Hòa Thượng Tuyên Hóa - Từ Hư Không Đến

(Đến từ cảnh giới Hoa Nghiêm)

Sơ lược hành trạng Hòa Thượng Tuyên Hóa

WMV Video: Hòa Thượng Tuyên Hóa - Từ Hư Không Đến - 4

CHƯƠNG THỨ TƯ

Núi Tu di chắn biển lớn, làm thấp độ cao dãy núi

Hòa Thượng dùng văn thơ chở đạo

Đạt Ma tinh thần pháp Tây lưu, Huyền Trang tư tưởng kiến pháp tràng; khúc cao điều quả ngôn hạnh thính, đương sơ nhiên thân phi đẳng nhàn. Nhân tính vô dị nễ ngã tha, Thánh phàm dã kinh khảo nghiệm ma; ký thị đồng đạo tu hành nhân, sự lý minh bạch khởi tương ngại.

Tinh thần pháp Tổ Đạt Ma truyền về hướng Tây, tư tưởng Pháp sư Huyền Trang dựng cờ chánh pháp, âm điệu cao nhã xứng theo việc làm lời nói, nên lúc đầu thiêu thân không phải là vô cớ. Phật tánh không phân biệt giữa anh, tôi và nó, Thánh hay phàm cũng đều phải trải qua khảo nghiệm; đã là người tu hành đồng đạo với nhau, sự lý đều thông há còn nghi kỵ lẫn nhau?

Hòa Thượng giống như như Khổng Tử, suốt đời “giảng dạy mà không có thời giờ sáng tác” (thuật nhi bất tác), lấy việc dạy người làm chính, tác phẩm để lại không nhiều. nhưng Hòa Thượng có “Tứ tuyệt”, là những tác phẩm “vô tiền khoáng hậu” (không tiền tuyệt hậu). “Tứ tuyệt” là bốn sáng tác của Hòa Thượng, đó là “Lăng Nghiêm Chú Sớ Cú Kệ Giải”, “Thủy Kính Hồi Thiên Lục”, “Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải” cùng hơn hai ngàn bài Kệ tụng và Câu đối. “Lăng Nghiêm Chú Sớ Cú Kệ Giải” là tập hợp những lời giảng của Hòa Thượng về Chú Lăng Nghiêm trong suốt tám năm, từ năm 1979 đến năm 1987. Bộ Chú này trong lịch sử Phật giáo rất ít có người giải thích, duy chỉ có Đại sư Tục Pháp đời nhà Thanh là đã từng chú giải qua. Năm 1949, khi Hòa Thượng có được quyển “Lăng Nghiêm Chú Sớ” trong tay, Người đã vui mừng như được của báu mà thốt lên rằng: “Có được cái chưa từng có, nên phải tranh thủ nghiên cứu, mới có thể thấy được cảnh mật, thường thường mang theo bên mình, như chưa từng rời khỏi.”

Hòa Thượng lại bảo: “Chú Lăng Nghiêm có thể khiến cho Chánh pháp được tồn tại lâu dài, tà thuyết vĩnh viễn biến mất, những ai biên chép lại Chú này cũng đồng nghĩa với được vào Đại định cứu cánh, kiên cố.” Sau đó, Hòa Thượng liền tuyên giảng “Lăng Nghiêm Chú Sớ” tại nước Mỹ. Toàn bộ Chú Lăng Nghiêm có năm trăm năm mươi bốn câu, Hòa Thượng dùng thể thơ Thất Ngôn để giải từng câu một, đồng thời dùng lối văn Bạch Thoại giảng lại. Thật có thể nói đây là một tác phẩm “vô tiền khoáng hậu”, rất quý giá. “Thủy Kính Hồi Thiên Lục” là sách do Hòa Thượng giảng trong thời gian bốn năm, từ năm 1985 đến 1989. Nội dung là những lời vịnh tán thán Chư Phật, Bồ tát, La hán, chư vị Đại đức cao tăng của các thời đại, các Cư sĩ tại gia cùng các vị Đại đức, chư vị Dị nhân, Nguyên thủ quốc gia, Văn hào v.v.. từ xưa đến nay, ở trong và ngoài nước, làm thành một tác phẩm bình luận khách quan, giống như “Xuân Thu” của Khổng Tử.

Hòa Thượng vốn viết về lòng trung trinh ái quốc, mong muốn cứu vãn sự hỗn loạn của thời mạt pháp, nói theo cách nói của Khổng Tử là “Cái biết rõ ta, chỉ có Thủy kính! Cái làm tội ta, cũng chỉ có Thủy kính!” (Tri ngã giả, kỳ duy Thủy kính hồ! tội ngã dã, kỳ duy Thủy kính hồ!) “Thủy Kính Hồi Thiên Lục” chính là phái tâm truyền của Sử bút Xuân Thu, cũng là một quyển sách nhân quả sinh động thời hiện đại. Trong quyển sách này, Hòa Thượng giới thiệu sơ lược về cuộc đời của từng nhân vật, kế đến dùng tám câu thơ thể bốn chữ ca ngợi về nhân vật đó, kết luận lại thêm vào phần “Hựu thuyết kệ viết” làm bằng thể thơ Thất ngôn đường luật. Quyển sách này rất đáng để chúng ta suy ngẫm, có thể khiến cho ta thấu tỏ được nhân quả, nhìn gương người trước để biết về người sau, từ đó bỏ ác tu thiện. 

“Phật Tổ Đạo Ảnh Bạch Thoại Giải” là bộ sách Hòa Thượng giảng trong thời gian 13 năm, từ năm 1972 đến 1985, tổng số lần tuyên giảng là ba trăm bốn mươi sáu lần. Chủ yếu của bộ sách là nói về các sự kiện từ Đức Phật Thích Ca đưa cành hoa sen lên mỉm cười (Niêm hoa vi tiếu) và truyền pháp cho Tôn giả Ca Diếp, Tôn giả Ca Diếp lại truyền cho Tôn giả A Nan làm nhị tổ, cứ thế truyền đến đời thứ hai mươi tám là Tổ sư Đạt Ma - vị Sơ tổ của Thiền tông Trung Hoa và lúc này Thiền tông mới chính thức được truyền vào Trung Quốc. Sau khi truyền tới vị Tổ thứ ba mươi ba - Đại sư Huệ Năng, thì phát sanh “Nhất hoa khai ngũ diệp” (một đóa hoa nở ra năm cánh, tức từ một nguồn thiền của Ngài Huệ Năng lại chia thành năm dòng chảy); kế đến năm Nhà chia thành bảy Tông, đó là: tông Pháp Nhã, tông Tào Động, tông Vân Môn, tông Quy Ngưỡng, tông Lâm Tế, phái Hoàng Long và phái Dương Kì. Tiếp đó lại thêm vào chi Ngưu Đầu, Thánh tăng của Trung Hoa và Ấn Độ, tông Thiên Thai, tông Hoa Nghiêm, tông Từ Ân, tông Du Già, tông Luật, tông Liên Xã và mười vị đại Cao Tăng thời cận đại, tổng cộng là ba trăm ba mươi tám vị. Mỗi vị, Hòa Thượng đều dùng tám câu thể thơ Đường luật thất ngôn để tán thán ca tụng, từ sau Tổ thứ sáu của Liên tông - Đại sư Vĩnh Minh Diên Thọ, Hòa Thượng lại thêm vào bài thơ Tứ ngôn bát cú để ca ngợi. Có thể nói đối với ba trăm ba mươi tám vị Tổ sư này, Hòa Thượng đều giảng giải một cách rất tường tận. Nhìn chung, cả một đời của Hòa Thượng thi từ không thiếu, kệ tụng và câu đối ít nhất cũng hai ngàn bài trở lên, mỗi câu đều rất đúng luật khớp vần, khiến ai nấy đều khâm phục trước trí tuệ thâm sâu của Hòa Thượng.