng sẽ ngay thẳng. Nếu mọi người đều thiên lệch, thì Pháp của họ cũng sẽ là thiên lệch. Người thiên lệch, lầm lạc, tức là người không đi theo con đường ngay thẳng, không tuân giữ giới luật, và luôn luôn tìm kiếm kẽ hở trong giới luật. Tình huống này cũng giống như pháp luật là để duy trì sự an định của xã hội, nhưng có một số người cứ cố tìm kẽ hở trong luật pháp, chuyên làm những việc phạm pháp, như thế luật pháp cũng không tồn tại nữa, và làm cho thế giới cũng bị ảnh hưởng, trở nên càng ngày càng tồi tệ hơn.

Là đệ tử Phật, nếu chúng ta không thể phát tâm chân thật để vì Phật giáo mà làm việc chăm chỉ và thậm chí hy sanh chính mình, thì làm sao Phật giáo có thể được phát dương quảng đại? Muốn cho Phật giáo được phát dương quảng đại, chúng ta không phải là học chú, học thần thông, học Mật Tông, hay học các thứ kỳ quái khác như học “quỷ thượng thân” (để ma quỷ nhập thân), hay học vẽ bùa chú; mà quan trọng nhất là cần phải học các giới luật mà đức Phật đã để lại cho chúng ta.

Nếu chúng ta có thể tu hành đúng theo Phật pháp, thì Chánh pháp sẽ vẫn còn trên thế gian này; nếu không còn ai tuân giữ giới luật của đức Phật, thì đó chính là thời Mạt Pháp vậy. Tất cả đều do tâm tạo , và Pháp vốn ở trong tâm con người; vậy tại sao con người lại rơi vào thời Mạt Pháp? Đó là bởi người phạm giới thì nhiều và người giữ giới lại ít; người biết giới thì nhiều nhưng rất ít người hiểu được giới.

Kết quả là mọi người trở nên mê muội và hồ đồ. Quý vị nói họ hiểu [giới luật], nhưng họ lại chưa hoàn toàn hiểu rõ; quý vị nói họ không hiểu, nhưng họ lại vẫn biết hời hợt một phần nào. Mức hiểu biết của họ còn nông cạn, chẳng được thấu đáo.

Giới luật là gì? Giới luật là để “chỉ ác phòng phi,” ngăn ngừa chúng ta làm những việc ác hay việc sai trái; nó ngăn chặn, không cho tất cả các việc sai lầm và tội lỗi của chúng ta xảy ra. Nó có nghĩa là chúng ta không làm hết thảy các việc ác, thay vào đó, chỉ chuyên làm hết thảy các việc thiện.

Năm giới mà đức Phật dạy vô cùng quan trọng, tất cả chúng ta đều phải hiểu điều này. Hơn thế nữa, chúng đều có liên quan mật thiết đến hạnh phúc của chúng ta. Nếu tuân thủ các giới luật và không phóng túng hay giải đãi, thì tự tánh của chúng ta sẽ được gia tăng trí huệ. Tuân giữ giới luật có thể làm cho chúng ta phát sanh định, một khi có định thì chúng ta sẽ có được trí huệ. Nếu không tuân giữ giới luật, chúng ta sẽ không thể có định và không có định thì sẽ không phát được trí huệ.

Khi chúng ta chấp trì giới luật, thì như thể bầu trời quang đãng đến vạn dặm, không một áng mây đen. Nếu chúng ta không tuân thủ giới luật, lại sát sanh, trộm cắp, tà dâm, nói dối, và uống rượu, dùng chất kích thích, làm đủ chuyện nhiễu loạn, xằng bậy, thì mây đen sẽ xuất hiện .

Một khi mây đen xuất hiện, mây đen sẽ che lấp mặt trời, và quý vị sẽ không còn thấy ánh sáng nữa; không thấy ánh sáng, quý vị sẽ chìm đắm trong bóng tối âm u- bóng tối u ám này chính là ngu si và vô minh. Quý vị thậm chí mất cả thân người và cuối cùng đi vào bụng heo để trở thành heo, hoặc vào bụng bò để trở thành bò, hay vào bụng ngựa để trở thành ngựa. Đây đều là kết quả của thí nghiệm khoa học được thực hiện trong “nhà máy hóa học” của tự tánh con người.

Khi chấp trì giới luật, chúng ta đang thanh lọc tự tánh của mình; bóng tối che phủ tự tánh sẽ bị quét sạch. Tuy nhiên, nếu chúng ta không tuân giữ giới luật, tầng tầng lớp lớp mây đen sẽ hình thành đến bất tận. Nếu chúng ta không trì giới một ngày, thì mây đen sẽ sanh ra nhiều thêm một ngày. Không tuân giữ giới luật, sẽ có đám “mây đen” ô nhiễm nảy sanh ra che phủ trên tự tánh của mình. Không giữ giới luật, chúng ta không làm tổn hại người nào khác mà là mình đang “hại” chính tự tánh của bản thân mình. Vì vậy, chúng ta nên nghiêm giữ giới luật. Nếu quý vị có thể trì giới thì đó chính là mở ra thời Chánh Pháp, còn không giữ giới thì đem lại thời Mạt Pháp vậy.

 

Lời tựa 2:

Mỗi Lời Nói Ra Đều Chân Thật

Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Những bữa ăn chay ở Vạn Phật Thánh Thành đều rất đạm bạc và thông thường, và cách tiếp đãi cũng không được chu đáo. Tuy nhiên, cách chúng ta tu tập Phật pháp ở đây là cách đúng đắn nhất, chân thật nhất và thành tâm nhất. Hiện tại chúng ta đang cử hành bữa tiệc đại Pháp. Mọi người nên chú tâm nghe Pháp và mang nó (Pháp) về nhà để thực hành một cách thiết thực; bằng cách này, quý vị sẽ đạt được lợi ích vô cùng. Quý vị không nên vào được núi báu mà lại trở về tay không.

Các quy củ ở Vạn Phật Thánh Thành là những giáo điều căn bản mà tất cả nhân loại đều phải tuân theo; đó cũng là các chuẩn mực của tất cả chư Phật quá khứ, hiện tại, và vị lai .

Khi đến Vạn Phật Thánh Thành, nếu quý vị là rồng, quý vị phải cuộn mình lại, nếu quý vị là hổ, quý vị phải cúi mình xuống; nếu quý vị là thổ phỉ, thì trước hết, quý vị phải vứt bỏ súng và dao ở bên ngoài cổng Thành; nếu quý vị là kẻ trộm cắp, quý vị phải chặt bỏ “bàn tay” trộm cắp của mình; nếu quý vị nói lắm lời, quý vị phải “cắt bỏ cái lưỡi của mình.” Ý tôi là gì khi nói những điều này? Đây có nghĩa là bất luận là ai khi đến Vạn Phật Thánh Thành, thì quý vị đều không được phép KHÔNG tuân theo quy củ ở nơi này.

Bên ngoài [Vạn Phật Thánh Thành], quý vị quen làm bất cứ điều gì mình thích và không tuân theo các quy củ; điều này có thể tha thứ được. Tuy nhiên, một khi đến Vạn Phật Thánh Thành, quý vị cần phải tuyệt đối tuân thủ các quy củ của nơi đây; không được có chút lơ là hay cẩu thả. Tất cả quý vị cần phải tôn trọng nhân cách của bản thân mình. Quý vị tuyệt đối không nên trở thành “đồ phế thải” của nhân loại hay là “thứ cặn bã” trong Phật giáo.

Ở ngoài kia, không có ai thực sự nói với quý vị những lời chân thật. Tuy nhiên ở đây, mỗi lời nói ra đều là chân thật - trung thực và chính xác - giống như người thợ đá nện búa lên phiến đá vậy. Vì vậy mọi người cần ghi nhớ rằng: bất luận làm việc gì, quý vị không được nhiễu loạn người khác hay làm mất trật tự, gây tổn hại cho kẻ khác để làm lợi cho cá nhân mình; quý vị không được tham lam dù là những lợi nhỏ, hay lợi dụng kẻ khác, hay hy vọng thành công dựa theo cơ may. Thay vào đó, quý vị nên học cách chịu thua thiệt, cũng như thiết tha tuân giữ Sáu Tông Chỉ của Vạn Phật Thánh Thành: không tham, không tranh, không mong cầu (lợi ích vật chất), không tự tư, không tự lợi, và không nói dối.

Tại sao mọi người phải tuân theo những quy củ? Nếu chúng ta thậm chí không tuân theo những quy củ, thì chúng ta còn (mong) được lợi lạc gì khi lạy Phật? Làm sao chúng ta có thể xem mình là đệ tử của Phật? Làm sao chúng ta có thể được gặp chư Phật? Cho nên Vạn Phật Thánh Thành không phải là một sân chơi, một trung tâm giải trí, một nhà hàng lớn, hay một nơi chơi đùa của trẻ quý vị.

Vạn Phật Thánh Thành là một vùng đất thánh linh thiêng của Tam Bảo. Khi chúng ta đến nơi này, chúng ta lúc nào cũng nên thành tâm và tôn kính như là có sự hiện diện của chư Phật và chư thiên, hay như là chúng ta đang theo học với vị Thầy tâm linh vậy. Ở nơi này chúng ta phải thanh tịnh ba nghiệp; chỉ có như thế thì chúng ta mới có thể được cảm ứng của cả vạn đức Phật và Bồ Tát. Nếu chúng ta không chú ý đến những quy củ này, thì dù cho bổn thân của chư Phật hiện đến, các ngài cũng không tài nào giúp chúng ta thoát khỏi những khổ nạn và đạt được sự an lạc.

Bây giờ tôi sẽ nói cho quý vị những lời chân thật: Trong thế gian này, điều quan trọng nhất là phải là một người tốt, chỉ có làm người tốt, quý vị mới có thể thành Phật trong tương lai được. Phật là từ con người mà thành. Nếu thậm chí quý vị không thể là một con người tốt, thì làm sao quý vị có thể thành Phật được? Làm sao để trở thành một người tốt? Trước tiên, quý vị cần phải hiếu thuận với cha mẹ, rồi cần tôn kính với sư trưởng, và trung thành với quốc gia. Quý vị phải trưởng dưỡng lòng trung thành, hiếu thảo, cung kính, nhân từ, lễ nghĩa, công bằng, và liêm sỉ. Có người hỏi: “Pháp Sư, Ngài là người Trung Hoa, nên Ngài trung thành với nước Trung Hoa phải không?”

Nói thật với quý vị, từ lâu tôi đã sớm thoát ra khỏi quan niệm về quốc tịch, dân tộc, hay chủng tộc - Tôi là người lang thang mang tánh quốc tế, không trụ ở một nơi cố định nào cả. Tôi không muốn một quốc gia - Tôi thậm chí còn không muốn cả cái bản ngã nữa, chứ đừng nói gì đến quốc tịch. Tôi chỉ nguyện sẵn lòng cống hiến hết sức lực của mình cho lợi ích của toàn thế giới và để phục vụ tất cả tôn giáo của toàn nhân loại.

Trước kia khi ở Manchuria (Mãn châu, Đông bắc), tôi tự gọi mình là “hoạt tử nhân” (người đã chết nhưng còn sống). Thời gian đầu mới tới Hoa Kỳ vào năm 1962, tôi sống ẩn tu một vài năm và được gọi là “mộ trung tăng” (nhà Sư trong phần mộ). Sau đó vị “sư trong phần mộ” này ra khỏi mộ phần và cống hiến hết sức lực (Ghi chú: Theo cách nói khiêm tốn của Hòa Thượng Tuyên Hóa, Ngài nói Ngài dùng chút sức lực ít ỏi, nhỏ nhoi của mình) cho lợi ích của Phật giáo.

Bây giờ tôi tự gọi mình là “tiểu mã nghĩ” (con kiến nhỏ) hay “tiểu văn trùng” (con muỗi nhỏ) và ai ai cũng biết đây không phải là một cái tên tao nhã hay quý phái gì. Tôi muốn có thể “để tâm mình không dính mắc, chẳng bám vào đâu cả (ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm).” Tôi không cầu lợi ích cho bản thân mình, mà chỉ mong cầu phúc lợi cho mọi người.

Nếu muốn thành Phật, quý vị trước tiên phải hoàn thiện đạo làm người. Phật quả được viên thành bởi cá nhân mỗi người. Phật là trí huệ, ma là ngu si. Phật làm lợi ích cho con người, trong khi ma lại làm tổn hại cho loài người. Nếu mọi người có thể khắc ghi những lời này trong tâm, như vậy là đủ rồi. Tôi cảm thấy có lỗi khi quý vị đã tới đây mà thậm chí không có được một bữa ăn chay ngon miệng, ghế quý vị ngồi cũng chẳng được sang trọng; tệ hại hơn nữa là quý vị lại còn phải chịu nghe tôi la mắng. “Vị Pháp Sư này cả ngày cứ nói mãi về quy củ! Ở đây khổ quá.” Đúng vậy, quý vị nói đúng, quý vị đang phải chịu đựng sự hiện diện của tôi, nhưng nếu quý vị có thể chấp nhận Pháp mình vừa được nghe, thì quý vị đã không phải chịu đựng một cách vô ích vậy.

 

Lời Ban Biên Tập:

 

Đời Đường, Đại Sư Khuy Cơ soạn bộ Pháp Hoa Huyền Tán (Tán Thán Sự Huyền Diệu của Kinh Diệu Pháp Liên Hoa). Trong quyển mười có nói, “Những người tự chủ, giảm dục vọng, tích đức, và luôn luôn giữ việc tu Đạo được gọi là cư sĩ.”

Trong quyển ba của bộ từ điển Phật học nổi tiếng Tổ Đình Sự Uyển có nói, “Những người có bốn đức hạnh sau có thể được gọi là cư sĩ:

i. không mong cầu làm quan chức
ii. ít tham dục và tích đức,
iii. sở hữu tài sản và giàu có
iv. thường tuân giữ Đạo để tự mình giác ngộ.”

Tóm lại, “cư sĩ” là nói về những người tu hành Phật pháp tại gia, có đức hạnh, lấy Pháp làm tài sản quý báu, và lấy việc giữ Đạo là việc thiết yếu nhất. Từ ngữ “Cư sĩ” là từ ngữ tôn xưng, nói đến những người tu tập tại nhà.

Đạo là gì? Hòa Thượng thường nói, “Trong tiếng Trung Hoa, chữ Đạo 道 gồm hai phần: tẩu 走 (đi) và thủ 首 (đầu). ‘Đi’ nghĩa là đi trên con đường Đạo - đó là tu Đạo. Không tu hành, làm sao có thể đắc Đạo được? Chữ Trung Hoa thủ 首 có nghĩa là đầu hay trước nhất. Vì vậy, tu hành là việc quan trọng nhất; không tu hành, thì chẳng thể liễu thoát sanh tử được.

Đạo phải tu
Không tu, sao thành Đạo?
Đức phải tạo lập,
Không tạo lập, sao có đức?

Nói cách khác, tu Đạo là để liễu thoát sanh tử. Đạo không chỉ là những lời nói suông mà phải thật sự tu tập, Đức cũng như vậy. Vì vậy, trong cõi trần tục, người nỗ lực trừ bỏ những tập khí xấu, sửa đổi những lầm lỗi, đi ngược lại dòng sanh tử, và thiết tha mong vượt qua sanh tử được gọi là cư sĩ.

Hòa Thượng Tuyên Hóa từng dạy: “Đạo Khổng dạy rằng đạo đức là gốc rễ của con người, trong khi sự giàu có vật chất chỉ là ngọn cành.” Đức hạnh là nền tảng làm người, trong khi sự giàu có chỉ là thứ yếu ví như ngọn cành. Hành giả tu Đạo nên trân quý và bảo tồn phước báu của mình trọng mọi việc làm; họ không nên lãng phí tiền bạc hay tài sản. Hành trì theo cách này ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác thì trưởng dưỡng đức hạnh của mình, được như vậy thì cành lá mọc lên tươi tốt để sanh những chùm quả sum sê. Nếu không được bón phân hay siêng năng chăm sóc và tưới nước, cành lá và hoa quả của cây chắc sẽ khô héo và chết. Vì vậy, giới điều đầu tiên và quan trọng nhất của người tu Đạo là chú trọng tới đức hạnh của mình.”

Hòa Thượng Tuyên Hóa có nói, “Đạo đức là căn bản làm người.” Đức hạnh là tư lương cho việc tu hành của chúng ta; không có đức hạnh, chúng ta sẽ không thể kiên trì, tiến xa trên con đường tu tập, do đó, chúng ta nên tích góp thêm nhiều đức hạnh.

Hòa Thượng Tuyên Hóa cũng nói rằng: “Để tu đức, hành giả cần bắt đầu từ những việc nhỏ. 'Đừng nghĩ việc thiện vì nhỏ mà không làm', quý vị không nên không làm việc việc thiện nhỏ vì xem đó là việc nhỏ, đừng chờ đợi các việc thiện lớn rồi mới làm, bởi lẽ không có nhiều việc thiện lớn. Một ngọn núi được hình thành từ sự tích lũy của nhiều hạt bụi nhỏ riêng lẻ. Mỗi hạt bụi tuy nhỏ bé, nhưng nhiều hạt bụi tích tụ lại có thể tạo thành một ngọn núi. Cũng như vậy, mỗi một đức hạnh tuy nhỏ, nhưng nếu tích lũy nhiều đức hạnh lại, chúng có thể tạo nên một ngọn núi đức hạnh. Không đi ngược lại đạo đức chính là đức hạnh. Không chướng ngại người khác, gọi là có đức hạnh. Trong mọi việc quý vị làm, quý vị nên coi việc giúp đỡ người khác như là bổn phận của mình. Nếu quý vị chướng ngại người khác về lợi ích, về thời gian, văn hóa, trí tuệ hay bất cứ khía cạnh nào khác, gây trở ngại cho người khác, tức là quý vị đang có hành động đi ngược lại đạo đức. Vì vậy, chúng ta trong mọi hành động cừ chỉ, trong mọi từ ngữ, mọi việc làm, chúng ta nên luôn luôn coi việc 'không đi ngược với đạo đức' như quy tắc căn bản của chúng ta. Nếu quý vị muốn tu Đạo, trước tiên quý vị phải nuôi dưỡng đạo đức. Không có đức hạnh, quý vị sẽ không thể tu Đạo."

Từ ngữ “cư sĩ” là một từ ngữ mà ai ai cũng quen thuộc, nhưng có rất ít người hiểu được ý nghĩa của từ ngữ “cư sĩ”, chưa nói đến hiểu được cách làm thế nào để trở thành một người cư sĩ tại gia chân chính. Cũng theo cách như vậy, trong tiếng Trung Hoa, từ ngữ “tiên sanh" (quý ông) trở thành một đại danh từ để chỉ cho người nam trong xã hội, từ ngữ “cư sĩ” gần như đã trở thành một cái tên khác cho hàng Phật tử tại gia.

Để giúp những người tại gia trở thành những người tu tập Phật pháp chân chánh theo chánh pháp, ban biên tập [của Hội Phiên Dịch Kinh Sách Phật Giáo] đã trích ra từ những bài khai thị của Hòa Thượng được thuyết giảng qua nhiều năm những phần có liên quan đến phẩm hạnh oai nghi căn bản của người cư sĩ và xuất bản thành quyển sách “Quy Tắc Căn Bản Cho Cư Sĩ”. Hy vọng rằng, quyển sách này có thể “khai sáng mắt mù và khai thông tai điếc" - để chuyển tánh nghe và tánh thấy trở về nẻo chánh và chỉnh sửa tri kiến thành đoan chánh- và giúp tạo dựng một nền tảng vững chắc cho việc tu tập.

Nhóm Biên Tập cẩn trọng kết tập.

 

 

Phần I: Để Tu Học Phật Pháp, Trước Tiên Nên Học Các Quy Củ Căn Bản Về Lễ Độ


 
Những người tu học Phật pháp trước tiên học các quy củ về lễ độ; những kẻ không hiểu về các quy củ lễ độ này sẽ không thể học Phật pháp. Thường thấy chúng ta học đi học lại Phật pháp mà vẫn còn giữ tập khí kiêu ngạo tự phụ, vẫn còn loại tư tưởng là chỉ một mình tôi là đáng tôn quý nhất. Tôi tài giỏi hơn bất cứ ai khác. Không ai có thể vượt qua được tôi. Từ sáng đến tối, chúng ta quá dính mắc vào cái bản ngã của mình! Thời gian trôi qua, ngày này sang ngày khác, chúng ta không nghĩ tới là tu hành thì cần phải từ bi và khiêm hạ, cung kính với tất cả mọi người.

“Từ bi” có nghĩa là chúng ta nên có tâm từ bi với mọi người. “Khiêm hạ” nghĩa là không kiêu ngạo tự phụ, không chấp trước vào mình, không chấp trước vào người, không chấp trước vào chúng sanh, không chấp trước vào thọ mạng. Chỉ đến khi các chấp trước này đều phá trừ hết thì mới có thể thật sự hành Bồ Tát Đạo, là đi trên con đường Bồ Tát.

Trong Kinh Pháp Hoa, chúng ta nghe nói về Bồ Tát Thường Bất Khinh. Ngài là khuôn mẫu lý tưởng nhất cho việc tu hành. Ngài như thế nào? Khi thấy bất cứ chúng sanh nào, Ngài liền lập tức đảnh lễ chúng sanh đó, và trong tâm nghĩ rằng, “Tôi không dám khinh quý vị vì trong tương lai quý vị sẽ thành Phật.” Vì trong tương lai tất cả quý vị sẽ thành Phật, nên Ngài không dám có chút ý nghĩ khinh thường quý vị.

Thêm nữa, Ngài với tinh thần là tất cả người nam đều đã từng là cha ta, và tất cả gười nữ đã từng là mẹ ta, nên ngài đảnh lễ họ dễ dàng, chế phục được tánh kiêu ngạo tự phụ và các chấp trước, không chấp trước là mình giỏi hơn người khác hay những người khác không giỏi bằng mình. Ngài thấy tất cả chúng sanh đều là những vị Phật tương lai, và đem tâm lượng đó để hành Đạo. Nhưng sau khi tu tập một thời gian, thì nghịch cảnh phát sanh và gặp ma chướng.

Loại ma chướng gì vậy? Ngài gặp một kẻ không biết lý lẽ trong nhóm ngoại đạo. Kẻ ngoại đạo này nói rằng: “Ông đã cho tôi lời dự đoán sai lầm, lời đoán đó không đúng!” Rồi kẻ đó quát mắng Bồ Tát Thường Bất Khinh, nhưng Bồ Tát Thường Bất Khinh không sợ mà còn tiếp tục lạy người đó. Khi thấy có thể ức hiếp Bồ Tát Thường Bất Khinh, kẻ ngoại đạo này bắt đầu đánh và đá Ngài. Sau khi bị đánh đập đau đớn như vậy, Bồ Tát Thường Bất Khinh không lễ lạy ngay trước mặt mọi người nữa. Ngài lạy khi đứng còn cách xa họ một trăm bước. Khi đảnh lễ ai đó từ xa, Ngài sẽ nói, “Tôi không dám khinh thường quý vị, bởi một ngày trong tương lai, quý vị sẽ thành Phật.” Nhưng ngay sau khi đảnh lễ và quán tưởng xong, Ngài liền đứng dậy và chạy đi. Tại sao vậy? Ngài sợ rằng nếu cứ ở quanh đó thì Ngài sẽ lại bị đuổi đánh lần nữa. Do vậy, tu hành Bồ Tát Đạo thì gian nan khốn khổ như vậy.

Chúng ta tu hành Bồ Tát Đạo, tôi không nghĩ bất cứ ai trong số chúng ta có thể tu theo hạnh của Bồ Tát Thường Bất Khinh. Chúng ta có thể cố gằng tu theo cách này nhưng ngay khi có ai đó nói lời nào khó nghe đôi chút, chúng ta sẽ không thể chịu đựng nổi, chưa nói đền trường hợp là nếu có ai đó đến đánh chúng ta. Nếu có ai chỉ nói với chúng ta một điều khó chịu thôi, chúng ta sẽ cảm thấy thật tồi tệ. Đây là chỗ khác biệt lớn giữa việc tu hành của phàm phu chúng ta và của thánh nhân.


 

 

Phần II: Cung Kính và Hộ Trì Tam Bảo



2.1 Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di nghĩa là gì?

Ưu Bà Tắc là từ ngữ tiếng Phạn, được dịch là “cận sự nam", nghĩa là người nam ở gần để cúng dường phụng sự Tam Bảo; Ưu Bà Di cũng là từ ngữ tiếng Phạn, dịch là “cận sự nữ", có nghĩa là người nữ ở gần để cúng dường phụng sự Tam Bảo. Cả hai danh từ này đều là nói đến những người thường luôn thân cận Tam Bảo để lễ Phật, nghe Pháp, và nghe giảng Kinh. Họ là những người nam và người nữ gần gũi với Tam Bảo.

“Cận” là thân cận nói đến việc đến gần, và “sự” là phụng sự nói đến việc cống hiến phục vụ Tam Bảo, như là cúng dường Tam Bảo và dọn dẹp trụ xứ của Tam Bảo. Do đó, những thiện nam tín nữ làm những công việc cúng dường, công đức cho Tam Bảo này thì được gọi là “Ưu Bà Tắc” và “Ưu Bà Di.”



2.2 Phát Bồ Đề Tâm và Tinh Tấn Tiến Lên

Hãy suy nghĩ về điều này: Từ vô lượng kiếp đến nay, chúng ta chưa có chút thành tựu hay cống hiến nào cho Phật giáo. Do vậy, chúng ta nên khởi tâm đại hổ thẹn, hộ trì Phật giáo, và cúng dường Tam Bảo. Quý vị nói muốn phát Bồ Đề tâm nhưng vẫn còn chưa phát; như vậy, quý vị sẽ vĩnh viễn không bao giờ có được Bồ Đề tâm. Chỉ khi phát Bồ Đề tâm, quý vị mới có thể từng chút từng chút đi đến thành tựu trong Đạo như có câu nói rằng: “Núi Thái Sơn không khước từ một hại bụi nhỏ bởi lẽ những hạt bụi nhỏ ấy tích tụ làm thành núi lớn.”

“Ví như tạo một ngọn núi, và dừng lại trước giỏ đất cuối cùng, ngọn núi ấy sẽ không bao giờ được hoàn thành; sự dừng lại này là quý vị tự dừng lại. Điều này cũng giống như việc tạo một ngọn núi từ mặt đất bằng phẳng, mỗi giỏ đất thêm vào là một sự tiến bộ. Sự tiến bộ này chính là quý vị tự tiến lên."

Giống như chúng ta muốn tạo một ngọn núi, và chúng ta chỉ thiếu một giỏ đất. Nếu chúng ta không thêm giỏ đất cuối cùng này vào, thì không giống ngọn núi, và nó sẽ không thành ngọn núi. Do đó nói rằng: “Ví như tạo một ngọn núi, và dừng lại trước giỏ đất cuối cùng". Quý vị chưa hoàn thành mục tiêu của quý vị. Chỉ cần thêm giỏ đất cuối cùng nhưng quý vị chưa thêm vào. Điều này cũng có nghĩa là quý vị tự dừng trước khi hoàn thành. Do đó nói rằng:"Sự dừng lại này là quý vị tự dừng lại."

"Điều này cũng giống như việc tạo một ngọn núi từ mặt đất bằng phẳng, mỗi giỏ đất thêm vào là một sự tiến bộ." Giống như quý vị muốn tạo một ngọn núi từ mặt đất bằng phẳng. Khi quý vị thêm vào một giỏ đất, chiều cao núi sẽ xây được cao lên thêm một giỏ đất. "Sự tiến bộ này chính là quý vị tự tiến lên." Nếu tôi muốn tạo một ngọn núi, thì chỉ khi tôi nỗ lực làm thì mới hoàn thành công việc tạo núi. Ví dụ này nói lên cùng đạo lý.



2.3 Những Người Tin Phật Cần Nên Đảnh Lễ Đức Phật

“Lễ kính chư Phật” - Kính nghĩa là nghiêm túc tuân thủ quy củ, mỗi hành động và việc làm của quý vị đều phải hợp với lễ; đây là lòng cung kính. Nếu không tuân theo các quy tắc về lễ, thì đó là bất kính. Ví như, nếu quý vị tôn trọng ai đó, thì quý vị nên theo quy củ khi ở trước mặt người đó, nếu là người không biết cung kíngh, quý vị sẽ chỉ trở nên phóng túng và bất cẩn, và tùy tiện làm bất cứ điều gì mình muốn.

Chúng ta tin Phật thì phải nên lễ Phật, đến Phật còn không lễ bái thì nói gì đến chuyện tin? Cho nên chúng ta nhất định phải lễ bái tượng Phật. Có người nói: “Tượng Phật chẳng qua là một khúc gỗ tạc, chúng ta bái tượng gỗ ấy có lợi ích gì?” Tượng Phật gỗ đích thực không phải là Phật, quý vị không nên nhận lầm. Phật có mặt ở khắp mọi nơi, không có nơi nào mà Pháp thân của Ngài không hiện hữu. Tượng gỗ chẳng qua chỉ là một biểu tượng tượng trưng cho Phật mà thôi. Giống như mỗi nước đều có quốc kỳ, và mọi người đều hướng về quốc kỳ hành lễ rất kính cẩn. Quốc kỳ chỉ là một tấm vải hay da làm thành, thế quý vị hướng về lá cờ kính lễ có tác dụng gì? Quốc kỳ là đại diện cho sanh mệnh của quốc gia, vì thế người dân hướng về quốc kỳ kính lễ chính là bày tỏ lòng cung kính đối với đất nước của mình. Tượng Phật cũng vậy, chẳng qua là tượng trưng cho Phật mà thôi, chứ không hề nói tượng Phật ấy chính là Phật. Thế thì tại sao chúng ta phải đối trước tượng Phật lễ bái? Phật hiện hữu khắp nơi, thế chúng ta có cần phải xoay bốn phương tám hướng để lễ chăng? Đó cũng không đúng. Lễ kính phải có chỗ hướng về nương tựa, phải có chỗ hướng về nương tựa thì phải có một mục tiêu để đại biểu. Giống như một nước có rất nhiều tỉnh, nếu quí vị phải hướng đến quốc kỳ ở mỗi tỉnh, mỗi huyện để kính lễ thì làm sao đến kịp? Vì thế chỉ hướng lên một lá quốc kỳ để kính lễ cũng đã đủ. Chúng ta hướng về Phật để kính lễ, ý nghĩa cũng giống như thế."



2.4 Nên Sắp Xếp Kinh Sách Phật Giáo Một Cách Cung Kính Và Ngay Ngắn

Sau khi quy y Tam Bảo, quý vị phải luôn có lòng tôn kính Tam Bảo, bởi lẽ “Nhất thiết duy tâm tạo (mọi thứ được sanh ra từ tâm).” Nếu tâm của quý vị thường luôn tôn kính Tam Bảo, lâu dần quý vị sẽ tự nhiên hòa làm một cùng với Tam Bảo, thành Phật Bảo, Pháp Bảo, và Tăng Bảo.

Sau khi quy y, chúng ta phải cung kính lễ bài mỗi khi nhìn thấy hình hay tượng Phật. Kinh sách Phật pháp nên đặt bên trên các sách vở thế tục, và đặt ở những nơi tôn kính. Tốt nhất là xếp các kinh Phật gọn gàng ngay ngắn, các kinh sách nên được giữ ở những nơi sạch sẽ, không nên cạnh cầu thang lầu nơi mọi người thường qua lại. Chúng ta phải luôn luôn tôn kính Phật, Pháp, Tăng, và Giới luật, và không được khởi tâm kiêu ngạo hay khinh mạn.

Mỗi khi đọc kinh, chúng ta nên đặt sách trên bàn, nếu chúng ta đặt sách lên đùi để đọc thì thứ nhất điều này cho thấy chúng ta không có lòng tôn kính đối với kinh Phật, chỉ riêng điều này thôi đã có nghĩa là chúng ta không cung kính Tam Bảo. Thứ hai, kinh điển nên đặt kinh lên bàn để đọc, nhờ vậy khi đọc kinh không cần phải cúi đầu khòm xuống, nhưng nếu chúng ta để kinh sách trên đùi và gục đầu xuống để đọc thì trông thật khó nhìn. Bên cạnh việc không tôn trọng Pháp, cúi đầu xuống thấp cũng làm chúng ta dễ buồn ngủ. Trong quá khứ, chúng ta không có nhiều bàn như bây giờ, do đó không có cách nào khác cả nên phải tùy theo hoàn cảnh. Ngày nay chúng ta đã có đầy đủ bàn rồi, chúng ta nên đặt kinh lên trên bàn để đọc.



2.5 Nơi Nào Có Kinh Phật, Nơi Đó Có Chư Phật

Chúng ta cần phải chú ý là bất cứ nơi nào có kinh điển Phật thì chúng ta cần phải tôn kính. Trong kinh Kim Cang có nói, “Bất cứ nơi nào có kinh điển, nơi đó có chư Phật.” Bất cứ nơi nào có kinh Phật, nơi đó có sự hiện diện của chư Phật; kinh là trụ xứ của Pháp Thân chư Phật. Vì vậy, chúng ta nên thể hiện lòng cung kính đối với kinh điển, và đặt kinh sách ở những nơi ngăn nắp và sạch sẽ. Không nên đặt kinh sách ở những nơi có hành vi ô uế.

Kinh Phật phải được đặt lên trên các sách vở cổ điển hay thế tục khác. Nếu không như vậy thì chúng ta không có lòng cung kính. Cũng như vậy, ở chỗ ngủ, chúng ta phải để kinh phía đầu, chứ không phải ở phía chân. Để phía chân cũng là một hành vi thiếu cung kính. Chúng ta nên đặc biệt lưu tâm rằng giường ngủ là nơi bất tịnh nhất; vì vậy chúng ta không nên đặt kinh sách trên giường. Chúng ta phải có lòng tôn trọng và kính ngưỡng đối với các sách như kinh Phật hay các sách Phật pháp khác. Chúng ta nên tôn kính kinh Phật như cung kính chư Phật. Nếu chúng ta không cung kính kinh điển, thì chúng ta cũng không cung kính chư Phật, và đó cũng là phỉ báng Tam Bảo.



2.6 Không Cung Kính Với Kinh Phật Thì Vĩnh Viễn Không Bao Giờ Khai Ngộ

Nếu không cung kính kinh Phật thì quý vị sẽ không bao giờ khai ngộ và không bao giờ có chỗ chứng đắc. Tại sao vậy? Bởi vì đối với Kinh Phật mà không cung kính thì đối với Phật cũng không cung kính. Vậy tại sao mọi người nên cung kính Tam Bảo, và đảnh lễ mỗi khi gặp người xuất gia? Đó là vì đây là tiêu chuẩn quy tắc được đức Phật đặt ra. Bởi đây là lời đức Phật dạy, không ai có thể tùy tiện nói rằng: "Tôi muốn thay đổi tiêu chuẩn quy tắc của đức Phật.” Quý vị có phải là Phật không? Nếu quý vị không phải là Phật, thì quý vị có tư cách gì để thay đổi những tiêu chuẩn quy tắc do Phật đặt ra?

Do đó, đối với mỗi quyển kinh điển, chúng ta đều phải cung kính, đều phải bảo hộ, và không bao giờ để ở nơi không tôn kính. Ví dụ mang quyển kinh vào nhà vệ sanh để đọc, rồi sau đó bỏ trên sàn nhà. Đây là việc làm tồi tệ và bất kính nhất đối với kinh điển, và không được làm như vậy! Dù cho là người rất chăm chỉ học kinh, quý vị cũng không được đem Kinh vào nhà vệ sanh để đọc, tụng, hay học thuộc kinh - nếu đem Kinh vào nhà vệ sanh, thì quý vị đang thực sự đi ngược lại những lời dạy trong kinh.

Bất luận bộ kinh nào, chúng ta cũng phải luôn luôn bảo hộ cẩn thận, giữ cho chúng toàn vẹn. Chúng ta không được chia tách, phân tán hay đổi chỗ một quyển kinh hay lấy một quyển ra khỏi bộ kinh và đem đi chỗ khác. Tất cả kinh điển đều có “quyến thuộc” của mình và sự toàn vẹn của bộ kinh phải được bảo tồn từ câu mở đầu “Tôi nghe như vầy (Như thị ngã văn)” cho đến đoạn cuối thường nói “Đại chúng vui mừng tin nhận, đảnh lễ và lui ra.” Đó là một bộ Kinh đầy đủ và không được thiếu sót quyển nào.



2.7 Nghe Pháp Với Tâm Nhẫn Nại Là Cách Nghe Pháp Chân Chính

Khi học Phật pháp, trước tiên chúng ta phải kiên nhẫn; kiên nhẫn có nghĩa là "nhẫn thọ" - chịu khó và đón nhận. Chỉ sau khi chúng ta có thể nhẫn chịu thì mới có thể đón nhận; "Thọ - đón nhận" có nghĩa là chúng ta có thể thu được lợi ích (thọ dụng). Khi nghe các bài giảng Phật Pháp, chúng ta không nên bồn chồn cũng không nên ngủ gục. Thay vào đó, chúng ta nên chú tâm lắng nghe. Nếu ai đó giảng hay, quý vị lắng nghe; nếu ai đó giảng không hay, quý vị vẫn lắng nghe. Bài giảng hay hoặc không hay đều lắng nghe. Bằng cách này, quý vị luyện tập kiên nhẫn đối với Pháp. Khi kiên nhẫn được, quý vị mới có thể đạt được lợi ích thực sự từ Pháp. Nếu không thể kiên nhẫn được, thì không thể tiếp nhận được; ngay cả người giảng hay, quý vị nghe cũng như gió thoảng qua tai. Vì sao? Vì quý vị không có kiện nhận để tiếp nhận Pháp. Kiên nhẫn chính là lắng nghe chăm chú. Khi bài giảng phù hợp với Pháp, chúng ta nên giữ những giáo lý này vào “phòng chứa” của chúng ta - trong bộ não hay tâm của chúng ta - ghi nhớ cho kỹ.

Nếu quý vị có thể làm như thế, có tâm nhẫn nại nghe giảng Pháp, đó chính là thực sự nghe Pháp. Khi chúng ta lắng nghe, chúng ta biết người đó giảng hay hoặc không hay, giảng đúng hay không đúng. Tuy nhiên, chúng ta không nên cố gắng dùng tâm phân biệt, chỉ biết là đủ rồi. Theo cách này huân tu lâu dài, trong kho báu bên trong của quý vị sẽ có vô lượng Pháp Bảo.


2.8 Nên Chắp Tay Khi Gặp Pháp Sư

Từ nay trở đi, quý vị là những cư sĩ nên chắp tay lại khi gặp một vị Pháp Sư dù cho họ đến từ đâu. Nếu vị Pháp sư chắp tay chào quý vị, hãy bạch với vị Pháp sư rằng: “Chúng con không xứng đáng được quý ngài chào như thế! Ngài là một vị Pháp sư, không nên chắp tay khi gặp người tại gia”. Quý vị nên nhắc nhở họ về chuyện này cho rõ ràng, nếu không thì chúng ta sẽ giống như ở Trung Hoa, người ta hoàn toàn không tuân theo quy củ này. Nơi đó, một số người xuất gia khi gặp người tại gia đã chắp tay trước rồi. Ngay cả trước khi người tại gia chắp tay thì các vị ấy đã chắp tay rồi và gần như sắp cúi mình đảnh lễ Phật tử. Cách cư xử này không phù hợp với Pháp. Chúng ta ở tại Hoa Kỳ và đạo Phật chỉ mới bắt đầu; vì vậy, chúng ta nên sửa đổi thói quen xấu đó.

Trong tương lai, khi thấy người xuất gia chắp tay hướng về quý vị, tất cả quý vị thuộc hàng Phật tử nên chắp tay và cúi lạy, quỳ xuống và bạch rằng, "Con chỉ là cư sĩ; con không xứng đáng được quý ngài chắp tay xá chào. Chúng con cần phải tôn kính Tam Bảo; chúng con không mong muốn Tam bảo tôn kính chúng con. ” Quý vị nên bạch rõ ràng với các ngài như thế.



2.9 Nói Và Nghe Về Điều Đồn Đãi Tầm Phào (Thị Phi)
Của Người Khác Chính Là Tham Sân Si

Con người chúng ta tạo nghiệp là từ thân, khẩu, và ý. Khi thân nghiệp không thanh tịnh, chúng ta dễ dàng gây tạo nghiệp chướng, khi khẩu nghiệp không thanh tịnh, chúng ta dễ dàng gây tạo nghiệp chướng, khi ý nghiệp không thanh tịnh, chúng ta cũng dễ dàng gây tạo nghiệp chướng. Về thân nghiệp, chúng ta rất dễ phạm phải ba tội sát sanh, trộm cắp, và tà dâm. Ba loại tội này đều do thân thể tạo thành.

Về ý niệm, chúng ta phạm tội là do tham, sân, và si. Con người chúng ta thường bàn luận và nghe về điều đúng sai của kẻ khác, hay tham gia vào những bàn luận các vấn đề đúng sai - tất cả những hành vi này đều dựa trên lòng tham, sân và si. Có câu nói rằng, “Tại nơi bàn chuyện đúng sai, tuyệt đối không nên tới gần.” Khi người khác đang bàn chuyện đúng sai, thì đừng đến gần. “Khi người khác nói chuyện tà vạy, đừng nên hỏi." Khi người khác nói chuyện đồn đãi tầm phào (thị phi), đừng nên hỏi: "Có điều gì đang diễn ra ở đây vậy?” “Bạn vừa mới nói gì vậy?” Khi hỏi những điều này, chúng ta đang tạo khẩu nghiệp bất tịnh, bởi “khi miệng mở ra thì thần khí phân tán, khi lưỡi động thì sanh ra thị phi.”

Trời đất ban cho ta thân thể và tánh linh này, do vậy chúng ta đến thế gian này để làm những việc thiện, không phải để làm những điều trái luật hay không thuận theo Pháp. Chúng ta là người học Phật, mỗi chúng ta nên quay ánh sáng trở lại phản chiếu chính bản thân mình (hồi quang phản chiếu): “Tôi đang làm gì mỗi ngày? Tôi có đang tranh danh đoạt lợi trong Phật giáo không? Tôi có đang tranh giành để trở thành số một, để nổi tiếng, để có quyền lực, hay để đoạt lợi ích vật chất không? Tôi có phải như vậy không?” Nếu làm những việc đó, chúng ta không xứng được gọi là đệ tử của đức Phật. Một người đệ tử chân chính nên tự khiêm nhường, chúng ta không nên tranh với ai, không có chút tâm tham, không mong cầu, không ích kỷ, cũng không tự lợi, và không nói dối. Chúng ta cần thực hành cho được Sáu Đại Tông Chỉ này, thì mới xứng đáng là những đệ tử chân chính của Phật Giáo. Lúc đó là ý nghiệp thanh tịnh.

Có bốn loại khẩu nghiệp ác: ỷ ngữ (nói lời thêu dệt), vọng ngôn (nói dối), ác khẩu (nói lời độc ác), và lưỡng thiệt (nói lưỡi hai chiều). Nói lời thêu dệt là một loại tập khí xấu rất dễ phạm phải, có người chuyên gây chia rẽ giữa mọi người, chuyên tạo ra thị phi, đúng sai; có người chuyên nói lời hại Phật giáo, làm cho kẻ khác không tôn phục đệ tử Phật - họ nói “Nhìn kìa, anh kia đã học Phật pháp nhiều năm rồi; nhưng nhìn vào thái độ của anh ta! Anh ta quá là hống hách và cảm thấy như thể không ai sánh bằng mình! Anh ta học thứ Phật pháp gì vậy?” Làm cho người khác mất lòng tôn phục.

Chúng ta ngày ngày học Phật pháp. Nếu chúng ta không chăm chỉ nỗ lực sửa đổi nó, thì chúng ta sẽ làm cho Phật giáo đi xuống. Chúng ta nên “chịu châm cứu đau, chịu uống thuốc đắng để trị bệnh”, chịu đau đớn sửa đổi để nhanh chóng trị các bệnh kiêu ngạo, đố kỵ, chướng ngại của mình, không trừ các bệnh này, thì sẽ là chường ngại to lớn trong tu hành Phật pháp, không thể ra khỏi Ba Cõi (Tam Giới). Do vậy, chúng ta nên hết sức cẩn thận với ba nghiệp thân, khẩu, ý.

Nói dối là tội mà ai ai cũng dễ phạm phải; chúng ta nói dối hay nói những lời sai trái không ý thức. Ác khẩu (nói lời hung dữ độc ác) là mắng nhiếc hay nguyền rủa người khác bằng những từ ngữ thô lỗ bẩn thỉu. Những lời thô lỗ nhất, độc ác nhất đều thốt ra. Do vậy nó được gọi là ác khẩu hay miệng ác độc.

Lưỡng thiệt giống như người có hai mặt. Với anh A thì anh ta nói chuyện đồn đãi tầm phào (thị phi) của anh B; với anh B thì anh lại nói về những chuyện đồn đãi tầm phào của anh A. Như thế anh ta gây bất hòa giữa anh A và anh B đến độ họ kỵ nhau như nước với lửa, không hòa hợp với nhau được. Đó là cách anh ta tạo ra sự mâu thuẫn trong khi anh ta thì “ngồi trên núi xem hai con cọp đánh nhau; hay tựa trên cầu xem nước chảy bên dưới.” Bằng cách xem "con trai và con cò đánh nhau, ngư ông được lợi.” Đó chính là suy nghĩ của những người nói lời lưỡng thiệt. Vì vậy, người tu hành chúng ta nên thanh tịnh trừ bỏ những tập khí này, thì thân được thanh tịnh, khẩu được thanh tịnh và ý cũng được thanh tịnh.

 

2.10 Phải Khắc Ghi Trong Tâm - Không Được Phá Hòa Hợp Tăng


Chúng ta là con ngưởi phải nhớ rằng bằng mọi giá không được phép phạm tội lưỡng thiệt (nói lưỡi hai chiều) hay ác khẩu (nói lời hung ác). Lưỡng thiệt nghĩa là gì? Với người này, quý vị thể hiện một mặt này, nhưng với người khác, quý vị lại diễn một bộ mặt khác. Với A, quý vị nói B không dúng và nói B tồi tệ như thế nào, nhưng với B, quý vị lại nói A dở tệ ra sao. Tất cả những việc này là tội lưỡng thiệt và ác khẩu. Bằng cách gieo xuống hạt giống xích mích, các vị đang phá hủy sự hòa hợp trong đoàn thể tổ chức, làm chia rẽ giải tán cộng đồng. Về tội lưỡng thiệt và ác khẩu, điều quan trọng nhất là không được phá sự hòa hợp trong Tăng chúng.

Hòa hợp trong Tăng chúng nghĩa à gì? Người xuất gia - bất luận là Tỳ kheo hay Sa di - thì đều đã thọ nhận giới Tỳ kheo hay giới Sa di; do vậy người tại gia các vị không được nói chuyện thị phi về tội lỗi của người xuất gia. Chính là từ họ (Tỳ kheo và Sa di) mà các vị được học Phật pháp. Các vị không nên đầu tiên thì học Phật pháp với họ rồi sau đó lại phá hủy Phật pháp. Vì vậy không nên gây sự bất hòa trong tăng chúng. Việc gây sự bất hòa trong tăng chúng là phạm cả tội lưỡng thiệt và ác khẩu. Đây gọi là “Phá hòa hợp Tăng.”

 

2.11 Đúng Lúc Cần Nói Thì Nói, Không Đúng Lúc Cần Nói Thì Đừng Nói

Tôi vừa mới hỏi tất cả các vị về tình hình của một đệ tử. Tôi không rõ quý vị có nghe hay không nghe. Tôi không biết là quý vị buồn ngủ hay là quý vị bị điếc. Nhiều người ở đây nhưng không một ai trả lời câu hỏi của tôi. Quý vị hãy suy nghĩ đi. Điều đó có đúng không? Khi tôi đưa ra một câu hỏi cho tất cả các vị, tôi muốn xem ý kiến của các vị về vấn đề đó như thế nào. Tuy nhiên, tất cả các vị chỉ giữ im lặng không nói lời nào. Nếu đây là cách các vị học Phật pháp, thì các vị sẽ không bao giờ gặt hái được thành quả.

Tại sao vậy? Các vị thậm chí còn không chú ý đến Phật pháp, và cũng không để tâm đến câu hỏi. Lúc cần nói thì các vị không nói. lúc không cần nói thì quý vị lại nói. Đây là biểu hiện thái độ và hành vi bất kính nhất đối với Thầy mình. Những gì tôi nói quý vị xem như gió thoảng qua tai. Nghe thấy cũng giống như chưa từng nghe thấy gì cả, chỉ cho nó thoảng qua. Học Phật pháp kiểu này, các vị sẽ không bao giờ khai ngộ, các vị sẽ không bao giờ liễu giải. Đó cũng là bởi các vị không “muốn” hiểu - Cho dù là bất cứ điều gì, các vị cũng không thật sự nghiên cứu.

Tôi không hỏi quý vị các câu hỏi để quý vị chọn nói những điều thuận tai tôi nhất. Thay vào đó, tôi muốn nghe những lời chân thật về quan điểm của quý vị. Vì quý vị đều biết ăn cơm, đều biết mặc quần áo, đều biết ngủ nghỉ – đều là những người biết suy nghĩ. Là người có suy nghĩ thì khi sự việc xảy ra vấn đề, nên suy nghĩ và tìm hiểu xem chuyện đó là như thế nào! Quý vị đã không nói, lại cam tâm làm người câm, thì bây giờ tôi sẽ nói cho quý vị biết. Nhưng hành vi như vậy của quý vị là tệ hại nhất, đối với Pháp thì không có chút thành tâm nào để lắng nghe Pháp.

Khổng Tử tửng nói: “Ta sẽ không dạy trừ khi kẻ không hiều đó thiết tha cầu hiểu, Ta sẽ không dạy trừ khi kẻ học tự mình bày tỏ điều khó diễn bày hiểu biết của mình”, nếu quý vị tự mình không nghiêm túc xem trọng Phật pháp, không muốn hiểu rõ, vậy thì nghe Pháp rồi có ích gì? Vì vậy từ nay về sau khi hỏi vấn đề, bất luận ai nếu có cảm xúc gì, thì phải mau chóng nói ra. Không thể trong lúc tôi đang hỏi vấn đề, mà quý vị lại ngồi đó nhập thiền, nhập định, điều này là không đúng. Hôm nay tôi nói với quý vị, nếu có người muốn ngăn cản người khác, không cho người khác nói, thì lại càng sai lầm, là phạm nhân quả không thể tưởng tượng nổi. Có người nói ra, mà quý vị không vui khi người ta nói ra, điều này lại càng sai, quả báo về sau là không thể nghĩ bàn.

 

2.12 Không Được Kiêu Mạn Đối Bới Tam Bảo

Trong Phật giáo, người tại gia phải kính trọng hàng xuất gia. Người tại gia không nên tỏ thái độ kiêu mạn hay khinh thường đối với Tăng Ni, lại càng không nên phê bình, chỉ trích họ. Người tại gia nên phát tâm cúng dường và tán thán hàng xuất gia, nhờ đó tránh tạo nghiệp kiêu mạn. Nếu người tại gia khởi tâm ngạo mạn, khinh miệt, thì sẽ không được phước đức gì, ngược lại còn tạo tội nghiệp. Theo luật Nhân Quả, những người như vậy nhất định sẽ đọa vào ba đường ác.

 

2.13 Không Được Phỉ Báng Tam Bảo

Phỉ báng Tam Bảo là gì? Là đệ tử Phật, chúng ta phải luôn cẩn trọng, không được phạm vào tội phỉ báng Tam Bảo — tức là nói ra những lời như: “Phật Giáo là không tốt, Phật Pháp là sai lầm, Tăng chúng toàn là kẻ xấu.”

Một trong các giới Bồ Tát có dạy: “Không được nói lỗi của Tứ chúng.” Tứ chúng gồm: Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, Ưu-bà-tắc, Ưu-bà-di. Những ai thọ trì giới Bồ Tát không được nói lỗi của Tỳ-kheo hay Tỳ-kheo-ni. Dù Ưu-bà-tắc hay Ưu-bà-di có lỗi, cũng không nên nói lỗi của họ — đó chính là không nói lỗi Tứ chúng. Không những bản thân không được nói lỗi của Tứ chúng, mà khi người khác nói, mình cũng không nên hùa theo, bình phẩm hay phụ họa. Tốt nhất nên xem như không nghe thấy, nếu không thì cũng là đồng phạm, rơi vào tội phỉ báng Tam Bảo và Tứ chúng. Cách tốt nhất là "niêm khẩu" – giữ im lặng.

Hơn nữa, phàm phu như chúng ta thường có tà kiến và tri kiến sai lệch. Cảnh giới của bậc Thánh không phải là điều người phàm có thể đo lường được. Một vị Bồ Tát Sơ Địa còn không biết được cảnh giới của vị Bồ Tát Nhị Địa; một vị Bồ Tát Thập Địa cũng không biết được cảnh giới của vị Bồ Tát Đẳng Giác. Tương tự, một vị A-la-hán Sơ Quả cũng không hiểu được cảnh giới của vị A-la-hán Nhị Quả.

Trước khi chứng được trí tuệ chân thật, tuyệt đối không được khởi tâm phỉ báng Tam Bảo, cũng không được nói lỗi của Tứ chúng. Dù người khác thật sự có lỗi, cũng không nên nói lỗi họ. Vì sao? Vì biết người khác có lỗi, thì nên quay về tự sửa mình, tự làm điều thiện là đủ rồi. Đó mới là đúng pháp. Chớ nên làm như chiếc máy ảnh, chỉ biết chụp hình người khác mà quên chụp lại chính mình.

 

2.14. Không Tùy Tiện Đưa Người Xuất Gia Ra Ngoài Chùa

Mỗi vị xuất gia, dù Tăng hay Ni, đều phải tuân theo thời khóa chung của đại chúng. Nếu không phải việc Phật sự của đạo tràng, thì không được tự ý sắp đặt việc riêng, kể cả ra khỏi chùa. Trước đây có một người phụ nữ thường viện đủ lý do để đến Vạn Phật Thánh Thành, cô ta dùng thủ đoạn tìm cách thân cận với chư Ni và cư sĩ nữ, rồi sau đó thường lén lút đưa họ ra ngoài mua sắm mà không hề xin phép Văn Phòng Trị Sự.

Từ nay trở đi, bất kỳ cư sĩ tại gia nào muốn đưa người xuất gia hay chúng cư trú ra khỏi Vạn Phật Thánh Thành đều phải được sự đồng ý của Văn Phòng Trị Sự. Nếu vi phạm, cả người lái xe lẫn người ngồi trong xe đều sẽ bị mời rời khỏi Vạn Phật Thánh Thành. Những ai sống không theo quy củ như vậy sẽ không được phép ở lại đây.

Cư sĩ tại gia chớ nên ngồi tụ tập cả ngày bàn chuyện thị phi, nói người này, nói việc kia. Hành vi ấy cũng trái với thanh quy của Vạn Phật Thánh Thành. Nếu phát hiện có người nữ như vậy, thì người ấy sẽ không được phép cư trú tại đây. Những ai ở đây mà còn lén lút chở người ra ngoài mua sắm cũng đều phạm vào quy củ. Bất kỳ ai có những hành vi như vậy, đều không được phép ở lại Vạn Phật Thánh Thành.


 

2.15. Không Yêu Cầu Người Xuất Gia Xem Tướng, Đoán Mệnh

Có người đến quy y với tôi. Sau khi quy y, ông ta liền muốn tôi giúp ông phát tài, Ông ta hứa rằng khi giàu có rồi, nhất định sẽ xây dựng một bệnh viện Phật giáo. Chính vì thế mà ông ta đến quy y tôi.

Sau khi quy y, ông ta liền thỉnh tôi xem tướng và đoán vận mệnh cho mình. Tôi bảo: “Nếu tướng mạo của ông có tướng phú quý nhưng tâm địa không tốt thì vẫn chẳng thể phát tài được. Trái lại, nếu tướng mạo của ông không có số phú quý, nhưng tâm ông thiện lành, ông vẫn có thể phú quý và mọi việc đều tốt đẹp. Vậy nên, xem tướng là hư vọng, chớ nên tin vào đó.”

Thế nhưng ông ta vẫn không thôi, cứ cố thuyết phục tôi xem vận mệnh cho ông. Ông nói rằng ông đã đọc trong một quyển sách nên biết tôi thông hiểu y học, bói toán, thiên văn, địa lý; từng học qua y lý, hiểu rõ tướng pháp và thuật đoán mệnh, nên mới yêu cầu tôi xem vận mệnh cho ông. Ông ta còn nhiều lần viết thư đến yêu cầu tôi xem vận mệnh cho ông.

Tôi đáp: “Giấy ông đưa, tôi đã làm mất, không biết ở đâu rồi.”

Ông ta nói: “Vậy con sẽ viết tờ khác.” Thế là ông ta lại viết thêm một lần nữa để yêu cầu tôi.

Tôi nói: “Bây giờ tôi bận, không có thì giờ.”

Ông đáp: ““Không sao, con có thể chờ.”

Một tháng sau, ông ta lại hỏi nữa.

Tôi hỏi: “Xem cái gì?” Ông nói: “Xem số mạng của con.”

Tôi bảo: “Có lẽ người dọn rác đã gom đốt hết rồi.”

Thế mà ông ta vẫn không hiểu, lại tiếp tục viết thêm nữa.


Ông ta chắc đã viết cho tôi năm, sáu lần như thế, nhưng tôi tuyệt nhiên không xem, vì người xuất gia không được làm chuyện xem số mạng đó. Chỉ có những kẻ giang hồ, chuyên hành nghề xem bói mới làm việc ấy.
Người chân chánh tu đạo không làm những chuyện như vậy.

Đến khi ông ta sắp đi New York, lại đến thỉnh cầu tôi đoán mệnh một lần nữa. Lần này, tôi không còn khách khí nữa mà nói thẳng: "Ông đã quy y với tôi, nay tôi muốn dạy ông bài học này. Khi ông đến New York, ở đó có nhiều Tăng, Ni. Nếu ông gặp họ, tôi cấm ông xin họ xem tướng hay đoán số. Nếu ông có tướng chó, thì dù làm cách nào cũng không biến thành tướng cọp. Nếu đã là tướng cọp, thì cũng chẳng thể đổi thành tướng chó. Sao ông lại chấp trước vào việc xem mệnh đến như vậy? Nếu số mạng ông vốn nghèo, mà tôi có nói ông sẽ giàu, thì ông cũng chẳng thể phát tài được; còn nếu số mạng ông vốn giàu sang, thì dù tôi không nói, ông vẫn sẽ tự nhiên được phú quý. Vậy thì việc gì phải đi cầu người xuất gia xem vận mệnh cho mình? Làm như thế là xúc phạm đến chư Tăng Ni, là thất lễ với người tu hành. Ông quả thật là người không biết phép tắc. Xem tướng, đoán mệnh là việc của hạng giang hồ, người cân chánh tu đạo, không làm những việc như vậy.” Sau lần đó, ông ta không yêu cầu tôi xem vận mệnh nữa.

 

2.16 Cư Sĩ Nên Tôn Trọng Lẫn Nhau

Bắt đầu từ hôm nay, mỗi người cư sĩ cũng như tất cả quý vị cư sĩ nên tôn trọng lẫn nhau. Nếu chúng ta có thể đối đãi với mọi người bằng tâm bình đẳng và từ bi, thì tất cả đều là cùng chung một thể giống nhau. Do đó, tối thiểu chúng ta cũng nên tôn trọng lẫn nhau.

Chớ nên nói lỗi của người, mà hãy nhìn vào ưu điểm của họ. Chúng ta cần mở rộng tầm nhìn rộng lớn hơn. Đối với những ai hiện chưa có nhiều ưu điểm, thì chúng ta nên từ từ khuyến khích họ dần dần tu tập hướng về điều tốt.

Đó là điều mà tôi kỳ vọng đối với mỗi người.

 

2.17 Trong Việc Hộ Trì Và Tôn Kính Tam Bảo, Cần Giữ Thân Oai Nghi Nghiêm Chánh

Người học Phật chúng ta phải chú trọng đến từng chi tiết nhỏ nhặt trong đời sống hằng ngày. Không nên ăn mặc lập dị hay biểu hiện dáng vẻ “bốn tướng dạng chẳng giống ai”. Giữ thân oai nghi nghiêm chánh chính là thực hành bốn oai nghi của người tu.

Oai nghi chánh hạnh là hành trì đúng theo Pháp và quy củ. Mỗi cử chỉ, mỗi hành động đều có tướng oai đức.

Khi đi, đứng, nằm, ngồi, hoặc khi ra vào, đi tới, đi lui — tất cả đều phải thuận hợp với Pháp và quy củ.

Có câu rằng: “Đi như gió, đứng như tùng, ngồi như chuông, nằm như cung.”

Khi đi, nên như làn gió nhẹ — êm đềm, không khuấy bụi, không động lá, bước chân đoan chánh, vững vàng. Chớ nên đi lắc lư như múa, hay bước cao, bước mạnh lên xuống như sóng biển dập dềnh.

Khi ngồi, phải vững vàng như đại hồng chung — an định bất động, chớ như quả lắc chuông, đong đưa không dừng.

Khi đứng, hãy đứng thẳng như cây tùng, thân ngay, đầu thẳng, không khom lưng, cong người, không nương dựa vào vật gì.

Khi nằm, cũng không nên buông lung hay tùy tiện.

Khi chắp tay, nên đặt hai bàn tay ngay trước ngực, không chắp tay che miệng, che mũi hay che mắt.

Người tu học Phật pháp cần tuân theo oai nghi trong lời nói và hành động, ngôn hạnh phải hợp quy củ.

Lời nói của người học đạo phải xứng đáng với ân đức của thiện tri thức và bạn hiền, không được buông lời thô tục, phóng dật hay khinh suất. Mỗi lời nói ra đều nên hòa nhã, ôn tồn, thuận hợp lòng người; chớ nên nói lời ác độc, lời tự cao, ngã mạn.

Khi nói đến Tam Bảo, phải giữ thân tướng đoan nghiêm, chỉnh tề và trang trọng; chỉ như thế thì thiện căn của chúng ta mới có thể thuần thục.

Nếu không giữ được nghi dung đoan chánh, oai nghi tề chỉnh, thì căn lành khó thuần thục, cũng không thể thoát khỏi vòng sanh tử luân hồi để chứng quả Phật trong đời vị lai.

 

2.18 Chúng Ta Phải Phát Tâm Chân Thật Vì Phật Giáo

Chúng ta cần nên phát khởi tâm Bồ-đề chân thật vì Phật Giáo, chứ không thể làm qua loa, hình thức. Thí dụ, khi tôi đến Washington D.C., tôi thấy rằng Hội Phật Giáo nơi ấy chỉ là một đạo tràng nhỏ, trong khi tư gia của vị một vị cư sĩ trong hội thì vô cùng rộng lớn, lộng lẫy, và diện tích gấp bốn lần đạo tràng.

Từ đó tôi biết, ông ta không thật tâm vì Phật pháp, mà chỉ mượn danh Phật pháp để quảng cáo cầu lợi cho bản thân mà thôi. Nếu thật sự vì đạo, vì Phật Giáo, thì sao lại có thể để ngôi đạo tràng thì chật hẹp, nhỏ bé, còn chính mình thì ở trong một dinh thự nguy nga mà chỉ có hai người cư ngụ? Nếu thật tâm vì Phât Giáo, lẽ ra ông ta phải đem tài sản của mình xây dựng đạo tràng. Làm sao có thể an lòng ở trong ngôi nhà to lớn ấy, trong khi đạo tràng lại chật chội như vậy? (Hòa Thượng thở dài...) Tôi thật không khỏi cảm thấy đau lòng. Người tôi đang nói đến là ai? Là Hội Trưởng của Hội Phật giáo ấy. (Trong tiếng Trung Hoa, chữ “會長” – hội trưởng – có hai ý nghĩa tùy theo cách đọc: “會” còn có nghĩa là “hiểu”, “長” còn có nghĩa là trưởng thành, phát triển). Tôi nghĩ ông ấy thật sự chưa hiểu thế nào là “Hội trưởng”. Ông không hiểu biết làm sao để khiến cho Hội Phật giáo phát triển và hưng thịnh. Nếu ông hiểu, thì làm sao lại để Hội Phật Giáo nhỏ bé đến thế, còn bản thân lại ở trong dinh thự còn lớn hơn cả chỗ ngự của Phật?

Cho nên, khi hộ trì đạo tràng, chúng ta phải phát tâm chân thật. Là đệ tử Phật, chúng ta có bổn phận làm cho Phật pháp được trường tồn, hưng thịnh. Mỗi người đều nên tận tâm tận lực, đóng góp phần công sức của mình cho Phật giáo. Cũng như ta vì gia đình mà tận tụy hết lòng, thì đối với Phật giáo, dù không thể dốc hết tám phần mười công sức cho Phật giáo, ít nhất cũng nên phát tâm góp hai phần mười công sức làm Phật sự. Một vài người hộ trì Tam Bảo nói rằng: “Con làm bao nhiêu việc tốt cho Tam Bảo, sao vẫn không được Tam Bảo gia hộ, ban phước?” Khi làm việc thiện mà lại mong cầu Tam Bảo ban phước, chẳng phải đó là tâm tham, tâm mong cầu hay sao? Khi làm việc lành, ta nên xem đó là bổn phận của người Phật Tử, chứ không nên cầu mong điều gì đáp lại.

Vì vậy, nay tôi nói cho quý vị nghe một đạo lý chân thật: Nếu tâm của quý vị không chân thành, thì làm sao chư Phật có thể hộ trì quý vị? Nhưng ngay cả khi quý vị có tâm chân thành đi nữa, cũng chưa chắc chư Phật sẽ liền cảm động mà đến gia hộ. Vì sao? Bởi nếu Phật dễ dàng bị cảm động như thế, thì hóa ra các Ngài cũng có lòng tham, cũng nhận “hối lộ” của quý vị sao? Có một số vị pháp sư nói: “Mỗi khi tôi gặp khó khăn, tôi liền lễ bái Bồ Tát Vi Đà, thì mọi việc liền thuận lợi, cát tường.” Tôi nghĩ, có lẽ quý vị không thật sự đang lễ bái Bồ Tát Vi Đà, mà e rằng đang lễ bái một thiên ma hoặc ngoại đạo nào đó! Nếu Bồ Tát Vi Đà thật sự cần đợi đến khi quý vị lạy rồi mới đến hộ trì, thì đó đâu còn là Bồ Tát Vi Đà nữa? Đã là vị Bồ Tát hộ pháp, thì nếu cần hộ trí quý vị thì Ngài sẽ hộ trì quý vị dù cho quý vị có lễ lạy Ngài hay không. Cho nên, trong Phật giáo, chư Phật và đặc biệt là các vị Bồ Tát hộ pháp vốn không cần “phong bì đỏ”. Không phải là quý vị cúng tôi phong bì đỏ thì tôi sẽ giúp, còn không đưa tôi phong bì đỏ thì tôi mặc kệ!

 


 

 

 

Phần III: Quy Tắc Cúng Dường

 

3.1 Cúng Dường Tam Bảo Phải Được Thực Hiện Với Sự Khiêm Cung Và Thành Kính

Nếu quý vị muốn cúng dường Tam Bảo, quý vị phải làm điều này với sự khiêm cung và thành kính bằng cách trước tiên là đảnh lễ Tam Bảo ba lần. Nếu quý vị muốn cúng dường phong bì đỏ, quý vị phải quỳ gối, chắp hai lòng bàn tay lại với nhau, và nâng phong bì đỏ bằng cả hai tay đưa lên cao hơn đầu mình. Đó là cách để quý vị cúng dường Tam Bảo. quý vị không nên chỉ dùng một tay để dâng phong bì đỏ. Trong quá khứ, tôi đã thấy một số người cúng dường theo cách này; nó trông như bắn ra một mũi tên, thật nhanh. Tại sao người ta lại làm như thế? Đó là bởi vì người ta không hiểu được phương pháp đúng đắn để cúng dường.

 

3.2 Quy Tắc Cúng Dường Đức Phật Và Cách Bài Trí Các Phẩm Vật Cúng Dường

Không được ăn trước khi thức ăn đã được dâng cúng lên Đức Phật và Tăng Đoàn. Do đó khi ăn tại chùa, người cư sĩ phải chờ cho thức ăn đã được dâng cúng lên Đức Phật và chờ cho những vị xuất gia đã thọ dụng xong phần của các vị ấy trước khi bản thân người cư sĩ có thể ăn. Quý vị không được phép ăn trước khi các vị Tăng Ni ăn. Ăn trước Tăng Ni là không được cho phép. Quy tắc này không chỉ áp dụng cho việc cúng dường Phật, mà còn áp dụng khi cúng dường Pháp và Tăng. Do vậy, khi chúng ta ở trong tu viện, bất kể chúng ta chuẩn bị món gì, chúng ta nhất thiết phải dâng cúng những thực phẩm đó lên Đức Phật trước tiên. Điều này đặc biệt quan trọng vào ngày Lễ Phật Đản Sanh, ngày đó chúng ta nên chuẩn bị nhiều món chay ngon hơn để dâng lên Đức Phật; và chỉ sau khi đã cúng dường hoàn tất, chúng ta mới có thể ăn.

Trong việc cúng dường cho Đức Phật, thông lệ ở Trung Hoa từ trước đến nay là dâng cúng ba chén đồ ăn - cơm và rau cải - trước các tượng Phật. Những món ăn này phải được đặt ở phía trước, ngay chính giữa, đúng vị trí, gọn gàng, và với lối trình bày đẹp mắt; phẩm vật cúng dường không phải chỉ sắp bày ra mà không sắp xếp cẩn thận. Điều này không chỉ áp dụng cho cúng dường món ăn, mà còn cho cả cúng dường trái cây.

Ngoài những vật phẩm cúng dường, không được đặt vật phẩm nào khác ở phía trước các tượng Phật. Đó là cách thể hiện sự khiêm cung và tôn kính. Nếu quý vị chỉ đơn giản đặt mọi thứ lên bàn thờ, điều đó là bất kính với Đức Phật. Tại sao? Ví dụ như, nếu quý vị đặt mọi thứ một cách bừa bộn trước mặt người nào đó, người đó sẽ không vui. Điều này có thể không làm phiền những người cẩu thả như chó và heo, nhưng những người gọn gàng và ngăn nắp sẽ thấy khó chịu nếu mọi thứ được đặt một cách bừa bộn trước mặt họ. Nếu đối với người gọn gàng và ngăn nắp còn như vậy, thì huống gì đối với Đức Phật, là người thuần khiết nhất và gọn gàng nhất. Đặt vật phẩm cúng dường một cách bừa bộn là sai. Bàn thờ chỉ dành cho các vật phẩm như các món ăn và trái cây để cúng dường - những thứ không liên quan thì không được bày ở đó.

Ngoài việc dâng cúng ba chén thức ăn lên Phật, quý vị cũng có thể dâng cúng năm, hoặc bảy, hoặc chín, hoặc thậm chí rất nhiều chén thức ăn. Điều này đặc biệt đúng với các vật phẩm cúng dường của chư thiên dâng lên cho Đức Phật, khi các bàn được bày ra đầy đủ với những chén đầy ắp các món chay. Mỗi món được bài trí gọn gàng trước Đức Phật.

Không được có trường hợp là một phẩm vật thật lớn hoặc thậm chí những cái bánh quy được bày lên bàn mà chưa mở bao bì đóng gói ra. Làm như vậy không phải là cúng dường Đức Phật, mà đó là xúc phạm Đức Phật. Khi vật phẩm nào đó được dâng cúng lên Đức Phật, bao gói phải được bỏ ra; đừng để bất kỳ thứ gì còn nguyên bao gói. Chúng ta phải chú tâm đến những vấn đề như vậy.

Trong việc cúng dường lên Đức Phật, điều rất khiếm nhã là chỉ để đồ ăn lên bàn thờ mà không bỏ đi bao gói. Điều này giống như khi quý vị đưa thức ăn cho ai đó, quý vị không thể chỉ đơn giản để đồ ăn xuống và nói: “Hãy tới và ăn nè!” Người ta sẽ không ăn. Ở Trung Hoa, có câu nói: “Người quân tử không ăn thức ăn được đưa cho trong sự khinh miệt.” Nếu thức ăn được đưa cho một người ăn xin và chúng ta nói với sự khinh miệt, “Hãy, ăn đi!” người đó sẽ không ăn thức ăn này. Đây là ý nghĩa của câu “Người quân tử không ăn thức ăn được đưa cho trong sự khinh miệt.

Đó là trường hợp đối với một con người, thì còn đến dường nào nữa khi cúng dường đến Đức Phật! Tôi đã thường hay thấy thức ăn được bày lên bàn thờ mà trong đó những phẩm vật dâng cúng chưa được mở bao bì ra, nhưng tôi đã không có nhiều thời gian để nói về những việc này. Bay giờ thì Phật Giáo đã đến Phương Tây, quý vị phải lưu ý những nghi thức hoặc những cách tiến hành các nghi lễ. Với việc cúng dường thức ăn, những chén thức ăn phải được bài trí cho đúng, chứ không phải để một cách bừa bãi. Điều này cũng tương tự đối với cúng dường trái cây hoặc bông hoa. Ví dụ, nếu bình hoa không được đặt đối xứng, hoặc đặt ở nơi nó không nên được đặt, nhìn sẽ không đẹp và không cân đối. Tất cả mọi thứ đều có quy tắc . Có người sẽ nói, “Quá nhiều quy tắc và quy định! Làm sao mà chúng ta có thể áp dụng cho hết được những điều này?” Nếu quý vị không thể áp dụng được những điều này, quý vị sẽ không có khả năng tu hành. Tu hành có nghĩa là ở mọi lúc mọi nơi, mọi việc quý vị làm phải phù hợp với Pháp (như Pháp) và tuân thủ các quy tắc.

Nói về việc cung kính cúng dường, tôi nhớ lại lễ “Truyền Cúng” năm ngoái. Mọi người quỳ gối, cầm những chén hoặc dĩa thức ăn chay và truyền trao chúng từ người này đến người khác bên cạnh cho đến khi tất cả phẩm vật được đặt lên trước Phật. Đó là cách mà đại chúng trong tu viện thành tâm và cẩn trọng dâng cúng nhiều món ăn chay lên cho Đức Phật - có hàng mấy mươi hoặc thậm chí hàng trăm món ăn khác nhau. Rất nhiều phẩm vật cúng dường được đặt trong những chiếc dĩa hình vuông. Có người thì cúng dường tràng hạt, và có người thì cúng dường quần áo; nói chung là bất kể cái gì cũng có thể được dâng cúng miễn là chúng còn mới và trong tình trạng tốt. Chúng ta không được dâng cúng những thứ mà chúng ta không muốn hoặc những thứ đã ôi thiu hoặc hư hỏng. Ví dụ, có người này đã cúng dường lên Tam Bảo; anh ta mua một ít lá rau mùi, rồi giữ lại những lá tươi và non cho bản thân mình còn cúng dường cho tôi những lá già và cứng. Đó là cách anh ta đã cúng dường và việc đó chẳng có chút công đức nào cả! Do đó, khi cúng dường món ăn chay lên cho Phật và Tăng Đoàn, chúng ta phải tận tuỵ, chu đáo, và đặc biệt chú trọng trong lúc chuẩn bị chúng.

Tôi thường không có thời gian để nói về các quy tắc cúng dường Đức Phật, cho nên quý vị đã cúng dường một cách cẩu thả. Về cơ bản thì điều này tùy thuộc vào quý vị có trí tuệ hay là ngu si. Nếu quý vị là người có trí tuệ, quý vị sẽ không cần phải được dạy bảo; chẳng có ai dạy cho tôi nhưng ngay lúc tôi nhìn thấy, tôi biết phải làm gì. Đối với một người ngu si thì dù quý vị dạy cho anh ta, anh ta cũng không thể nhớ. Một người có trí tuệ hay không đều được hiển lộ rõ ràng trong mọi vấn đề, mọi lúc và mọi nơi.

 

3.3 Nên Cúng Dường Khi Thỉnh Được Pháp Bảo

Người Trung Hoa đặc biệt được bảo hộ bởi Đức Phật; họ thường đeo hình tượng Phật, tin rằng điều này sẽ chuyển hoạ thành phúc, biến hung hoá cát. Khi quý vị đeo một hình tượng Phật, Đức Phật sẽ bảo vệ quý vị bất kể quý vị là ai. Tuy nhiên, khi quý vị thỉnh một hình tượng Phật, quý vị nên phát tâm cúng dường và làm một số việc công quả. Đó là lý do tại sao tôi đã luôn nói với quý vị là khi thỉnh một hình tượng Phật, bất kể chi phí cho hình tượng Phật đó nhiều hay ít, quý vị vẫn nên cúng dường Tam Bảo. Thực tế thì quý vị nên cúng dường Tam Bảo ngay cả khi quý vị không thỉnh hình tượng Đức Phật.

Từ nay trở đi, khi quý vị thỉnh Kinh điển, sách Phật Giáo, hình tượng Đức Phật hoặc bất cứ phẩm vật Phật Giáo nào từ Đạo Tràng, quý vị nên phát tâm cúng dường. Đừng nghĩ rằng chỉ vì quý vị không cần phải chi trả, là quý vị sẽ có được một món rẻ. Điều này sẽ chẳng mang lại lợi ích nào cho quý vị cả. Không có tâm cúng dường, quý vị sẽ chẳng có được bất kỳ công đức nào cả. Do đó, quý vị nên luôn luôn phát tâm cúng dường.

 

3.4 Phát tâm Cúng Dường Khi Trú Ngụ Trong Tu Viện

Những người đã quy y Tam Bảo nên biết rằng bất cứ khi nào quý vị đến hoặc ở trong một Đạo Tràng hay chùa chiền, quý vị đừng nghĩ rằng quý vị đang được một phần lợi chỉ vì quý vị không cần phải chi trả. Là người cư sĩ, quý vị nên phát tâm cúng dường Tam Bảo bất kể Đạo Tràng nào mà quý vị đến. Quý vị nên cúng dường Tam Bảo thay vì để Tam Bảo cúng dường quý vị. Bằng không thì những kiếp sau của quý vị sẽ càng trở nên khổ sở hơn.

Tại sao lại có người giàu sang và cao quý? Đó là bởi vì họ có được phước báo từ việc cúng dường Tam Bảo. Tại sao những người khác lại nghèo khổ? Vì họ đã không cúng dường Tam Bảo, và vì thế nên họ ngày càng nghèo khổ hơn trong những kiếp sống tiếp theo. Những ai đã từng quy y tôi nên phát tâm cúng dường Tam Bảo bất kể Đạo Tràng nào mà quý vị đến viếng thăm trong tương lai.

 

3.5 Không Được Có Tâm Phân Biệt Khi Cúng Dường Cho Người Xuất Gia

Tại sao người cư sĩ tại gia nên cúng dường cho người xuất gia và hộ pháp cho người xuất gia? Bởi vì người xuất gia được xem như là người chuyên tâm tu hành. Họ không có nhiều vọng tưởng, phiền não, và đố kỵ như người thế gian. Nếu người xuất gia có thể được như vậy, thì họ sẽ xứng đáng với sự tôn trọng và cúng dường từ người cư sĩ. Nếu như họ không tu hành tinh tấn, và thậm chí họ không thành tâm tu hành bằng người cư sĩ, thì họ không xứng đáng với sự tôn trọng hoặc cúng dường của người cư sĩ. Người xuất gia phải hiểu sâu xa điều này, và đừng "lừa dối mắt cá là ngọc trai”, thọ dụng thức ăn và chẳng cống hiến gì cho Phật Giáo.

Khi cúng dường cho người xuất gia, người cư sĩ không được có tâm phân biệt hoặc chọn lựa, nghĩ rằng cúng dường cho vị Pháp Sư này đã đắc công phu tu hành và không cúng dường cho vị Pháp Sư kia chưa đạt thành tựu tu hành. Chúng ta không được có kiểu thái độ không chánh đáng như vậy. Bất kể ở đâu, chúng ta cũng phải luôn cúng dường cho Tam Bảo; đừng nhìn vào lỗi nơi Tam Bảo, như kiểu “bới lông tìm vết”. Nếu chúng ta luôn nhìn vào lỗi nơi Tam Bảo, thì đó là do sự cống cao ngã mạn của chúng ta đang tác quái; thì làm sao mà chúng ta còn nói đến chuyện hộ pháp cho Tam Bảo nữa?

 

3.6 Không Được Thỉnh Riêng Một Vị Xuất Gia Thọ Nhận Cúng Dường 

Kinh Lăng Nghiêm có đề cập đến việc Tôn Giả A Nan nhận thọ thỉnh riêng và dọc đường đã gặp con gái của bà Ma Đăng Già. Bà Ma Đăng Già đã dùng chú Tiên Phạm Thiên để dẫn dụ Ngài A Nan đến phòng của con gái bà ở trong lầu xanh. Sau đó Phật đã thuyết ra Chú Lăng Nghiêm và lệnh cho Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi đến giải cứu Ngài A Nan bằng thần chú này.

Đó là do Ngài A Nan đã thọ nhận thỉnh riêng mà mang đến cớ sự nguy hiểm như vậy. Sau này, Ngài đã không nhận bất kỳ lời mời thỉnh riêng nào nữa. Thỉnh riêng nghĩa là gì? Đó là khi một thành viên trong nhóm Tăng Đoàn đi riêng một mình để nhận cúng dường từ một người hộ Pháp hoặc một người cư sĩ; đi riêng một mình để nhận cúng dường thì được gọi là “thọ thỉnh riêng”. Trong các giới luật do Phật đặt ra, các tỳ kheo không được phép thọ thỉnh riêng. Ví dụ, giả sử như có mười vị tỳ kheo. Một người cư sĩ có thể thích một vị tỳ kheo riêng biệt trong số đó, có nhân duyên với vị đó, và chỉ thỉnh mời duy nhất vị đó đến thọ thực. Vị tỳ kheo này không được phép chấp nhận lời mời như vậy. Việc thọ thỉnh đó được cho phép nếu như cả mười vị tỳ kheo đều đi cùng nhau; một vị tỳ kheo không thể đi riêng một mình. Tôn Giả A Nan trong quá khứ đã nhận thọ thỉnh riêng, và nhận ra sai lầm của mình, rồi không bao giờ thọ nhận bất kỳ lời mời thỉnh riêng nào nữa; điều này biểu thị cảnh giới bất khả tư nghì của Tôn Giả A Nan.

 

3.7 Không Được Cúng Dường Cho Riêng Một Vị Xuất Gia

Tại Đài Loan, việc cúng dường đang trở nên thịnh hành. Có một vị Pháp Sư nọ mà mọi người đều tranh nhau đến cúng dường. Mọi người liên tục cúng dường hết lần này đến lần khác, tới mức mà vị này sau cùng đã hoàn tục rồi rốt cuộc sẽ vào địa ngục! Điều này đặc biệt đúng với việc cúng dường cho một vị xuất gia trẻ. Vị sư trẻ này chưa từng thấy quá nhiều tiền như vậy; ngay khi vị ấy thấy được nhiều tiền, vị này rốt cuộc đã hoàn tục - tất cả đều là do mọi người đã cúng dường cho vị đó! Nếu quý vị không cúng dường như vậy cho vị đó, vị đó sẽ không dám hoàn tục. Do đó, việc này không được xem như là cúng dường Tam Bảo. Những ai cúng dường theo kiểu này không hiểu được cách làm sao để cúng dường Tam Bảo.

Khi người cư sĩ với tà tri và tà kiến nhìn thấy một vị sư được mọi người xưng tán hoặc có ngoại hình ưa nhìn, họ sẽ cuồng si mà cúng dường cho vị ấy. Họ bị cuốn vào việc cúng dường cho vị đó mà rốt cuộc thì tất cả đều vào địa ngục!

Hãy nhìn xem, tất cả chúng sanh đều có đầy đủ linh tánh và đều có thể dễ dàng độ. Chỉ duy nhất loài người là có kiểu bản tánh ngu si ngoan cố. Bất kể quý vị cố gắng như thế nào để dạy họ điều tốt, họ sẽ không học; tuy nhiên, khi quý vị dạy họ đừng xấu ác, họ khăng khăng học làm điều xấu. Thật tâm mà nói thì, khi quý vị thấy nhóm các cô gái trẻ đó cúng dường cho vị sư trẻ này, quý vị nên biết rằng cả đôi bên đều không có ý đồ tốt; họ đang qua lại tạo tội nghiệp lẫn nhau, và đang tranh nhau xuống địa ngục. Tôi biết rất nhiều người không muốn nghe những gì tôi nói; quý vị không nguyện ý nghe nhưng tôi vẫn muốn nói, việc này không có cách nào khác!

 

3.8 Trong Việc Cúng Dường Cho Người Xuất Gia, Không Được Có Tâm Tham

Người cư sĩ phải nhận thức rằng không được có tâm tham khi cúng dường cho người xuất gia. Quý vị hộ trì riêng một vị Pháp Sư trong khi tôi hộ trì riêng một vị khác có thể khiến cho họ bị chia rẽ, và không còn trú ngụ chung cùng nhau tu hành. Đây chính là phá hoại Tăng Đoàn. Nếu người cư sĩ tranh nhau cúng dường cho riêng một vị xuất gia, sẽ khiến cho vị xuất gia đó trở nên hồ đồ mê muội. Một người ở một mình trong tịnh xá nhỏ và chẳng có việc gì nhiều nhặn để làm. Rốt cuộc thì quý vị có được công đức gì chứ?

Tôi đang nói sự thật. Người xuất gia cần phải sống chung với nhau trong một tu viện lớn (Đại tùng lâm) để có thể tinh tấn tu hành, cảnh tỉnh, và khuyến khích lẫn nhau tu hành. Khi một người xuất gia sống một mình trong một tịnh xá nhỏ, chẳng ai giám sát cai quản, liệu người đó có tu hành tinh tấn được hay không; chẳng ai quan tâm việc người đó có ham muốn ăn thức ăn ngon hay không; cũng chẳng thành vấn đề nếu như người đó muốn ăn chút thịt và uống chút rượu. Một số người cư sĩ nghĩ rằng điều này là đang tạo ra công đức. Thật sự thì, họ chỉ đang giúp người xuất gia đó xuống địa ngục! Công đức đi đâu mất rồi! Tôi nói ra những điều này, mọi người thường không thích nghe.

Quý vị nên biết rằng nếu như quý vị muốn cúng dường lên Tam Bảo, quý vị phải ủng hộ và hộ trì một Đạo Tràng lớn, một nơi thật sự tu hành chân chánh. Quý vị không nên “chiếm giữ” một người xuất gia trong khi tôi “độc chiếm” một người khác; điều này là không theo đúng với Pháp. Tôi chắc chắn rằng rất nhiều người xuất gia sẽ bực bội bởi những gì tôi nói. Tại sao? Bởi vì những lời đó sẽ làm họ cảm thấy không thoải mái. Trong một tu viện lớn, họ không thể tuỳ tiện ăn, tuỳ tiện ngủ, không thể tuỳ tiện vi phạm giờ giấc bữa ăn, không thể tuỳ tiện phá giới. Nếu như họ sống đơn độc một mình, họ sẽ có khả năng làm những gì họ muốn. Đương nhiên cũng có những người đơn độc tu hành và chân chánh dụng công; tuy nhiên, những người như vậy thời nay là cực kỳ hiếm có.

Tại sao người cư sĩ lại muốn cúng dường riêng cho một vị xuất gia? Họ tưởng rằng làm vậy là có được công đức đặc biệt; mà chẳng biết rằng đây thực chất chính là phá hoại hoà hợp Tăng. Tăng Đoàn chính là “hoà hợp chúng” tức là mọi người cùng trú ngụ và tu hành với nhau. Nếu như ở riêng một mình, làm sao có thể tự xưng là “hoà hợp chúng”? Là hoà hợp với ai? Nếu như thường xuyên hoà hợp với người cư sĩ, rồi rốt cuộc thì bản thân sẽ trở thành cư sĩ tại gia rồi.

Tôi đang nói đi nói lại những lời này với tất cả sự chân thành nhất; giống như có câu: “Thuốc đắng dã tật. Lời thật mất lòng.” Pháp Sư không được thuộc về sở hữu “tư nhân”, họ phải thuộc về “công chúng”. Đó là lý do vì sao rất nhiều người cùng ở chung với nhau tại Kim Sơn Thánh Tự, Vạn Phật Thánh Thành, và các tu viện chi nhánh để nhờ vậy mà mọi người có thể sách tấn khuyến khích lẫn nhau làm những việc tốt và sủa lỗi lầm của nhau, và không tranh chấp nhân ngã với nhau.

Tại sao có những người xuất gia tự ca tụng bản thân và huỷ báng những người khác? Bởi vì họ tham lam đồ cúng dường. Trong Văn Khuyến Phát Bồ Đề Tâm có nói: “Mở mắt ra là thấy đầy dẫy thiên hạ đều là như vậy. Chẳng ai biết Phật là bực nào, Pháp là nghĩa gì, Tăng là người chi.” Tăng Đoàn là đề cập đến một nhóm ít nhất là bốn vị xuất gia cùng ở chung hoà hợp với nhau, không có tranh chấp. Quý vị không thể gọi một người xuất gia là Tăng Đoàn.

Hiện tại, có một tệ nạn khác thậm chí còn lưu hành rộng rãi hơn: chẳng những rất nhiều người không biết Tam Bảo là gì, mà có những cư sĩ thậm chí còn muốn tự mình lập ra “tứ bảo”. Chẳng những họ không cúng dường được cho Tam Bảo, mà còn muốn Tam Bảo cúng dường lại cho họ. Tôi e rằng chẳng bao lâu nữa, họ sẽ phát minh ra “Ngũ Bảo", "Lục Bảo" hoặc "Thất Bảo". Quý vị thấy chứ!? Nếu đây không phải là dấu hiệu của thời Mạt Pháp, thì là gì?

 

 

Phần IV: Thọ Trì Ngũ Giới

 

4.1 Cần Thiết Phải Có Chánh Tri Và Chánh Kiến

Có được chánh tri và chánh kiến là nền tảng trọng yếu cho những ai tu học Phật Pháp. Có chánh tri và chánh kiến nghĩa là gì? Có được chánh tri và chánh kiến có nghĩa quý vị là một Phật tử chân chánh. Yêu cầu đầu tiên của một Phật tử là hoàn thiện nhân cách của mình cho tốt đẹp, nghĩa là trì giữ ngũ giới: không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất gây say. Đây chính là những điều kiện căn bản nhất để làm người Phật tử, và chúng ta phải thực hành một cách chân thật. Nếu chúng ta kiên quyết muốn tu học Phật Pháp, chúng ta cần siêng năng tinh tấn tu giới, định, huệ và diệt trừ tham, sân, si. Tham, sân, si chính là tam độc! Tam độc này đã chi phối chúng ta từ vô lượng kiếp đến nay, làm cho chúng ta điên đảo, tham lam không bao giờ biết đủ và khiến chúng ta có tánh khí rất nóng nảy, luôn phát lòng sân hận to lớn.

 

4.2 Người Phật Tử Phải Tuân Thủ Giới Luật Căn Bản Nhất - Ngũ Giới

Giới luật tối căn bản nhất mà người Phật tử phải giữ chính là ngũ giới, tức là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất gây say.

Không sát sanh: nếu chúng ta thường luôn kềm giữ bản thân tránh khỏi việc giết hại, chúng ta sẽ hưởng được phước báo trường thọ; chúng ta sẽ sống lâu. Tại sao có những người lại trường thọ trong khi những người khác lại đoản mệnh? Người được trường thọ là bởi vì họ giữ giới không sát sanh, và do đó được hưởng phước báo trường thọ. Người đoản mệnh là do họ thích thú việc giết chóc, và do đó quả báo của họ là đoản mệnh.

Tại sao chúng ta phải nên giữ giới không trộm cắp? Đó là bởi vì trộm cắp khiến cho người khác mất đi tài sản và phước báu của họ. Trộm cắp là gì? Đó là âm thầm lén lút lấy đi tài sản vật chất hoặc những thứ thuộc về người khác. Quả báo của việc lấy cắp những thứ thuộc sở hữu của người khác là gì? Quả báo là tài sản của cải của chính mình sẽ không được bền lâu. Ví dụ, quý vị có thể giàu lên, nhưng bất thình lình tất cả tiền bạc của quý vị có thể bị trộm hết hoặc bị cướp mất.

Tương tự, cũng đúng như vậy đối với giới cấm tà dâm, nói dối, và dùng chất gây say. Ví dụ, những ai không giữ giới cấm tà dâm có khả năng là đi thông dâm với vợ của người khác. Trong tương lai, vợ hoặc con gái của những người này sẽ dan díu vào những mối quan hệ gian dâm. Đây là một trong những loại quả báo họ sẽ nhận.

Đối với nói dối, nếu chúng ta không lừa dối người khác, chúng ta sẽ không bị người khác lừa dối. Có người nói, “Tôi không bao giờ lừa dối bất kỳ ai trong đời. Tại sao quá nhiều người lại lừa dối tôi?” Chẳng phải tôi đã từng nói rằng quả báo không chỉ giới hạn trong một đời sao? Nó liên quan đến cả ba đời: đời quá khứ, đời hiện tại, và đời tương lai. Có thể là quý vị không lừa dối bất kỳ ai trong đời này, nhưng quý vị có biết được có bao nhiêu người đã bị quý vị lừa dối trong những đời trước không? “Tôi không biết!” Nếu quý vị không biết, nhưng nếu bây giờ quý vị đang bị lừa dối, thì đó là điều đáng nhận lấy.

Quý vị thật sự đã không có ý định khoác lác hay nói dối, nhưng sau đó lời nói dối dần trở nên tự nhiên và tự phát. Việc nói dối tự nhiên đến nỗi nói ra một lời nói dối mà thậm chí không cần phải suy nghĩ và cũng không cần phải nghĩ ra lời dối trá gì để nói. Ví dụ, ai đó hỏi, “Ông đã ăn trộm có phải không? Ông có ăn cắp thứ gì không?” Mặc dù quý vị đã ăn trộm, quý vị lại trả lời rằng, “Không”, mà thậm chí không cần dùng đến suy nghĩ. Chỉ việc trộm cắp là đã vi phạm một giới cấm; khi nói dối thì quý vị lại vi phạm thêm một giới cấm khác nữa!

Như đối với giới cấm dùng chất gây say; nếu chúng ta uống quá nhiều rượu, chúng ta sẽ trở nên hồ đồ và mê loạn; chúng ta sẽ trở nên điên đảo và hành động của chúng ta cũng điên đảo. Đó là lý do việc uống rượu bị cấm trong Phật Giáo. Nói kỹ ra thì, ngũ giới có rất nhiều đạo lý sâu xa bao hàm bên trong. Phương diện cốt yếu nhất chính là cho dù tay chúng ta không dính líu đến việc giết hại, tâm của chúng ta cũng phải không sanh tư tưởng giết hại. Đó mới chính là chân chánh trì giới không sát sanh. Giới không trộm cắp cũng vậy. Trong khi tay không dính líu đến trộm cắp, tâm chúng ta cũng phải không hề có tư tưởng trộm cắp. Về việc trộm cắp, cho dù lấy cắp lớn hay nhỏ, hễ mà lén lút sử dụng hoặc lấy đi thứ gì mà không có sự cho phép, thì đều coi như phạm giới trộm cắp.

 

4.3 Không Ăn Thịt Chính Là Cứu Thế Giới

 Sát sanh bao gồm tự mình ra tay giết hại, xúi giục người khác giết hại, và vui mừng khi thấy việc giết hại. Sát sanh là nhân của các cuộc chiến tranh và xung đột trên thế giới. Do đó, có câu nói:

Ngàn năm oán hận ngập bát canh

Oán sâu như biển hận khó tan.

Muốn biết vì sao có chiến tranh,

Hãy nghe lò thịt lúc nửa đêm.

Suốt hàng trăm ngàn năm, chúng ta đã ăn những tô canh thịt hầm này. “Hầm” là một dạng súp đặc và có thể là thịt bò hầm, dê hầm, heo hầm, ngựa hầm, lừa hầm, mèo hầm, hoặc chó hầm, v.v ... Suốt hàng trăm ngàn năm, loài người chúng ta đã ăn rất nhiều thịt hầm của “chúng sanh”. Đây là ý nghĩa của câu “Ngàn năm oán hận ngập bát canh.”

Oán sâu như biển hận khó tan: Oán hận to lớn và sâu thẳm như đại dương. Anh giết tôi, rồi tôi giết anh, sự giết hại tiếp diễn không ngừng. Quý vị có thể thấy đạo lý này diễn ra như trong phim ảnh. Ông giết tôi, rồi tôi giết ông; ông giết tôi và ăn thịt tôi; khi tôi giết ông, tôi cũng sẽ ăn thịt ông; họ ăn thịt lẫn nhau. Khi ông ăn thịt tôi, tôi chịu sự thống khổ trong khi bản thân ông hưởng thích thú ăn thịt; khi tới phiên tôi ăn thịt ông, ông sẽ phải chịu sự thống khổ trong khi tôi hưởng thích thú ăn thịt. Quả báo cứ liên tục tuần hoàn trong thế gian. Oán thù, cừu hận này sâu thẳm như đại dương. Do đó, không dễ gì làm dịu, san bằng được oán hận này - luôn có một hố sâu ở đâu đó không thể lấp đầy hoặc san bằng được. Đó là lý do tại sao oán hận rất khó để hoà giải.

Muốn biết vì sao có chiến tranh: Trong thế gian này, các quốc gia gây chiến, thảm sát lẫn nhau - anh giết tôi và tôi giết anh. Quốc gia này cử quân đội đi gây chiến với quốc gia nọ, bắn nhau, dội bom, và giết rất nhiều người. Đây gọi là “nạn đao binh.” Nhân duyên gì mà sao người ta lại chết trong chiến tranh? Và tại sao lại có nạn đao binh, chiến tranh trên thế giới?

Hãy nghe lò thịt lúc nửa đêm: Quý vị hãy nên đến nơi mà những động vật như heo, bò, và cừu bị giết mổ và nghe âm thanh ở đó lúc nửa đêm! Lúc nửa đêm, heo than khóc, bò than khóc, và cừu than khóc. Chúng khóc nói: “A! Bây giờ ngươi đang giết ta; trong tương lai ta chắc chắn sẽ giết ngươi.” Bằng cách này, họ liên tục giết nhau không ngừng.\

Do vậy, bất kể chúng ta là ai, chúng ta không nên ăn thịt. Bằng cách làm như vậy, chúng ta đang cứu thế giới khỏi chiến tranh. Nếu chúng ta ăn thịt, điều đó sẽ dẫn đến cuộc đại thế chiến, và rồi rất nhiều người sẽ chết. Tất cả chúng ta phải nên hiểu rõ tình trạng này. Nếu chúng ta muốn thế giới không còn chiến tranh, chúng ta phải không ăn thịt chúng sanh. Chỉ cần ăn để duy trì thân thể là đủ rồi, chẳng cần phải trở nên mập mạp. Chúng ta cũng không cần phải ăn quá ngon. Như vậy thì chúng ta không nên giết hại để thoả mãn ham muốn hương vị thức ăn.

 

4.4 Không Được Uống Rượu, Không Được Hút Thuốc, Và Không Được Dùng Những Chất Gây Say

Giới luật đã nói rằng không được uống rượu, vậy rồi có người lại hút thuốc; điều này cũng không được phép. Mặc dù giới luật không nêu cụ thể việc hút thuốc là phạm giới, quý vị cũng không được hút thuốc bởi vì hút thuốc là đã bao gồm trong việc dùng những chất gây say. Khi người nào đó uống rượu và hút thuốc, các vị Phật và Bồ Tát đều không thích mùi của khói thuốc. Nếu có người hút thuốc trong đạo tràng, một nơi thanh tịnh, các vị Bồ Tát sẽ chạy ra xa. Tại sao? Các vị Bồ Tát không thích mùi này! Loài người chúng ta có thể không nghĩ rằng việc hút thuốc là xấu, nhưng tôi biết nó kinh khủng cỡ nào bởi vì nó sẽ khiến cho các vị thánh nhân tránh xa, trong khi đó việc hút thuốc lại thu hút ma quỷ.

Những tà ma ngoại đạo - như là các chồn tinh, hồ ly tinh, xà tinh, và các chủng loại yêu tinh - đều háo hức ngửi mùi khói thuốc này. Ngay khi có người hút thuốc - thuốc lào, thuốc lá, hay thuốc phiện - thì người đó thu hút “quỷ hút thuốc”. Ví dụ, nếu quý vị hút thuốc phiện, sẽ có một quỷ thuốc phiện đi theo quý vị. Khi cơn nghiện thôi thúc trong quý vị trỗi dậy, chẳng phải là thôi thúc đó đến từ quý vị; mà thật sự là do con quỷ đó khiến quý vị lên cơn nghiện hút. Vì thế, khi cơn nghiện trỗi dậy, quý vị sẽ không có khả năng kìm chế bản thân khỏi việc hút thuốc phiện. Khoảnh khắc mà quý vị hút và thổi khói ra, có con quỷ ở đó để hít khói thuốc; con quỷ đó cũng học cách hút thuốc phiện. Vậy nên khi cơn nghiện của con quỷ đó trỗi dậy, nó sẽ khiến cho quý vị không có khả năng kiểm soát bản thân; rốt cuộc thì cả hai đều lợi dụng lẫn nhau.

Những con quỷ này lợi dụng con người để hút thuốc để quỷ cũng sẽ nếm được mùi vị khói thuốc. Ngay khi quý vị bắt đầu hút thuốc phiện, quý vị sẽ trở nên nghiện và thèm khát mỗi khi cơn nghiện thôi thúc trỗi dậy. Đó là lý do tại sao người ta nói hễ lên cơn nghiện, là quý vị sẽ ngáp dài và cứ chảy nước mắt. Quý vị có thể có khả năng chịu đựng sự thèm thuồng tốt hơn vào những ngày nắng đẹp; tuy nhiên, vào những ngày âm u, quỷ hút thuốc hoành hành mạnh lên, khiến cho cơn nghiện của quý vị trở nên thường xuyên hơn và dữ dội hơn.

Khi quý vị hút thuốc phiện, sẽ có những con quỷ thuốc phiện chung quanh quý vị; khi hút thuốc lào, sẽ có quỷ hút thuốc lào; khi hút thuốc lá, sẽ có quỷ hút thuốc lá. Quý vị có thể không nhìn thấy được và quý vị không biết nó kinh khủng đến cỡ nào. Những người mà có thể thấy được quỷ sẽ biết rằng hút thuốc là một điều rất không may mắn. Do đó, là người Phật tử, tốt nhất là không hút thuốc hoặc uống rượu.

Không dùng ma tuý cũng được gồm chung trong giới cấm dùng chất gây say. Ma tuý có một hiệu ứng đê mê, và một khi quý vị ngưng sử dụng ma túy, quý vị sẽ thấy không thể chịu đựng nổi. Quý vị thậm chí sẽ không nhận ra rằng mình đã nghiện rồi.

Đó là lý do tại sao người xuất gia càng không được hút thuốc. Tuy nhiên, có một số người ngụy biện lại biện hộ rằng mặc dù uống rượu là không được phép trong giới luật nhà Phật, hút thuốc thì được bởi vì Phật chẳng khi nào lập ra giới cấm hút thuốc. Họ giống như luật sư bào chữa tự biện hộ cho bản thân dựa trên những lý lẽ lệch lạc. Những linh mục Thiên Chúa giáo và mục sư Tin Lành hút thuốc uống rượu thì luôn có quỷ thần bao quanh họ.

Cũng có những người theo ngoại đạo nói về việc thấy thần thấy quỷ, nhảy đồng nhập cốt, và thấy tất cả các loại thực thể vô hình, quỷ, quái, và các sanh vật kỳ dị - tất cả đều kỳ quái và bí ẩn. Tất cả những điều đó khiến cho những người vô tri và mê muội trở nên cuồng tín và mê dại tin theo răm rắp, do họ không biết nên những người mê muội đó rốt cuộc sẽ thành tuỳ tùng quyến thuôc của yêu ma quỷ quái. Những ai tin vào Phật sẽ trở thành Phật trong tương lai. Những ai tin vào yêu ma quỷ quái sẽ trở thành yêu ma quỷ quái trong tương lai. Do đó, trong từng cử chỉ hành động, chúng ta phải đặc biệt cẩn thận.

 

4.5 Tầm Quan Trọng Của Việc Thọ Trì Ngũ Giới

Nếu quý vị có thể trì giữ ngũ giới và hành thập thiện, quý vị sẽ lên được cõi trời. Ngũ giới là không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không dùng chất gây say. Không sát sanh chính là từ bi; không trộm cắp chính là nghĩa khí; không tà dâm chính là người chánh nhân quân tử; không nói dối chính là người trung trực và uy tín; và không dùng chất gây say chính là người tự giác quản thúc bản thân, không buông thả.

Sát sanh đưa đến quả báo đoản mệnh, trộm cắp đưa đến quả báo nghèo cùng và khốn khó, và tà dâm đưa đến quả báo tái sanh làm chim sẻ, chim bồ câu, chim uyên ương. Loài chim có bản tánh nhắm đến những điều xa vời nhưng rốt cuộc khổ sở. Vì vậy nếu như quý vị tham đắm tà dâm, quý vị có khả năng sau này biến thành chim.

Tôi thường xuyên nói về những điều này, nhưng quý vị lại chưa bao giờ để tâm chú ý gì nhiều. Tuy nhiên, tôi cũng không ngại phiền nhắc lại cho quý vị lần nữa. Tôi đang nói về việc gì đây? Con người không nên sát sanh, bởi vì trải qua vô vàn kiếp, tất cả chúng sanh đã từng là quyến thuộc, là bạn bè, là cha mẹ, hoặc là tổ tiên của chúng ta. Nếu như cha mẹ kiếp trước của chúng ta giờ đây tái sanh làm heo hoặc bò do tội lỗi mà họ đã tạo ra, và nếu như chúng ta giết những con heo và con bò đó, thì chúng ta đã gián tiếp giết cha mẹ của chính mình.

Đối với giới cấm trộm cắp, có câu nói: “Đừng làm với người khác điều mà mình không muốn người khác làm điều đó với mình.” Bất cứ điều gì chúng ta không muốn người khác làm đối với mình, thì chúng ta không được áp đặt điều đó lên người khác. Nếu có điều gì chúng ta không thích, chúng ta cũng không được kêu người khác làm điều đó. Đạo lý này có thể được áp dụng cho “không trộm cắp”. Bởi vì chúng ta không muốn người khác trộm cắp những gì chúng ta sở hữu, chúng ta trước tiên phải không được trộm cắp thứ mà người khác sở hữu.

Đối với giới cấm tà dâm, theo Luật Nhân Quả thì, sự trừng phạt đối với tà dâm là rất nặng. Chồng hoặc vợ không nên tuỳ tiện ly hôn. Theo Luật Nhân Quả, nếu quý vị ly hôn và tái hôn, cơ thể quý vị sẽ bị chia thành hai mảnh sau khi quý vị chết. Vì quý vị đã có hai mối quan hệ, quý vị sẽ bị cưa đôi từ đầu xuống chân. Quý vị sẽ bị chia ra thành bấy nhiêu mảnh tương ứng với số lần quý vị đã kết hôn. Nếu một người phụ nữ kết hôn với một trăm người đàn ông, cô ấy sẽ bị chia ra thành một trăm phần. Nếu một người đàn ông kết hôn với một trăm người phụ nữ, anh ta cũng sẽ bị chia ra thành một trăm phần, mỗi phần cho mỗi người vợ. Anh ta rốt cuộc sẽ bị phân mảnh, thành những mảnh rải rác.

Bị cắt thành từng mảnh thì tệ hại đến cỡ nào? Một khi quý vị bị phân mảnh, không dễ để linh tánh hợp nhất thành toàn thể trở lại. Cơ hội xảy ra sự hợp nhất linh tánh trở lại sẽ là cực kỳ mong manh. Nếu điều đó không xảy ra, linh tánh của quý vị sẽ mãi mãi bất toàn và phân mảnh; quý vị rốt cuộc sẽ làm loài chúng sanh vô tình, như thảo mộc, già đi, chết, và thối rữa cùng với cây cỏ.

Bởi vì bổn tánh của quý vị đã phân mảnh, không đủ bổn tánh để quý vị trở thành chúng sanh hữu tình. Thậm chí nếu quý vị trở thành chúng sanh hữu tình, quý vị sẽ trong hình dạng một đàn muỗi tám mươi bốn ngàn con hoặc tương tự như thế. Những con muỗi đó sẽ lại trở thành muỗi, không biết làm sao để quay về con đường chân chánh, để giác ngộ và rời bỏ bụi trần. Chúng sẽ tiếp tục sanh ra và chết đi trong vòng luân hồi. Do đó có câu: “Một khi thân người mất đi, vạn kiếp khó khôi phục.” Nếu chúng ta mất đi thân người, chúng ta có thể trải qua hàng vạn đại kiếp mà vẫn chưa có lại được thân người.

 

4.6 Đừng Bỏ Lỡ Cơ Hội Thọ Ngũ Giới

Những người đã thọ nhận năm giới (ngũ giới) hoặc tám giới (bát giới) thì được gọi là “ưu bà tắc” (đối với nam) hoặc “ưu bà di” (đối với nữ). Nếu họ đã thọ Bồ Tát Giới, thì họ được gọi là “bồ tát”. Vốn dĩ ban đầu, Bồ Tát Giới chỉ dành cho người xuất gia, nhưng bây giờ thì cư sĩ tại gia cũng được phép thọ Bồ Tát Giới bởi vì bồ tát được xem như là làm lợi ích cho mình và cho người khác. Trong Phật Giáo, thọ nhận và trì giữ giới luật là cực kỳ quan trọng. Vì vậy bất kể khi nào có cơ hội thọ giới, những người muốn thọ giới đừng nên bỏ lỡ.

Quý vị có thể thọ một giới, hai giới, ba giới, bốn giới, hoặc năm giới. Quý vị cũng có thể thọ tám giới (bát giới) nhưng không được thọ (thập giới), mười giới là giới cho Sa di và Sa di ni. Tuy nhiên, quý vị có thể thọ mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh của Bồ Tát Giới.

Thọ một giới thì được gọi là “thiểu phần giới;” thọ hai giới thì được gọi là “bán phần giới;” thọ ba giới thì được gọi là “đa phần giới,” và thọ năm giới thì được gọi là “toàn phần giới.”

Ví dụ, nếu quý vị không có khả năng từ bỏ việc sát sanh, thì quý vị không nên thọ giới cấm sát sanh; thay vào đó, quý vị nên thọ giới cấm trộm cắp. Nếu như quý vị thích uống rượu, giống như người đệ tử thích uống rượu này của tôi không tình nguyện thọ giới cấm dùng chất gây say, thì quý vị không thọ giới cấm dùng chất gây say và có thể thọ những giới khác.

Quý vị có thể nói rằng, “Con có xu hướng nói khoác lác, do đó con không thể trì giới cấm nói dối." À, thì quý vị có thể thọ bốn giới. Quý vị có thể nói rằng, “Con không thể hứa rằng không sát sanh. Thỉnh thoảng, con có thể vô ý giết chết kiến và những con bọ nhỏ. Nếu con giết chúng sau khi thọ giới, tội của con sẽ nặng hơn.” Trong trường hợp đó, quý vị không cần phải thọ giới cấm sát sanh. Nói chung, quý vị có thể tuỳ ý mình, thọ một giới, hai giới, ba giới hoặc lên tới năm giới. Chỉ cần đừng bỏ lỡ cơ hội.

4.7 Phải Hướng Về Người Xuất Gia Để Thỉnh Cầu Thọ Giới

Trì giới nghĩa là “không làm các điều ác mà làm các điều thiện”. Có bao nhiêu loại giới luật? Có nhiều loại giới luật: Đầu tiên, là có năm giới (ngũ giới). Những ai đã quy y Tam Bảo có thể tiến bộ thêm nữa bằng cách thọ năm giới. Sau khi đã thọ năm giới này, họ có thể tiến bộ lên thêm nữa bằng cách thọ tám giới (bát giới). Sau khi đã thọ tám giới này, họ có thể thọ mười giới (thập giới), nghĩa là họ trở thành người tập sự xuất gia là sa di, hay sa di ni. Khi người cư sĩ tại gia muốn thọ giới, họ nhất định phải thỉnh cầu giới luật từ người xuất gia. Truyền giới ngụ ý rằng truyền trao cho quý vị bản thể của giới, và điều đó chỉ có thể được thực hiện bởi các vị Tỳ Kheo.

4.8 Phải Chăng Không Thọ Giới Là Tự Do Chân Thật?

Có người với tà tri và tà kiến nói rằng, “Đừng thọ giới. Tại sao bạn lại muốn thọ giới chứ? Tại sao lại để giới luật kìm kẹp bạn? Không thọ giới tự do hơn nhiều mà! Vậy thì thọ giới làm gì chứ!” Quý vị có thể tưởng rằng không thọ giới là có tự do, nhưng như thế thì lại rất dễ dàng rơi vào địa ngục. Đó thật là cái “tự do” dễ dàng đưa thẳng vào địa ngục mà thôi!

Nếu quý vị thọ giới, thì sẽ có giới luật hỗ trợ quý vị. Quý vị sẽ được hỗ trợ bởi giới hạnh, giới tướng, giới Pháp, và giới thể cho nên không dễ gì rơi vào địa ngục. Thậm chí nếu quý vị rơi vào địa ngục, quý vị sẽ có khả năng thoát ra nhanh chóng. Tuy nhiên, nếu như quý vị thích tự do và không thọ giới, rồi sau đó khi quý vị rơi vào địa ngục, thì chẳng ai có thể bảo đảm là khi nào quý vị thoát ra được.

Có người cảm giác rằng họ càng học nhiều Phật Pháp chừng nào, càng bất tiện cho họ; có người thì nghĩ rằng họ càng học nhiều Phật Pháp chừng nào, họ càng ít đi tự do chừng nấy. Những người không học Phật Pháp có thể sẽ thiếu tự do trong tương lai, trong khi những ai học Phật Pháp có thể thiếu tự do ngay hiện tại. Do đó, nếu hiện tại quý vị học Phật Pháp, thì thiện căn của quý vị sẽ đồng thời tăng trưởng, trong khi đó nếu quý vị không học Phật Pháp, thì nghiệp chướng của quý vị sẽ tăng trưởng. Khi nghiệp chướng tăng trưởng, thì kết quả là việc thiếu tự do sẽ kéo dài mãi mãi.

 

4.9 Tịnh Giới Là Gì?

Mọi người nên chú ý đến chữ “tịnh” này. Tịnh nghĩa là gì? Đó chính là không nhiễm ô - thậm chí không có một chút nhiễm ô nào dù là nhỏ nhất. Với loại thanh tịnh như vậy, ngay cả không có một suy nghĩ nào trỗi dậy; đây được gọi là tịnh niệm. Nếu quý vị chỉ trì giới bề ngoài, nói “Tôi không sát sanh”, nhưng trong tâm quý vị, quý vị lại liên tục bất mãn hoặc tức giận với người khác, thì quý vị vẫn đang phạm giới cấm sát sanh. Trộm cắp không chỉ ngụ ý rằng quý vị thật sự trộm cắp thứ gì đó. Nếu trong tâm quý vị, quý vị đố kỵ với của cải hoặc tài năng của người khác, hoặc là ghen tị người khác, thì quý vị đang phạm giới cấm trộm cắp. Tương tự như vậy đối với tà dâm, nếu quý vị miệt mài suy nghĩ những điều bất chánh với người khác giới, thì quý vị đang phạm giới cấm tà dâm; những điều này đều được coi như là không thanh tịnh. Trì tịnh giới nghĩa là trong sạch và thanh tịnh trong mọi phương diện, thậm chí không có một chút nhiễm ô nhỏ nhất nào cả - chỉ như vậy mới được gọi là trì tịnh giới.

 

 

Phần V: Xưng Hô Bản Thân Và Người Khác


5.1 Đừng Tự Xưng Hô Là Cư Sĩ

Cư sĩ là gì? “Cư sĩ” là những người sống tại gia tin theo Phật Giáo, trì giữ ngũ giới, và thực hành thập thiện. “Cư sĩ” là một danh xưng. Đó là danh xưng mà người khác dùng để gọi quý vị. Tuy nhiên, quý vị không thể tự xưng mình là cư sĩ. Tôi thấy một số người tu tại gia, không phải là người xuất gia, nhưng họ cho rằng họ có thể tự xưng hô mình là cư sĩ. Họ thậm chí còn in danh thiếp tự xưng là “Cư sĩ tên này nọ.” Thậm chí trong những cuộc nói chuyện với người khác, họ cũng tự xưng mình là “Tôi là cư sĩ ...” Những người này thiếu hiểu biết; họ không có tri thức chân thật. Danh xưng này là để người khác gọi quý vị, nhưng quý vị không thể tự mình xưng như vậy.

Ở Trung Hoa, “Tiên s
inh” là cách gọi phổ biến nhất; khi tôi nói về “Cư sĩ”, quý vị có thể không hiểu tôi đang nói gì, nên tôi sẽ nói về “Tiên sinh”! “Tiên sinh” cũng là một danh xưng mà người khác dùng để gọi quý vị. Người ta có thể gọi quý vị là “Tiên sinh ...”, nhưng không ai tự xưng mình là tiên sinh cả. “Tiên sinh” là đề cập đến những những người có học vấn, hoặc người cao tuổi, hoặc người có đức hạnh, hoặc giàu kinh nghiệm thế gian. Chúng ta gọi những người đó là “Tiên sinh.”

“Cư sĩ” là một danh xưng biểu thị rằng người đó có rất nhiều đức hạnh. Nếu quý vị không có những đức hạnh như vậy, thì quý vị không đủ tư cách có danh xưng “Cư sĩ” này.

“Pháp Sư” cũng là một danh xưng mà người khác dùng để gọi những người xuất gia như chúng ta. Chúng ta không thể tự gọi bản thân mình là “Pháp Sư”, bằng không thì bản ngã của quý vị sẽ bị cuốn vào sự say đắm giống như tự phong mình là Hoàng Đế. Điều đó là không đúng. “Hoàng Đế” cũng là danh xưng mà người khác sử dụng, để hô “Hoàng Thượng Vạn Tuế!” Hoàng Đế không thể tự đề cao bản thân mình tự nói câu vạn tuế này.

Về điểm này, người Trung Hoa chúng ta nên đặc biệt lưu ý và có được hiểu biết thông thường này. Do đó, “Cư sĩ” tức là người khác dùng nó để gọi quý vị, gọi là “Cư sĩ John”, “Cư sĩ Smith”, hoặc “Cư sĩ Frank.” Đó là biểu hiện sự tôn trọng cung kính đến từ người khác chứ không phải là từ chính mình. Quý vị có thể tự cung kính bản thân miễn là quý vị giữ sự tôn kính đó ở trong lòng mình, giữ sự kính trọng và thành thật ở trong lòng. Giữ bên trong thì được, không cần phải biểu lộ ra ngoài.

 

5.2 Không Thể Chỉ Gọi Người Xuất Gia Bằng Pháp Danh

Quả Tiền đã xuất gia rồi, chúng ta phải nên gọi người ấy là “Pháp Sư Quả Tiền;” chúng ta không được gọi là “Quả Tiền.” Tương tự như vậy, đối với các vị cổ nhân, các vị Tổ Sư, các vị đại đức thời xưa cũng không được gọi thẳng tên của họ. Thậm chí các vị Tổ Sư hiện tại cũng phải không được xưng gọi thẳng tên của họ. Trong tương lai, quý vị sẽ trở thành Tổ Sư tại nước Mỹ. Miễn là quý vị tu hành tinh tấn, lãnh hội được phần nào giác ngộ và đắc được chút ít thần thông, quý vị sẽ đạt được thành tựu không thể nghĩ bàn.

Do đó, tất cả những ai là đệ tử quy y với tôi, phải xưng hô gọi ba vị xuất gia này là Pháp Sư.
Chẳng phải mấy hôm trước tôi đã nói với ba người rằng các vị đều có thể trở thành Pháp Sư rồi sao? Tất cả quý vị nên gọi họ là Pháp Sư, quý vị không thể gọi thẳng tên của họ. Giờ đây, chúng ta đang thiết lập luật lệ quy củ, vậy nên từ nay trở đi, quý vị nên có thói quen gọi họ là Pháp Sư. Tuy nhiên, Sư Phụ thì có thể gọi thẳng tên của các đệ tử - vì nguyên lai thì các Pháp danh này được Sư Phụ sử dụng để gọi các đệ tử.

Các vị Đại Đức Cao Tăng, và các vị Trưởng lão xuất gia cũng có thể gọi những vị xuất gia khác chỉ với Pháp danh. Nhưng người thường không được xưng gọi những người xuất gia chỉ bằng Pháp danh hoặc tên khác của họ.

 

 

Phần VI: Nghiêm Ngặt Tu Hành Công Phu Mỗi Ngày


Bất luận chúng ta là người xuất gia hay người tại gia, chúng ta phải nên thực hành Công Phu Sáng và Tối. Nếu người tại gia không thể đến tu viện để thực hành công khoá, thì có thể thực hành công phu ở nhà, vì việc tụng kinh và trì chú có thể thanh tịnh thân tâm. Ví dụ, trong khi tụng Kinh A Di Đà, nếu quý vị quán tưởng về Tây Phương Cực Lạc Quốc mà không khởi lên suy nghĩ vọng tưởng, đây chính là thanh tịnh tâm. Bởi vì thần chú là phiên âm tiếng Phạn, khi quý vị trì chú, quý vị không hiểu được. Vì quý vị không hiểu được, quý vị sẽ không có quá nhiều vọng tưởng. Do không có nhiều vọng tưởng, quý vị đang thanh tịnh thân và tâm.

Do đó, những ai tin vào Phật Pháp - bất kể là ai – đều nên thực hành Công Phu Sáng và Tối hằng ngày không gián đoạn. Quý vị không cần thiết phải đến tu viện để trì tụng; quý vị có thể trì tụng ngay tại nhà. Quý vị có thể tự quy định bài công phu và mức độ thực hành hằng ngày của mình. Ví dụ, nếu quý vị quyết định niệm danh hiệu Phật 500 lần vào buổi sáng, quý vị phải niệm 500 lần danh hiệu Phật mỗi buổi sáng. Nếu quý vị quyết định niệm danh hiệu Phật 500 lần hoặc 200 lần vào buổi tối, thì quý vị phải thực hiện như vậy, dù là quý vị tự tu tập một mình. Không nên có trường hợp là quý vị thực hành Công Phu Sáng và Tối chỉ khi nào đến tu viện, và không thực hành khi ở nhà.

Trong quá khứ, có những người với tà tri và tà kiến nói rằng thực hành Công Phu Sáng và Tối chỉ đơn thuần là nghi thức. Chẳng những họ chẳng hiểu gì về Phật Pháp, mà thậm chí họ còn không hiểu được thế gian pháp. Bất kể người thế gian làm việc gì, họ cũng phải thường thực hành liên tục trước khi họ có thể đạt được bất kỳ thành tựu nào. Lấy việc học làm ví dụ, quý vị cần phải học mỗi ngày trước khi đạt được thành công; điều này cũng tương tự đối với việc tu hành.


 

 

Phần VII: Mắt Chọn Pháp (Trạch Pháp Nhãn)

 

7.1 Chọn Lựa Và Đi Theo Con Đường Thiện, Sửa Đổi Những Điều Bất Thiện

Bất luận đó là người nam hay người nữ, tỳ kheo hay tỳ kheo ni, ưu bà tắc hay ưu bà di, người già hay trẻ nhỏ, nếu như họ nói ra đạo lý đúng đắn, thì chúng ta tin họ; nếu như họ nói ra đạo lý không đúng đắn, thì chúng ta không tin họ.

Chúng ta nhất thiết phải có được Con Mắt Chọn Pháp. Nếu là Đạo, thì chúng ta tiến tới; nếu không phải là Đạo, thì chúng ta thoái lui. Lựa chọn điều thiện để mà theo, và sửa đổi khỏi những điều xấu. Đây chính là quan niệm căn bản mà một người tu Đạo phải có.

 

7.2 Nhận Rõ Đâu Là Chánh Pháp Và Đâu Là Tà Pháp

Cái giả mở đường cho cái thật. Đầu tiên, có đó một cái giả khiến cho người ta đều mê loạn và hồ đồ. Sau đó thì sẽ có những người thật sự muốn tìm thật Pháp. Với một trái tim khao khát sự thật bởi vì họ cùng đường rồi, những người này sẽ lên đường tìm kiếm Chánh Pháp. Do đó, có câu [trong Đạo Đức Kinh - Bản văn cổ về Đạo và Đức]

Đảo là động của Đạo;

Nhu là dụng của Đạo.

Sạch là nguồn của dơ;

Động là gốc của tĩnh. (*)

Đạo ngụ ý là ngược đảo lại với việc thông thường; do đó học Phật Pháp thì chúng ta nhất thiết phải có được Trạch Pháp Nhãn chân chánh để nhận biết được đó là pháp, hay không phải pháp, là hắc pháp, bạch pháp, chánh pháp hay tà pháp. Nếu chúng ta có thể nhận biết được chúng, thì chúng ta sẽ không còn sợ pháp đó là tà hay chánh, trắng hay đen, thiện hay ác. Nếu như quý vị có thể nhận biết rõ được như vậy thì rất tốt. Còn nếu như quý vị không thể nhận biết được chúng, quý vị sẽ bị mê lầm và hồ đồ. Nếu như quý vị không nhận biết được cái gì là thật và cái gì là giả, thì suốt ngày quý vị sẽ như “nuốt chửng trái táo tàu” mà chẳng biết mùi vị của trái táo tàu như thế nào, trong trường hợp đó, quý vị sẽ gặp rắc rối.

 

7.3 Người Phật Tử Chân Chánh Không Truy Cầu Danh Lợi

Trong thời đại Mạt Pháp, rất khó để gặp được người chân chánh tu Đạo. Quý vị đừng nên tin vào những người xuất gia chỉ bởi danh tiếng của họ. Họ càng nổi tiếng chừng nào, thì họ càng có thể có nhiều vấn đề chừng đó. Tại sao? Bởi vì họ sẽ bị đắm chìm vào danh lợi; họ làm mọi thứ để khiến bản thân vang danh khắp nơi vì ngay khi họ trở nên nổi tiếng, lợi lộc liền theo đó mà đến ngay. Những người dạng này không phải là Phật tử chân chánh.

Người Phật tử chân chánh thì tu hành thay vì mưu cầu danh lợi; tất cả quý vị phải nhận thức thật rõ điều này. Để biết một người có phải là người chân chánh tu Đạo hay không, quý vị phải nên quan sát xem tâm tranh và tâm tham của người đó có lớn hơn những người khác không? Người đó có luôn toan tính cầu cạnh những người giàu có không? Người đó có tự tư ích kỷ không? Người đó có tự lợi, chỉ lo cho lợi ích của bản thân mình không? Người đó có luôn nói dối gạt người không? Quý vị cần phải dùng sáu phương pháp này để quan sát xem xét một người xuất gia, và rồi chỉ cần nhìn qua cách đó thì quý vị sẽ biết ngay ai là thật và ai là giả.

Khi quý vị quan sát một người tu Đạo, thì quý vị quan sát ở phương diện nào? Quý vị phải nên quan sát là người đó có trì giữ giới luật hay không. Nếu người đó giữ giới tinh nghiêm, và đặc biệt cẩn thận để không vi phạm giới luật, thì người đó chính là người Phật tử chân chánh. Còn nếu như người này nói mình là một Phật tử, một trưởng lão đáng kính, v. v..., nhưng mà lại âm thầm lén lút làm chuyện dâm dục, không muốn người khác biết, thì người này chắc chắn không phải là một Phật tử chân chánh.

 

7.4 Không Có Mắt Chọn Pháp (Trạch Pháp Nhãn), Thì Không Thể Nhận Ra Ma Quỷ

Trong Kinh Lăng Nghiêm có thuyết về việc "phi tinh nhập vào người". "Tinh" này đây chính là thần tinh, chẳng phải âm cũng chẳng phải dương, vì trong cài "tinh" này, âm và dương của thần tinh này vẫn chưa tách rời. Loại tinh này là một loại quái vật và rất khó để nói chúng là âm hay là dương; chúng là một phần phân linh của ma, chỉ là một bộ phận của ma, chứ không phải là toàn thể của ma vì ma có ma lực rất lớn, có hoá thân, vậy nên tinh này là một trong nhiều hoá thân, như là một tinh linh.

Tinh linh này rất linh ứng, và nó có thể làm cho người bị nhập có biện tài vô ngại, nói kệ tụng, nói ra những đạo lý nghe rất là hợp lý và lớp lang chặt chẽ. Nếu quý vị không có Mắt Chọn Pháp (Trạch Pháp Nhãn) hoặc Trí Huệ Nhãn thì sẽ không có khả năng nhận diện ra khi nghe người đó nói. Thật ra thì người đó nhờ ma lực giúp nên có được những năng lực to lớn. Quý vị chắc đã từng nghe qua câu chuyện về một người rất sợ một “nữ nhân” nào đó đến mức phải leo lên cây cột. Khả năng của người “nữ nhân” đó là đến từ năng lực của con trường trùng (xà tinh). Còn có câu chuyện một người khác nữa là cứ luôn lắc lư cái đầu, trường hợp đó cũng gọi là phi tinh nhập vào người. Vì sao người đó bị như thế? Là do người này khi mới bắt đầu tu tập đã không cẩn trọng, khởi lên ý niệm bất chánh, nhiễm ô, cho nên mới “chiêu cảm” ma đang chờ cơ hội vào chiếm lấy.

Do đó, khi tu Đạo, chúng ta nhất định bằng mọi giá phải duy trì chánh niệm. Bất kỳ ai có những niệm ham muốn tình dục thì rất có khả năng hấp dẫn ma và bị nhập. Nếu quý vị không có niệm dâm dục, thì sẽ được chư Phật và Bồ Tát gia hộ. Ranh giới phân định khác biệt giữa Phật và ma chính là - một bên là chánh và một bên là tà; một bên là thanh tịnh và một bên là nhiễm ô. Ma lực không có nhiều khác biệt lắm so với Phật lực, đặc biệt là trong thời đại này là thời đại ma mạnh Pháp yếu; trong khi ma lực rất mạnh còn Pháp thì dường như suy yếu. Do đó, những ai tự kể về công đức của bản thân họ, phô bày những phong cách hoặc hành vi khác thường, hoặc thể hiện hình tướng kỳ dị hay khác lạ, thì đều có chút cảnh giới của ma. 

 

 Ghi chú:

 (*) Nguyên văn Hoa ngữ:

反者道之動;

弱者道之用;

清者濁之源;

動者靜之基

Phản giả Đạo chi động;

Nhược giả Đạo chi dụng;

Thanh giả trọc chi nguyên;

Động giả tĩnh chi cơ.

 

 

 

Phần VIII: Người Phật Tử Phải Nên Gánh Vác Trách Nhiệm Của Mình

 

Có bốn điều ác liên quan đến khẩu, ba điều ác liên quan đến thân, và ba điều ác liên quan đến ý. Chúng ta cần phải thanh tịnh ba nghiệp là thân, khẩu, ý; chỉ khi đó chúng ta mới có thể tu Đạo. Nếu ba nghiệp không thanh tịnh, thì chúng ta sẽ không thể tu hành được. Bốn câu kệ này trong Kinh Nhật Tụng nói rất rõ:

Từ xưa đã tạo nhiều nghiệp ác

Ðều do ba độc tham, sân si

Từ thân khẩu ý mà gây nên

Tất cả nay tôi đều sám hối. (*)

 

Từ xưa đã tạo nhiều nghiệp ác : Tất cả những ác nghiệp mà chúng ta đã tạo ra trong quá khứ xa xưa Ðều do ba độc tham, sân si - chúng đều được tạo ra từ xa xưa, từ lúc xa xưa vô cùng tận cho đến nay do bởi tâm tham, tâm sân, và tâm si của chúng ta. Nếu chúng ta không có tham, sân, si thì ba nghiệp thân, khẩu, ý của chúng ta sẽ không bất tịnh. Chính vì tham, sân, si dẫn đến việc chúng ta tạo ra ba nghiệp thân, khẩu, ý bất tịnh.

Từ thân khẩu ý mà gây nên : Mọi thứ phát ra từ miệng của mình, tức là lời nói, và mọi thứ khởi lên từ ý niệm của mình - tất cả những nghiệp tội này…

Tất cả nay tôi đều sám hối: Tất cả mọi thứ ác nghiệp mà mình đã gây ra, nay mình phải sám hối và hoán cải toàn bộ. Nếu chúng ta có thể sám hối và hoán cải, chúng ta sẽ trở nên thanh tịnh. Nếu chúng ta không sám hối và hoán cải, chúng ta sẽ không thể thanh tịnh được. Nếu chúng ta không thể làm cho ba nghiệp thanh tịnh, thì khỏi bàn gì tới tịnh hạnh. Tịnh hạnh tức là tất cả những thói hư tích tụ và những tật xấu quen thuộc đều không có nữa. Tất cả chúng ta đều có những tập khí mà mình đã luỹ tích từ đời này sang đời khác qua nhiều kiếp. Ví dụ, ngay khi nói chuyện, chúng ta có khuynh hướng chế nhạo hoặc khinh khi người khác. Nếu có ai phạm phải sai lầm gì đó, thì chúng ta hay cười nhạo, cười khẩy người đó. Tại sao chúng ta làm như vậy? Đó đều là bởi tập khí từ trong quá khứ của chúng ta; chúng ta thích “giặt đồ cho người khác”, hoặc “chụp hình vào người khác.” Còn “hình ảnh” của bản thân mình ra sao? Chúng ta không biết làm sao để soi chiếu. Chúng ta không thể quay ánh sáng chiếu ngược lại vào bên trong, và chúng ta không nhận thấy được bản thân mình. Không nhận thấy được bản thân mình, chúng ta không ý thức được về chính mình; không ý thức được chính mình, chúng ta sẽ không thành tựu được sự nghiệp tu hành.

Chúng ta nghe Phật Pháp, học Phật Pháp, và nghiên cứu Phật Pháp. Tuy nhiên, quý vị phải đích thân thực hành. Nếu quý vị không đích thân thực hành, bất kể quý vị có học bao nhiêu năm đi chăng nữa, thậm chí đến tận cùng thời gian, thì tôi tin rằng việc đó sẽ chẳng mang lại một chút lợi ích nào cho quý vị. Bất cứ điều gì quý vị đạt được cũng chỉ là một chút trí thông minh kiêu ngạo (cuồng huệ) của thế gian. Hễ ai nói điều gì với quý vị, quý vị liền nói, “Tôi biết rồi!” Có thể là quý vị biết, nhưng quý vị lại không thể làm được! Không thể thực hành được, quý vị sẽ giống như người đá nói được mà không làm được. Tất cả Phật tử chúng ta phải đặt trọng tâm vào thực hành thật sự, phải chú trọng tu hành chân thật, và minh chứng điều này trong cách hành xử của chúng ta để mà chúng ta có thể làm gương cho người khác. Nếu chúng ta có thể làm tấm gương tốt, thì mới có hy vọng Phật Giáo sẽ có tiền đồ xán lạn.

Chúng ta phải là người Phật tử chân chánh của Đức Phật và thật sự cố gắng làm vinh dự Đức Phật. Là người Phật tử, nếu như Phật Giáo không hưng thịnh, nghĩa là chúng ta đã chưa hoàn tất được trách nhiệm của mình. Nếu như mỗi người chúng ta có thể gánh vác trách nhiệm chấn hưng Phật Giáo, thì Phật Giáo nhất định sẽ phát triển rực rỡ.

Thời kỳ Mạt Pháp, người ta thường nói, “Hiện tại là thời mạt Pháp, không cần tu hành, không cần trì giới!” Đây chỉ là lời của Ma Vương. Ngược lại, Pháp càng gần diệt tận, thì chúng ta càng phải tu hành, chúng ta càng phải trì giới, và càng phải nỗ lực cố gắng phấn đấu để làm vinh dự Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Chúng ta phải có niềm tin chân thành vào Đức Phật Thích Ca Mâu Ni và là người chân chánh thực hành Phật Pháp - là người đệ tử nương theo lời dạy của Phật mà chân thật thực hành. Nếu chúng ta có thể được như vậy, và nếu mọi Phật tử, bất kể xuất gia hay tại gia, đều có thể gánh vác trách nhiệm cho Phật Giáo, thì thời kỳ Chánh Pháp sẽ lại xuất hiện trên thế gian. Nếu thời kỳ Chánh Pháp xuất hiện trên thế gian, thì các vị thánh chứng quả cũng sẽ xuất hiện. Nếu các vị thánh chứng quả xuất hiện, thì khổ đau của tất cả chúng sanh sẽ không còn nữa và phước báo của chúng sanh sẽ tăng trưởng. Do đó, người Phật tử chúng ta không được nói rằng bởi đây là thời kỳ Mạt Pháp, chúng ta không cần phải quan tâm gì nữa.

Đối với Mạt Pháp, thì ai tạo ra thời kỳ Mạt Pháp vậy? Mạt Pháp được tạo ra bởi con người; chẳng phải là Mạt Pháp tới mà không có nguyên nhân. Do đó, chúng ta cần phải phát nguyện, nguyện hộ trì Chánh Pháp, làm cho Chánh Pháp trường tồn.

Mọi người không được chỉ khoanh tay đứng nhìn. Thay vào đó, chúng ta phải nghĩ rằng miễn sao chúng ta là con người, thì chúng ta cần phải hộ trì Chánh Pháp, huống chi chúng ta còn là người Phật tử! Là người Phật tử, khi quý vị thấy Phật giáo đang suy vi, quý vị vẫn cười và nói: “Phật Giáo không còn nữa rồi!” Như vậy việc Phật Giáo suy tàn có tốt cho quý vị không? Sự suy tàn này giúp cho quý vị vẻ vang thêm sao? Đừng nên nghĩ như vậy!

Nếu Phật giáo suy vong, chúng ta phải sanh lòng hổ thẹn lớn lao. Khi chúng ta còn sống, chúng ta phải hộ trì Chánh Pháp, làm cho Chánh Pháp tồn tại lâu dài trên thế gian. Đây chính là trách nhiệm mà mỗi người Phật tử chúng ta nên gánh vác.

 

 

 Ghi chú:

 (*) Nguyên văn Hoa ngữ:

往昔所造諸惡業,

皆由無始貪瞋癡,

從身語意之所生,

一切我今皆懺悔。」

Vãng tích sở tạo chư ác nghiệp

Giai do vô thủy tham, sân, si,

Tùng thân ngữ ý chi sở sanh,

Nhất thiết ngã kim giai sám hối.

 

 

Phần IX: Châm Ngôn Tu Học Cần Ghi Nhớ Cho Phật Tử

Chúng ta ở đây đang cùng nhau học Phật Pháp nhưng chúng ta phải đừng nên bám chấp vào Phật Pháp. Mà đúng hơn là, hãy dùng thái độ khách quan để quan sát, dùng trí tuệ vốn có của chúng ta để phân tích. Đừng mê tín, đừng tin lầm, đừng bị cưỡng ép mà tin theo; không nên nhận giặc làm con, cái sai thì cho là đúng, không phân biệt được đen trắng, và lầm lẫn điên đảo giữa thiện và ác. Điều quan trọng nhất là phải làm một người Phật tử thật sự tìm cầu chân lý; không nên dùng thủ đoạn người mù dẫn dắt người mù, làm mê hoặc chúng sanh, làm họ trở nên hồ đồ đi theo, làm những điều thiện ác xen tạp, nhân quả rối loạn. Chúng ta những người tu học Phật Pháp phải chú ý đến điều này.

Tại sao chúng ta cần phải tu học Phật Pháp? Có phải là bởi chúng ta tham cầu điều gì chăng? Nếu là vậy, thì chúng ta đừng nên tu học. Khi tu học Phật Pháp, chúng ta nhất định phải trừ khử tâm tham. Bằng không, sẽ rất dễ để sanh tâm sân và tâm si. Một khi chúng ta có tâm tham lam, thì tâm sân hận và tâm si mê sẽ theo đó mà khởi sanh; trong trường hợp đó, về căn bản, không thể nói gì đến giới, định, huệ được nữa rồi. Khi chúng ta nghiên cứu Phật Pháp, chúng ta không được tham muốn có kết quả nhanh chóng, tham muốn tự tại, hoặc tham muốn thần thông. Tất cả những điều này được coi là đi ngược lại với Đạo, và chúng ta rốt cuộc đã quên mất mục đính chân chánh của việc tu học Phật Pháp. Về căn bản là chúng ta cố gắng thoát ra khỏi biển khổ và thoát ra khỏi nhà lửa Tam Giới, lìa khổ được vui. Tuy nhiên, nếu quý vị dùng tâm tham để tìm kiếm truy cầu việc này, thì càng học bao nhiêu càng khổ bấy nhiêu.

Không tranh, không tham, không cầu, không ích kỷ, không tự lợi, không nói dối. Sáu Đại Tông Chỉ này là châm ngôn cần ghi nhớ cho người Phật tử. Nếu chúng ta có thể thực hành mọi lúc mọi nơi, thì chúng ta chính là người Phật tử thật sự thấu hiểu Phật Pháp. Tôi vẫn luôn giảng đi giảng lại cho quý vị cũng chỉ đều là những điều này. Những đạo lý này nghe có vẻ rất tầm thường, nhưng quý vị không dễ gì làm được. Nếu quý vị có thể thật sự làm đúng theo Sáu Đại Tông Chỉ, thì quý vị đã thành Phật từ lâu rồi. Nếu người nào trong quý vị thật sự thực hành Sáu Đại Tông Chỉ mà không thành Phật, thì tôi sẽ ở trong địa ngục mãi mãi không ra khỏi. Tôi thành tâm bảo chứng cho quý vị rằng bất kỳ ai tu hành tuân theo Lục Đại Tông Chỉ thì sẽ nhất định thành Phật trong tương lai.

 


 

Phụ Lục


Hư Vân Lão Hoà Thượng Ngữ Lục


 


Đạo lý tối trọng yếu trong toàn bộ kinh điển Phật Giáo - Tam Tạng Mười Hai Bộ Kinh Điển - chính là Giới, Định, Huệ, chính là Luật Nhân Quả. Những đạo lý này làm cho chúng ta trừ khử được tham dục, xả mình thực hành từ bi hỷ xả, thực hành lục độ ba la mật cùng vạn hạnh khác; giúp phá trừ ngu mê, tà kiến mê lầm; giúp viên mãn trí huệ đức tướng, và trang nghiêm công đức Pháp thân. Nếu chúng ta có thể nương theo và hành xử theo đúng những lời dạy trong kinh điển, thì tất cả mọi nơi sẽ luôn là Cõi Hoa Tạng.

Hai chữ Nhân Quả bao trùm trọn vẹn tất cả các Pháp mà Đức Phật đã nói. Hai chữ Nhân Quả là điều mà tất cả thánh hay phàm, dù thế gian hay xuất thế gian, đều không thể thoát khỏi được.
 
“Nhân” là nhân duyên, “Quả” là quả báo hay phước báo. Ví như gieo lúa mì: lấy một hạt lúa mì làm nhân; lấy ánh nắng, mưa, và gió làm duyên; kết hạt thu hoạch chính là quả. Không có nhân duyên, thì chắc chắn không kết thành quả. Tất cả việc thiện ác ở thế gian, cốt yếu là phải rõ nhân biết quả. “Rõ” là hiểu nghĩa, “biết” là thấu nghĩa. Bồ Tát sợ nhân. Phàm phu chỉ sợ quả. Phàm phu ngu muội, không biết quả ác khởi từ nhân ác; thường ngày tùy tiện làm càn để cầu khoái lạc nhất thời, chẳng biết vui ấy là nhân của khổ. Bồ Tát thì không như vậy: trong từng cử chỉ hành động thường ngày đều thận trọng giữ mình, dè dặt sợ lỗi, quán xét nhân quả; không gây nhân ác thì đâu có quả ác? Dẫu có quả ác cũng đều do nhân trước; đã là nhân trước gieo xuống thì quả sau khó tránh, cho nên khi thọ quả thì an nhiên thuận chịu, không chút oán hận. Đó gọi là rõ nhân biết quả.

Bồ Tát tu Lục độ ba la mật, lấy Bố thí Ba-la-mật làm đầu. Nghĩa của bố thí rất nhiều, lược nói có ba:

1) Một là tài thí, tức dùng của cải cứu giúp người nghèo thiếu;
2)
Hai là pháp thí, nói pháp độ người;
3)
Ba là vô úy thí, cứu người khỏi nguy nan.

Lại nữa, bố thí có thể phân ra thành hai dạng:

1) Tịnh thí, nghĩa là khi bố thí không cầu danh tiếng lợi dưỡng hay phước báo, chỉ vì trợ duyên cho căn lành xuất thế và nhân của tịnh nghiệp, đem tâm thanh tịnh mà bố thí.
2)
Bất tịnh thí, tức là dùng tâm vọng tưởng mà bố thí
cầu phước báo.

Bồ Tát thì ngay cả thân còn có thể xả bỏ được, huống chi những vật ngoài thân lại càng chẳng đáng nói.

Bốn vị cư sĩ giàu có đến đây, vượt ngàn núi vạn sông, hành hương triều sơn lễ Phật, bố thí kết duyên, đã là điều rất khó được. Đã vì cầu pháp xuất ly mà đến, thì cần phải phát tâm lâu dài trường viễn, chỉ tiến không lùi, cung kính Tam Bảo, đừng chấp tướng phân biệt. Thấy điều tốt dĩ nhiên phải cung kính; thấy điều chưa tốt cũng chớ khởi tâm chán ghét. Hễ còn tâm yêu ghét thì còn phiền não; còn phiền não thì không thoát khỏi sanh tử. Vừa khởi tâm ghét thì tâm đạo liền thối lui. Không thể không cẩn trọng.

 


Ấn Quang Đại Sư Ngữ Lục

Cửa vào Đạo tuy nhiều, song tùy nơi chí hướng mỗi người, vốn không có pháp nhất định. Điều nhất định chỉ có hai: chân thành và cung kính. Hai việc này, dẫu đến tận đời vị lai, chư Phật xuất thế cũng không thể thay đổi. Nay chúng ta là phàm phu nghiệp chướng sâu dày, muốn tạm tiêu nghiệp lụy, mau chứng vô sanh, mà không gắng sức nơi hai điều ấy, thì khác nào cây không gốc rễ mà mong tươi tốt, chim không cánh mà muốn bay cao — há có thể được ư?

Ta thường nói: muốn được lợi ích chân thật nơi Phật pháp, ắt phải cầu nơi tâm cung kính. Có một phần cung kính thì diệt một phần tội nghiệp, tăng một phần phước huệ; có mười phần cung kính thì diệt mười phần tội nghiệp, tăng mười phần phước huệ. Nếu hoàn toàn không có tâm cung kính, dẫu có được thiện quả về lâu xa, song tội lỗi chiêu cảm, thật không thể tưởng tượng nổi.

Kinh Kim Cang dạy: “Nơi nào có kinh điển này, tức là có Phật, các đệ tử phải nên tôn trọng.” Lại dạy: “Ở khắp mọi nơi, nếu có kinh này, tất cả thế gian trời, người, a-tu-la đều nên cúng dường; phải biết nơi ấy tức là tháp miếu, đều nên cung kính, lễ bái nhiễu quanh, dùng các thứ hoa hương mà rải lên.” Vì sao nói vậy? Bởi hết thảy chư Phật và pháp A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề của chư Phật đều từ kinh này mà ra. Các kinh Đại thừa khác cũng nhiều nơi tuyên nói nghĩa ấy, không thể kể xiết.

Thật vậy, các kinh Đại thừa là mẹ của chư Phật, là thầy của Bồ Tát; là pháp thân xá-lợi của ba đời Như Lai; là thuyền từ đưa chúng sanh ra khỏi bể khổ. Dẫu nói chứng quả Phật, vẫn phải nương nơi pháp. Ví như con đi xa, chẳng quên ân lớn của cha mẹ. Kinh Niết-bàn dạy: “Pháp là mẹ của Phật, Phật từ pháp mà sanh.” Ba đời Như Lai đều cúng dường pháp; huống chi phàm phu nghiệp nặng, ân pháp sâu nặng như ân cha mẹ, há có thể không báo đáp sao?

May mắn thay, nhờ căn lành đời trước mà được nghe kinh Phật, như miệng gặp cam lồ, vui mừng không xiết. Quyết sẽ nương đó mà vĩnh biệt ba cõi, mãi thoát ngục sanh tử; đích thân chứng ba thân, thẳng đến quê nhà Niết-bàn. Vô biên lợi ích đều từ nghe kinh mà được. Há có thể buông theo tri kiến cuồng vọng, không giữ lòng kính sợ, đồng với kẻ tục nho nông cạn mà khinh mạn, xúc phạm ư?

Kinh dạy: “Bồ Tát sợ nhân, chúng sanh sợ quả.” Bồ Tát sợ ác quả nên sớm đoạn trừ ác nhân; nhờ đó gốc tội tiêu diệt, công đức viên mãn, cho đến thành Phật mới thôi. Còn chúng sanh thường gây ác nhân, lại mong tránh ác quả, khác nào giữa ban ngày muốn tránh bóng của mình, uổng công chạy trốn vô ích.

Người học Phật trước hết phải rõ nhân quả, khởi công nơi chỗ thận trọng ngay cả khi chỉ có một mình. Đã biết thận trọng khi chỉ có một mình thì tà niệm tự tiêu, đâu đến nỗi có việc trái pháp. Nếu lỡ có tà niệm, phải tự tỉnh xét và sám hối, như vậy mới là hành trì chân thật. Bằng không thì học một đàng, làm một nẻo; tri kiến càng cao, hành vi càng thấp — đó là điều đáng tiếc lớn của những kẻ ngày nay tự xưng thông đạt Phật pháp. Nếu có thể lỗi không phạm lại, thì học được một phần, ắt được một phần lợi ích chân thật.

Phật pháp dạy người cốt để đối trị phiền não tập khí; nên có ba môn học Giới – Định – Huệ làm căn bản. Nhờ giữ Giới mà thân không dám làm điều trái đức trái lý, miệng không dám nói lời vô ích tổn hại. Nhân Giới sanh Định, các tạp niệm rối ren dần lắng, hành vi mê muội tự dừng. Nhân Định phát sanh Huệ, bỗng nhận rõ tánh thanh tịnh, tiến tu các thiện pháp thế gian và xuất thế gian, không điều gì chẳng hợp Trung đạo. Giới, Định, Huệ đều là tu đức.

Người học Phật cốt yếu phải mỗi người tận hết bổn phận mình. Tận bổn phận tức là có liêm sỉ. Như cha từ, con hiếu; anh thương, em kính — đều phải gắng sức thực hành.

Phàm người học Phật, lại có điều cần đặc biệt lưu ý: quan trọng là phải dứt trừ ăn mặn. Vì ăn mặn làm tăng trưởng tâm sát hại. Người và tất cả loài vật cùng sanh ra trong trời đất, tâm tánh vốn đồng; chỉ vì nhân duyên nghiệp quả mà hình thể sai khác. Nếu đời này ta ăn chúng, đời sau chúng ăn ta, oán oán tương báo, thì đời đời sát nghiệp không dứt. Nếu mọi người đều ăn chay, sẽ nuôi dưỡng tâm từ bi, tránh được sát nghiệp. Bằng không, dẫu niệm Phật mà còn tham vui nơi miệng bụng, ăn nhiều thịt cá, cũng chưa thể được lợi ích chân thật của việc học Phật.

Lại phải chí thành ăn chay. Người và động vật vốn bình đẳng, nỡ nào giết mạng sống của chúng để thỏa mãn miệng mình? Thân mình chỉ bị dao cắt nhẹ cũng đã đau đớn. Nghĩ đến điều ấy, lòng dạ thấy đau buốt , sao nỡ sát sanh mà ăn chúng? Huống nữa, người sát sanh ăn thịt dễ khởi tâm sát hại. Tai họa binh đao đời nay đều từ đó mà ra. Cổ ngữ có câu: “Muốn biết kiếp đao binh trong đời, hãy nghe tiếng lò mổ nửa đêm.”

Nếu mọi người đều biết hộ trì và thương tiếc sanh mạng chúng sanh, không nỡ gia hại, thì kiếp nạn đao binh có thể tiêu trừ, vận nước cũng có thể chuyển đổi. Nhưng người đời lại có kẻ một mặt bỏ tiền ra phóng sanh, một mặt vẫn rộng nuôi việc sát hại để ăn thịt. Như thế, tuy có chút công đức phóng sanh nhỏ nhoi, làm sao có thể chống lại tội lỗi lớn lao do sát sanh gây nên?

Người đời ăn thịt đã thành thói quen. Nhưng phải biết rằng bất luận là loại thịt nào cũng đều có hàm chứa độc tố. Đó là vì khi chúng sanh bị giết hại, tâm oán hận và khí uất kết tụ lại thành độc. Con người ăn vào, tuy không đến nỗi lập tức mất mạng, nhưng tích tụ lâu ngày ắt sẽ phát sanh thành ghẻ lở, bệnh hoạn. Người phụ nữ trẻ, sau khi nổi cơn nóng giận phẫn nộ mà cho con bú, đứa trẻ thường tử vong; ấy cũng bởi do sân khí khiến sữa hóa thành chất độc. Sự phẫn nộ của con người, chưa phải là nỗi đau đến mức đoạt mạng, mà chất độc còn như vậy; huống chi heo, dê, gà, vịt, cá, tôm v.v… khi bị giết phải chịu nỗi đau mất mạng, thì độc tố trong thịt của chúng lại càng có thể suy biết được là độc hại như thế nào.

 

Sơ Lược Tiểu Sử Hoà Thượng Tuyên Hoá

 

Hoà Thượng Tuyên Hoá

Vị sáng lập Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới, Tổ Sư khai sơn Vạn Phật Thánh Thành

 

Hoà Thượng Tuyên Hoá họ Bạch. Ngài sanh năm 1918 tại huyện Song Thành, tỉnh Cát Lâm, Trung Hoa (hiện nay thuộc tỉnh Hắc Long Giang). Ngày trước khi chào đời, mẫu thân Ngài nằm mộng thấy Đức Phật A Di Đà phóng đại quang minh chiếu sáng rực rỡ.

Từ năm mười hai tuổi, mỗi ngày sáng sớm và chiều tối Ngài đều hướng về cha mẹ mình mà khấu đầu lễ lạy để nhận lỗi và để báo đáp ơn sâu của cha mẹ. Vào năm Ngài mười chín tuổi thì mẫu thân Ngài qua đời; Ngài ở bên phần mộ của mẫu thân Ngài dựng lều thủ hiếu suốt ba năm. Do đó, người đời gọi Ngài là “Bạch Hiếu Tử”. Cũng trong năm đó, Ngài bái lạy Lão Hoà Thượng Thường Trí làm thầy, xin xống tóc xuất gia, và được ban cho Pháp danh là An Từ, tự là Độ Luân.

Năm 1948, do ngưỡng mộ và tôn kính đức hạnh của Đại Lão Hoà Thượng Hư Vân, vị thái sơn bắc đẩu của Thiền Tông, Ngài đi đến Chùa Nam Hoa ở Quảng Châu để tham kiến và lễ bái Hoà Thượng Hư Vân. Hoà Thượng Hư Vân nhận ra Ngài là bậc “Long Tượng trong Phật Pháp”, liền bổ nhiệm Ngài làm Giám học Học Viện Luật Tạng chùa Nam Hoa. Sang năm sau, Ngài bái tạ từ biệt Hoà Thượng Hư Vân và lên đường sang Hồng Kông để hoằng Pháp, và kiến lập Chùa Tây Lạc Viên, Từ Hưng Thiền Tự, và Phật Giáo Giảng Đường tại Hồng Kông.

Năm 1956, Hoà Thượng Hư Vân lúc này đang ở núi Vân Cư đã truyền trao Pháp mạch, giao phó cho Hoà Thượng Tuyên Hoá trở thành vị Tổ thứ chín của dòng Thiền Tông Quy Ngưỡng. Ngài được ban cho Pháp hiệu là Tuyên Hoá.

Năm 1962, Hoà Thượng Tuyên Hoá đi một mình đến nước Mỹ. Trong thời gian đầu, Ngài tạm thời ở trong một tầng hầm, chờ đợi cơ duyên chín muồi để giáo hoá chúng sanh. Ngài tự gọi mình là “Mộ Trung Tăng” (nhà sư trong hầm mộ).

Năm 1968, nhân duyên chín muồi, thuận theo lời thỉnh cầu của hơn ba mươi sanh viên từ trường Đại Học Washington ở Seattle, Hoà Thượng Tuyên Hoá đã tổ chức Pháp hội giảng Kinh Lăng Nghiêm trong khoá tu mùa hè ở Phật Giáo Giảng Đường tại San Francisco. Khi Pháp hội kết thúc sau chín mươi sáu ngày, có năm thanh niên người Mỹ thỉnh cầu xin xuất gia. Không lâu sau đó, họ đã đến Chùa Hải Hội ở Đài Loan để thọ cụ túc giới. Điều này đánh dấu sự khởi đầu cho việc Hoà Thượng Tuyên Hoá thành lập Tăng Đoàn ở nước Mỹ.

Sau đó, Tăng Đoàn dần dần lớn mạnh. Đó là lý do vào năm 1976, Hoà Thượng Tuyên Hoá đã mua lại bệnh viện Mendocino Tiểu bang California, với diện tích 488 mẫu đất. Sau đó Ngài sửa đổi nơi này trở thành Vạn Phật Thánh Thành (CTTB), làm thành một đạo tràng quốc tế rộng lớn. Bên trong Vạn Phật Thánh Thành, Hoà Thượng Tuyên Hoá cũng lần lượt thành lập những tổ chức giáo dục như trường Tiểu học Dục Lương, trường Trung học Bồi Đức, trường Đại học Phật Giáo Pháp Giới, Chương trình Huấn luyện Tăng Đoàn và Cư Sĩ, …

Đức hạnh của Hoà Thượng Tuyên Hoá đã cảm hoá cho rất nhiều người, và thuận theo lời thỉnh cầu của tín chúng, Hoà Thượng Tuyên Hoá đã lần lượt thành lập các đạo tràng chi nhánh như Kim Luân Thánh Tự, Kim Phật Thánh Tự, Kim Phong Thánh Tự, Hoa Nghiêm Thánh Tự, Pháp Giới Thánh Thành, Kim Thánh Tự, vân vân… Tổng cộng hơn hai mươi đạo tràng đã được thành lập ở Mỹ, Canada, Úc, và Châu Á.

Đại nguyện suốt đời của Hoà Thượng Tuyên Hoá là hoằng Pháp, phiên dịch kinh điển Phật Giáo, giáo dục, và thúc đẩy giao lưu tôn giáo. Hoà Thượng Tuyên Hoá từng nói, “Chừng nào tôi còn một hơi thở, thì tôi vẫn sẽ tiếp tục giảng kinh thuyết Pháp.” Do đó, Ngài đã thuyết Pháp không ngừng nghỉ suốt vài thập kỷ.

Hoà Thượng Tuyên Hoá cũng nói, “Nếu chúng ta có thể phiên dịch kinh Phật ra ngôn ngữ của mọi quốc gia trên thế giới và đem Phật Pháp truyền bá vào trong tâm mỗi người, thì Phật Pháp sẽ trường tồn mãi mãi.” Vì mục đích này, Ngài đã thành lập Viện Phiên Dịch Kinh Điển Quốc Tế (ITI), và huấn luyện đệ tử phiên dịch kinh điển.

Quan điểm của Ngài về giáo dục là: “Giáo dục chính là nền tảng tối căn bản của quốc phòng!” Do đó, để bồi dưỡng và giáo dục nhân tài, ngài đã tích cực thành lập các tổ chức giáo dục, như là trường Tiểu học và trường Trung học để đào tạo nhân tài.

Hoà Thượng Tuyên Hoá chú trọng đến sự đoàn kết giữa các tông phái Phật Giáo, đặc biệt là giữa Nam Tông và Bắc Tông (Phât giáo Nguyên Thủy và Đại Thừa); Ngài cũng nhấn mạnh về sự giao lưu giữa các tôn giáo.

Năm 1987, Ngài tổ chức Hội Nghị Liên Tịch Tôn Giáo Thế Giới tại Vạn Phật Thánh Thành, và sau đó thành lập Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Pháp Giới tại Berkeley, nơi có những cuộc đối thoại giao lưu với các tôn giáo như là Thiên Chúa Giáo, Tin Lành, và các tôn giáo khác để hiểu rõ nhau hơn.

“Tôi từ hư không đến, và sẽ trở về với hư không.”

Năm 1995, Hoà Thượng Tuyên Hoá, người phổ độ chúng sanh với lòng đại từ đại bi, dốc hết tâm huyết, và không bao giờ nghỉ ngơi, đã viên tịch.

Cuộc đời của Hoà Thượng Tuyên Hoá chính là một bộ kinh chân thật và cảm động lòng người nhất. Chỉ cần chúng ta đi theo dấu chân của Ngài và tiến lên không ngừng nghỉ, mỗi người chúng ta đều có thể gánh vác hoài bão chưa hoàn thành của Ngài và kế tục di sản và chí nguyện của Ngài.



Mười Tám Ðại Nguyện của Hòa Thượng Tuyên Hóa

 

Năm Hòa Thượng Tuyên Hóa 19 tuổi thì mẫu thân Ngài qua đời. Sau khi lo liệu chu toàn việc mai táng, Ngài tới Chùa Tam Duyên ở Hợp Nhĩ Tân (Harbin), chính thức xuất gia, lạy Hòa Thượng Thường Trí làm Thầy. Ít lâu sau, Ngài tới mộ phần của mẫu thân thủ hiếu. Năm đó, nhân ngày vía Ðức Quán Thế Âm, ngày 19 tháng 6, Ngài đối trước chư Phật, Bồ Tát phát mười tám đại nguyện:

 

"Kính lạy mười phương Phật,

Cùng với Tam Tạng Pháp,

Quá khứ, hiện tại Hiền Thánh Tăng,

Nguyện rủ lòng tác chứng:

Ðệ tử Ðộ Luân,

Thích An Từ,

Con nay phát tâm rằng:

Chẳng cầu phước báo hàng Trời, Người,

Cùng Thanh Văn, Duyên Giác,

cho đến hàng Bồ Tát quyền thừa.

Duy nương Tối Thượng Thừa

mà phát Bồ Ðề tâm.

Nguyện cùng Pháp Giới chúng sanh,

Nhất thời đồng đắc

A nậu đa la tam miệu tam bồ đề."

1. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Bồ Tát ở mười phương ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp Pháp Giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh Giác.

2. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Duyên Giác ở mười phương ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp Pháp Giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh Giác.

3. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Thanh Văn ở mười phương ba đời, trong tận cùng hư không, biến khắp Pháp Giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh Giác.

4. Nguyện rằng nếu có một vị thuộc hàng Trời, Người ở trong Tam Giới, mà chưa thành Phật thì tôi thề không thủ Chánh Giác.

5. Nguyện rằng nếu có một Người ở trong mười phương thế giới mà chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh Giác.

6. Nguyện rằng nếu có một vị Trời, Người, A-tu-la chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh Giác.

7. Nguyện rằng trong thế giới loài Súc Sanh, nếu còn một loài nào chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh Giác.

8. Nguyện rằng trong thế giới loài Ngạ Quỷ, nếu còn một kẻ chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh Giác.

9. Nguyện rằng trong thế giới loài Ðịa Ngục, nếu còn một kẻ chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh Giác.

10. Nguyện rằng trong Tam Giới, nếu những kẻ từng quy y với tôi, hoặc là Trời, Người, A-tu-la, các loài bay, lặn, động vật, thực vật, linh giới, rồng, súc sanh, quỷ, thần, mà chưa thành Phật, tôi thề không thủ Chánh Giác.

11. Nguyện rằng tất cả những phước lạc mà tôi đáng được hưởng đều hồi hướng phổ thí cho tất cả chúng sanh trong Pháp Giới.

12. Nguyện rằng một mình tôi nhận chịu hết tất cả khổ nạn của chúng sanh trong Pháp Giới.

13. Nguyện rằng tôi sẽ phân linh vô số, phổ nhập tâm chúng sanh nào không tin Phật Pháp, làm cho họ bỏ ác, hướng thiện, hối quá sửa mình, quy y Tam Bảo, rồi cuối cùng thành Phật.

14. Nguyện rằng tất cả chúng sanh nào, khi thấy mặt tôi, cho đến chỉ nghe tên tôi, đều phát tâm Bồ Ðề, mau đắc thành Phật Ðạo.

15. Nguyện rằng luôn tôn kính điều Phật dạy, và thực hành mỗi ngày ăn một bữa.

16. Nguyện giác ngộ loài hữu tình, khắp nhiếp thọ các loài căn cơ.

17. Nguyện trong đời nầy tôi sẽ đắc Ngũ Nhãn, Lục Thông, và phi hành tự tại.

18. Nguyện tất cả mọi cầu nguyện đều hoạch đắc mãn túc.

Cuối cùng:

"Chúng sanh vô biên thệ nguyện độ.

Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn.

Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

Phật Ðạo vô thượng thệ nguyện thành."

 

 

Giới Thiệu Sơ Lược Về Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới

 

Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới (DRBA) được sáng lập bởi Hoà Thượng Tuyên Hoá (tại Mỹ vào năm 1959). Là một tổ chức tôn giáo và giáo dục quốc tế dốc sức tận hiến cho sự học tập, nghiên cứu, tu hành, áp dụng, và truyền bá Phật Pháp.

Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới quy tụ tất cả trí tuệ và lòng từ bi của tứ chúng để hoằng dương Phật Pháp, phiên dịch kinh điển, và đề xướng giáo dục dựa trên nền tảng đạo đức.
Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới tự gánh vác trách nhiệm mang lại bình an và lợi lạc cho chúng sanh. Mong sao làm cho mỗi một cá nhân, gia đình, xã hội, quốc gia, cho đến toàn thế giới đều có thể thấm nhuần Phật Pháp, mong rằng họ sẽ dần dần tiến tới cảnh giới Chân - Thiện - Mỹ.

Tứ chúng Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đều phát nguyện phụng hành theo Sáu Đại Tông Chỉ được lập ra bởi Hoà Thượng Tuyên Hoá:

- Không tranh
- Không tham
- Không cầu
- Không ích kỷ
- Không tự lợi
- Không vọng ngữ\

Tăng chúng thì nghiêm thủ giới luật Phật đưa ra về việc mỗi ngày ăn một bữa ngọ và không rời giới y; và đồng thời trì giới, niệm Phật, học tập giáo lý, tham Thiền, sống hoà hợp cùng nhau, và cống hiến bản thân cho Phật Giáo.
Từ lúc khởi đầu vào năm 1959, Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đã lần lượt thành lập nên hơn hai mươi đạo tràng chi nhánh ở Mỹ, Châu Á, và Úc. Trụ sở là Vạn Phật Thánh Thành, nằm cách San Francisco khoảng 115 dặm về phía bắc. Tất cả các đạo tràng chi nhánh đều nghiêm ngặt tuân thủ nề nếp gia phong do Hoà Thượng Tuyên Hoá thiết lập ra:

Lạnh chết, không phan duyên.
Đói chết, không hoá duyên.
Nghèo chết, không cầu duyên.
Tuỳ duyên nhưng không đổi.
Không đổi mà tuỳ duyên.
Giữ vững ba đại tông chỉ của chúng ta.
 
Xả mạng vì Phật sự.
Tạo mạng là bổn phận.
Sửa mình là việc Tăng.
Gặp sự gì thấu lý ấy.
Hiểu lý gì hành sự ấy.
Tiếp nối nhất mạch tâm truyền của Tổ Sư.
 

Cơ cấu tổ chức giáo dục của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới gồm có: Học Viện Dịch Kinh Quốc Tế, Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Pháp Giới, Chương Trình Huấn Luyện Tăng Đoàn và Cư Sĩ, Đại Học Phật Giáo Pháp Giới, Trung Học Bồi Đức, Tiểu Học Dục Lương. Ngoài việc tích cực huấn luyện nhân tài để hoằng Pháp, phiên dịch kinh sách, và giáo dục đạo đức, thì đồng thời Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới cũng thúc đẩy giao lưu đối thoại nhằm xúc tiến sự đoàn kết và hợp tác giữa các tôn giáo, cùng nhau hợp tác cho hoà bình thế giới, và xem đó là một trách nhiệm quan trọng.

Tất cả các đạo tràng và tổ chức trực thuộc Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đều mở rộng cửa cho tất cả mọi người; không có sự phân biệt giữa ta và người, quốc tịch, tôn giáo. Mọi người, bất kể quốc tịch hay tôn giáo nào, nguyện dốc sức vào nhân nghĩa đạo đức, truy cầu chân lý, minh tâm kiến tánh, thì đều được hoan nghênh đến tu trì và cùng nhau nghiên cứu học tập.
 


Tám Quy Luật của Viện Phiên Dịch Kinh Ðiển

 

1.   Người dịch phải tự thoát mình ra khỏi động cơ truy tìm danh lợi.

2.   Người dịch phải tu dưỡng thân tâm, dứt bỏ thói cao ngạo.

3.   Người dịch phải tự chế, không được tự khen ngợi mình, chê bai người khác.

4.   Người dịch không được tự cho mình là tiêu chuẩn, là thước đo, rồi hạ thấp người khác bằng cách tìm lỗi nơi tác phẩm của họ.

5.   Người dịch phải lấy tâm Phật làm tâm mình.

6.   Người dịch phải dùng Trạch Pháp Nhãn để phán xét đâu là chân lý.

7.   Người dịch phải cung kính cầu thỉnh Cao Tăng Đại Đức mười phương chứng minh cho bản dịch.

8.   Người dịch phải hoan hỷ truyền bá giáo nghĩa Phật học bằng cách in Kinh, Luật, Luận khi việc phiên dịch của mình được công nhận là chính xác.

 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

Ghi Chú Của Ban Biên Tập

 

Các ấn phẩm xuất bản của ban biên tập được lưu thông khắp toàn cầu. Hoa ngữ có sự bất đồng về hoàn cảnh quốc gia và khu vực địa lý. Cho nên, cách dùng từ ngữ chọn chữ cũng có khác biệt. Lấy hai chữ 作 (tác) và 做 (tố) làm ví dụ - đều được phát âm là zuò. Định nghĩa của chúng trong các bản từ điển tiếng Trung Hoa hiện đại là không hoàn toàn giống nhau.

Tra cứu chúng trong từ điển từ các triều đại trước, chúng tôi nhận thấy chữ 作 đã được dùng từ triều đại nhà Hán, trong khi chữ 做 bắt đầu xuất hiện khá lâu sau đó trong triều đại nhà Minh. Chữ 做 của Minh triều là dạng thông tục của chữ 作 của Hán triều. Kể từ thời nhà Minh, chữ 做 rất hiếm khi thấy trong các văn bản Phật Giáo.

Vì lòng tôn kính tuân theo cổ truyền và để tránh những tranh luận không cần thiết, ban biên tập đã quyết định áp dụng chữ 作 thường được sử dụng trong kinh Phật.

 

Trích dẫn từ những bài thuyết Pháp của Hoà Thượng Tuyên Hoá của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới đưa vào tác phẩm Quy Tắc Căn Bản Cho Cư Sĩ

 

 

KỆ HỒI HƯỚNG

Nguyện đem công đức này

Trang nghiêm Phật Tịnh Ðộ

Trên đền bốn ân nặng

Dưới cứu khổ tam đồ

Nếu có ai thấy nghe

Ðều phát lòng Bồ Ðề

Hết một báo thân này

Cùng sanh cõi Cực Lạc.

Nam Mô Hộ Pháp Vi Đà Tôn Thiên Bồ Tát

 

 

 

 

Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới - Vạn Phật Thánh Thành

4951 Bodhi Way, Ukiah, CA 95482 U.S.A

Tel: (707) 462-0939                Fax: (707) 462-0949    E-mail: cttb@drba.org

DRBA Home Page: http://www.drba.org

BTTS website: http://www.buddhisttexts.org

CTTB English website: http://www.cttbusa.org

CTTB Chinese website: http://www.cttbchinese.org                  E-mail: cttbchinese@drba.org

 

 

Các Đạo Tràng Chi Nhánh

 

Hoa Kỳ

 

Học Viện Dịch Kinh Quốc Tế

1777 Murchison Drive, Burlingame, CA 94010-4504 U.S.A.

Tel: (650) 692-5912                Fax: (650) 692-5056

http://www.drba.org/branches/iti

 

Viện Nghiên Cứu Tôn Giáo Pháp Giới (Chùa Berkeley)

2304 McKinley Avenue, Berkeley, CA 94703 U.S.A.

Tel: (510) 848-3440                Fax: (510) 548-4551

http://www.berkeleymonastery.org

 

Kim Sơn Thánh Tự

800 Sacramento Street, San Francisco, CA 94108 U.S.A.

Tel: (415) 421-6117                Fax: (415) 788-6001

http://www.goldmountainmonastery.org

 

Kim Thánh Tự

11455 Clayton Road, San Jose, CA 95127 U.S.A.

Tel: (408) 923-7243                Fax: (408) 923-1064

http://www.drbachinese.org/branch/GSM/index.htm

 

Pháp Giới Thánh Thành

1029 West Capitol Avenue, West Sacramento, CA 95691 U.S.A.

Tel: (916) 374-8268                Fax: (916) 374-8234

http://www.cityofdharmarealm.org

http://www.cityofdharmarealm.org/education.html

 

Kim Luân Thánh Tự

235 North Avenue 58, Los Angeles, CA 90042 U.S.A.

Tel: (323) 258-6668                Fax: (323) 258-3619

http://www.goldwheel.org

 

Trường Đê Thánh Tự

3361 East Ocean Boulevard, Long Beach, CA 90803 U.S.A.

Tel/Fax: (562) 438-8902

http://www.longbeachmonastery.org

 

Phúc Lộc Thọ Thánh Tự

4140 Long Beach Boulevard, Long Beach, CA 90807 U.S.A.

Tel/Fax: (562) 595-4966

http://www.bplmonastery.org

 

Hoa Nghiêm Tinh Xá

9601 Seven Locks Road, Bethesda, MD 20817-9997 U.S.A.

Tel/Fax: (301) 469-8300

http://www.avatamsakavihara.org

 

Kim Phong Thánh Tự

233 1st Avenue West, Seattle, WA 98119 U.S.A.

Tel/Fax: (206) 284-6690

http://www.goldsummitmonastery.org

 

Tuyết Sơn Thánh Tự

P.O. Box 272 / 50924 Index-Galena Rd Index, WA 98256 U.S.A.

Tel: (360) 799-0699                Fax: (815)346-9141

 

 

Canada

 

Kim Phật Thánh Tự

248 East 11th Avenue, Vancouver, B.C., VST 2C3 Canada

Tel: (604) 709-0248                Fax: (604) 684-3754

http://www.gbm-online.com

 

Hoa Nghiêm Thánh Tự

1009 4th Avenue, S.W. Calgary, AB, T2P 0K8, Canada

Tel: (403) 234-0644                Tel/Fax: (403) 263-0637

http://www.avatamsaka.ca

 

 

Hồng Kông

 

Phật Giáo Giảng Đường

Lầu 11, số 31, đường Hoàng Nê Dũng, khu Bào Mã Địa, Hồng Kông

31 Wong Nei Chong Road, Top Floor,

Happy Valley, Hong Kong, China

Tel: (852) 2572-7644  Fax: (852) 2572-2850

 

Từ Hưng Thiền Tự

Vạn Trượng Bộc, Đại Dư Sơn, Hồng Kông

Lantou Island, Man Cheung Po, Hong Kong, China

Tel: (852) 2985-5159

 

 

Đài Loan

 

Hội Ấn Kinh Phật Giáo Pháp Giới (Văn Phòng Đại Diện Của Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới Hoa Kỳ Tại Trung Hoa)

Lầu 11, số 85, đoạn 6, đường Trung Hiếu Đông, thành phố Đài Bắc 11575, Đài Loan

11F., 85 Chung-Hsiao E. Rd., Sec.6., Taipei City 11575, Taiwan, R.O.C.

Tel: (02) 2786-3022                Fax: (02) 2786-2674

E-mail: fajye@drbataipei.org

 

Pháp Giới Thánh Tự

Số 20, Đông Khê Sơn Trang, làng Hưng Long, quận Lục Quy, thành phố Cao Hùng 84445, Đài Loan

20 Dong-Si Shan-Jhuang, Hsing-Lung Village, Liou-Guei Dist.,

Kaohsiung City 84445, Taiwan, R.O.C.

Tel: (07) 689-3713                  Fax: (07) 689-3870

 

Di Đà Thánh Tự

Số 7 Tứ Kiện Hội, thôn Trì Nam, Hương Thọ Phong, huyện Hoa Liên 97445, Đài Loan

7 H Club, Chih-nan Village, Shou-feng, Hualien County 97445, Taiwan, R.O.C.

Tel: (03) 865-1956                  Fax: (03) 865-3426

 

 

Malaysia

 

Pháp Giới Quán Âm Thánh Tự (Quán Âm Đường)

161, Jalan Ampang, 50450 Kuala Lumpur, Malaysia

Tel: (03) 2164-8055                Fax: (03) 2163-7118

 

Pháp Duyên Thánh Tự

1, Jalan Utama, Taman Serdang Raya, 43300 Seri Kembangan,

Selangor Darul Ehsan, Malaysia

Tel: (03) 8958-5668

 

Quán Âm Thánh Tự

166A, Jalan Temiang, 70200 Seremban, Negeri Sembilan, Malaysia

Tel/Fax: (06) 761-1988

 

Phân Hội Tân Thành Tổng Hội Phật Giáo Pháp Giới Mã Lai Tây Á

32-32C, Jalan Tan Sri Teh Ewe Lim, 11600 Jelutong, Penang,

Malaysia

Tel: (04) 281-7728                  Fax: (04) 281-7798

 

 

Úc

Kim Ngạn Pháp Giới

106 Bonogin Road, Mudgeeraba, Queensland 4213, Australia

Tel/Fax: (61) 7-5522-8788, 7-5522-7822

http://www.gcdr.org.au