Chinese and English | Vietnamese

Gốc Rễ Sâu, Cành Tươi Tốt

Báo Vajra Bodhi Sea số 381, tháng 2, 2002 (hiệu đính lại bài từ Vajra Bodhi Sea sô 21, 1972 http://www.drbachinese.org/vbs/1_100/vbs21/21_6.html )

 

Sanskrit Lessons by Bhikshuni Heng Hsien

Từ Cổ Ngữ Đến Bồ Đề Hải

Sự Giáo Huấn Của Ân Sư

Một số hình ảnh về Sư Cô Hằng Hiền

Những Lời Dạy Đúng Lúc - Tuyển tập một số lời dạy của Hòa Thượng Tuyên Hóa tại Kim Sơn Thiền Tự vào đầu thập niên 70 từ các tập ghi chép của Sư Cô Hằng Hiền.

 

Giới thiệu về Tỳ Kheo Ni Hằng Hiền

 

Sư Cô Hằng Hiền là người tiểu bang California thế hệ thứ năm và là một học giả đặc biệt đã nhận thức rằng việc nghiên cứu về Phật giáo chỉ có thể thực hiện được sâu xa khi việc học được kết hợp với thực hành. Sư Cô chân thành theo học Hòa Thượng Tuyên Hóa và tuân thủ lịch trình tu hành nghiêm ngặt bao gồm thiền tọa, bái sám, học thuộc lòng kinh, tụng kinh, trì chú và thực hành khổ hạnh ăn một bữa trưa mỗi ngày. Sư Cô chân thành giữ quyết tâm ban đầu của mình là cúng dường tài năng và kiến thức để mang lại lợi ích cho người khác, đặc biệt là giúp dịch Kinh điển Phật giáo sang các ngôn ngữ phương Tây.

Sư Cô Hằng Hiền, luôn là học sinh ưu tú, đã bắt đầu việc học các cổ ngữ lúc còn học ở trường tiểu học khi cô học tiếng La tinh. Mối quan tâm của cô nới rộng đến triết học ngôn ngữ và cấu trúc tư tưởng con người. Cô đạt được văn bằng Cử nhân Văn học Nghệ thuật tại Đại học California Berkeley về môn Văn Chương Đối Chiếu, được vinh danh là sinh viên danh dự của khoa và được bầu vào hội sinh viên xuất sắc Phi Beta Kappa.

Cô được nhiều trường đề nghị cấp học bổng cho chương trình hậu Đại Học, cô chọn theo học tại Đại học Brandeis. Tại đây, cô nghiên cứu các ngôn ngữ Hy Lạp, Ả Rập, Do Thái, Ai Cập, Latinh và Akkadian và nhận bằng Cao Học (Thạc sĩ) sau một năm.

Sau đó, cô quay trở lại trường Đại học California Berkeley dự định học chuyên về tiếng Hy Lạp. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về các triết gia Đông Hy Lạp đã nhanh chóng mở đường đưa cô tiếp xúc với tư tưởng Ấn Độ. Và chỉ cần thêm một bước nữa là đến ngôn ngữ Sanskrit (Bắc Phạn) và kho tàng kinh điển Phật giáo được lưu giữ bằng ngôn ngữ này.

Công trình luận án Tiến Sĩ của Sư Cô Hằng Hiền tại trường Đại học California Berkeley bao gồm tiếng Sanskrit (Bắc Phạn), văn học Vệ Đà Ấn Độ, tiếng Pali (Nam Phạn), tiếng Prakrit và tiếng Phạn hỗn hợp trong Phật giáo.

Tại chùa Kim Sơn Thiền Tự, cô chăm chỉ học tiếng Trung Hoa để có thể nghiên cứu kinh điển Phật giáo bằng tiếng Phạn, tiếng Tây Tạng và tiếng Trung Hoa.

Tháng 7 năm 1971, Sư cô Hằng Hiền thọ giới sa di ni. Tại chùa Kim Sơn, cô đảm nhận giảng dạy toàn chương trình các lớp tiếng Sanskrit (Bắc Phạn), tiếng Pali (Nam Phạn), tiếng Pháp và tiếng Đức. Tháng 9 năm 1972, tại chùa Kim Sơn Thiền Tự, Sư cô thọ Toàn giới (giới cụ túc) và Hòa Thượng Tuyên Hóa là Truyền Giới Sư. Trong buổi lễ chưa từng có này, Sư Cô trở thành một trong những người đầu tiên thọ giới Tỳ kheo ni tại Tây bán cầu.

Năm 1973, Sư Cô Hằng Hiền được trao bằng Tiến sĩ tại Đại học California Berkeley, về Nam và Tây Nam Á học. Là một trong những người sáng lập Hội Dịch Phiên Dịch Kinh điển Phật giáo, Sư Cô bắt đầu cống hiến tài năng và kiến thức quan trọng của mình vào việc dịch thuật cho Hội Phiên Dịch Kinh Sách Phật Giáo. Hòa Thượng Tuyên Hóa đã đặt pháp danh cho sư cô là "Quả Phổ" và pháp hiệu "Hằng Hiền" - tên của Bồ Tát Phổ Hiền. Được nhân duyên này hướng dẫn, Sư Cô đã chọn chú tâm vào việc nghiên cứu và thực hành về Kinh Hoa Nghiêm.


 

Sư Cô Hằng Hiền là người dịch chính cho “Hoa Nghiêm Kinh Sớ Tự” (Lời nói đầu về kinh Hoa Nghiêm) của Quốc sư Thanh Lương , kèm theo chú giải của Hòa Thượng Tuyên Hóa. Đến nay, hơn một nửa bản văn và chú thích của Hoa Nghiêm Kinh Sờ Tự đã được Hội Phiên Dịch Kinh điển Phật giáo xuất bản.

Sư Cô cũng là dịch giả chính cho quyển “Lược giảng Phẩm Thập Địa của Kinh Hoa Nghiêm”, một phần của quyển sách này đã được xuất bản. Ngoài ra, Sư Cô Hằng Hiền còn dịch "Bách Pháp Minh Môn Luận", cung cấp các đồ biểu thuật ngữ và đạo lý bằng ba thứ tiếng cho độc giả.

Là một thành viên tận tâm của Hội Phiên Dịch Kinh điển Phật giáo, Sư Cô đã phục vụ trong bốn ủy ban phiên dịch của Hội trong gần ba mươi năm. Sư Cô đã đóng góp tài năng rộng lớn trong việc duyệt lại song ngữ và ba ngôn ngữ, nhuận sắc và chứng minh sự chính xác của các bản dịch. Sư Cô Hằng Hiền cũng phục vụ nhiều năm làm trợ giảng cho Hòa Thượng Tuyên Hóa khi ngài giảng dạy Chú Lăng Nghiêm, Kinh Niết Bàn và Luận Ngữ của Khổng Tử, Sư Cô Hằng Hiền cung cấp tài liệu tham khảo quý giá bằng ba ngôn ngữ cho lớp học, học thuộc lòng và giải thích sơ lược những đoạn kinh và nhận định các lời giải thích của học viên trong lớp.

Gần đây, Sư Cô Hằng Hiền đã chú thích băng ghi âm “Kinh Hoa Nghiêm – Phẩm Thập Hồi Hướng” do Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng giải, vào các buổi tối giảng pháp hằng tuần tại Vạn Phật Thánh Thành.
 

 

 

Từ Cổ Ngữ Đến Bồ Đề Hải

 Tỳ Kheo Ni Hằng Hiền

(Chủ Bút Báo Vajra Bodhi Sea từ tháng 10, 1984 đến tháng 12, 1991) trích https://www.dharmasite.net/KimCangBoDeHai_KyNiem40Nam.htm

 

Bốn mươi năm về trước tôi là môt sinh viên học tiếng Phạn tại trường Đại Học Berkely California. Với tôi, lý do căn bản để nghiên cứu các ngôn ngữ cổ là vì tôi muốn đạt được cái nhìn sâu sắc về trí tuệ của người xưa để hiểu các nhà triết học, thần học và các lời dạy của tôn giáo trong quá khứ. Nhưng giờ đây nhìn lại tôi nghĩ ngôn ngữ tuy là một chìa khóa nhưng cạm bẫy của sự tìm hiểu đạo pháp từ hướng ngôn ngữ là nó tốn rất nhiều thời gian, và tôi đã vòng vo lạc hướng khi học các ngôn ngữ.  Tuy nhiên một hôm sau một lớp học tiếng phạn về Bhagavad Gita (Chí Tôn Ca), tôi đã có một cuộc thảo luận với một thành viên trong lớp.

Anh ấy tên là Ron Epstein, một người trong giống bao nhiêu sinh viên bình thường khác, không chú ý gì đến tâm linh, đang theo đuổi sự nghiệp học vấn. Có gì đó trong buổi thảo luận đã khiến anh ấy nhận ra là tôi rất nghiêm túc quan tâm đến con đường tâm linh, và không lâu sau đó tôi đã nhận được qua bưu điện ấn bản đầu tiên của nguyệt san Kim Cang Bồ Đề Hải. Trong đó ông Epstein được giới thiệu là một học giả và cũng là một Phật tử thuần thành.  Anh ta là chủ tịch nhà xuất bản Kim Cang Bồ Đề Hải mới được thành lập, là nơi cho phát hành nguyệt san này. Ấn bản đầu tiên ra mắt vào tháng tư năm 1970, lúc đó báo Kim Cang Bồ Đề Hải còn rất nhỏ và in rất giản dị. Mọi thứ toàn bằng tiếng Anh và nó nhìn giống như các tờ “tạp chí nhỏ” khác được ưa chuộng bởi các nhà văn tân tiến thời đó. Bìa ngoài tờ báo in màu vàng biểu tượng cho trung tâm và nguyên tố đất (thổ).  Tạp chí nhỏ đó thật khiến tôi sáng mắt ra, nó giúp trả lời những thắc mắc của tôi về những điều quan trọng trong thế gian này và về những chuyện cần làm trên đời. 

Điều đặc biệt nhất của báo Bồ Đề Kim Cang Hải là những câu chuyện về Hòa Thượng Tuyên Hóa, và nó đã cho tôi biết về ngôi chùa của Ngài tại San Francisco.  Nơi đó có một nhóm người từ nhiều nước đang tu học và điều này khá quan trọng với tôi vì những người này không bị cô lập với đại cộng đồng trí thức bên ngoài. Nhiều người trong nhóm vốn là sinh viên trường Đại Học Washington và họ đã đến San Francisco để tham dự khóa tu học Kinh Lăng Nghiêm do Hòa Thượng Tuyên Hóa hướng dẫn. Sau này họ đã chuyển từ Seattle về học tại vùng vịnh San Francisco để được ở gần bên cạnh Hòa Thượng cho dù khi đổi truờng đã khiến họ mất một số điểm học.  Dựa theo các bài trong tạp chí cho thấy đây là một nhóm khá ấn tượng và không lâu sau đó tôi cũng trở thành một trong số thành viên đó. Đã 40 năm trôi qua kể từ khi tôi được biết đến Hòa Thượng và ngôi chùa của Ngài từ ấn bản đầu tiên của tờ báo Phật Giáo này.  Giờ đây các bài học tiếng Phạn (Sanscrit) hàng tháng của tôi về Kinh A Di Đà đã được in lại, lần này bằng máy điện toán và theo dạng song ngữ, cũng vừa hoàn tất trong số báo này – đúng lúc cho dịp kỷ niệm bốn mươi năm của báo Kim Cang Bồ Đề Hải.

 

 

Sự Giáo Huấn Của Ân Sư

Thích Hằng Hiền

Trích https://www.dharmasite.net/PhapNhuThamAn.htm#24



Khi mới xuất gia, tôi rất tự hào về sự tỉnh thức của mình lúc ngồi thiền, trong khi các vị khác bị ngủ gục. Nhưng sau đó nghiệp chướng lại đến với tôi, vì mỗi khi ngồi xuống là bị ngủ gục ngay. Rồi nó trở thành một vấn đề lớn. Thời đó chúng tôi mỗi khi gặp vấn đề gì đều có cơ hội thưa hỏi với Sư Phụ. Bởi tôi rất quan tâm đến việc mình bị hôn trầm trong lúc tọa thiền, nên tôi thỉnh cầu xin Sư Phụ giúp đỡ. Dĩ nhiên công phu tọa thiền là do sự tự luyện tập ở mỗi người, chớ không có một công thức huyền diệu nào để làm cho được dễ dàng. Tuy nhiên, Sư Phụ đã dùng một phương pháp không tầm thường để giúp tôi. Vốn là lần đó tôi trên chuyến xe buýt đi Los Angeles, vì trong tình trạng tuyệt vọng không tìm ra lối thoát, nên tôi đã phát nguyện trước đại chúng là sẽ không ngủ gục lúc ngồi thiền. Vừa nói xong, có một huynh đệ liền nói với tôi cùng mọi người rằng, tôi không nên phát nguyện vì tôi sẽ không làm nổi. Lời nói đó đã khiến trong tâm tôi có mối nghi ngờ. Và tôi đã không làm nổi theo nguyện vọng của mình. Bởi không làm nổi, nên trong cuộc sống cũng như sự tu hành của tôi bắt đầu phát sanh nhiều vấn đề phiền phức. Lúc chuyện xảy ra thì khó mà giải thích được đó là chuyện gì. Ngay lúc trong tình cảnh như vậy, ta bắt đầu nghi ngờ theo những chiều hướng khác nhau. Nhưng khi suy ngẫm lại sự việc đã qua, thì đó có thể chỉ là phần thay đổi trong tiến trình vượt khỏi cảnh khó khăn.

Lúc đó ni chúng thường luân phiên nhau về trú ngụ tại chùa Kim Luân ở Los Angeles, tiểu bang California. Mỗi tháng Sư Phụ đều về chùa Kim Luân một lần, đồng thời cũng là dịp cho chúng tôi cùng theo xe để đến hoặc trở về. Cũng may là lúc phiên tôi xuống đó thì không phải đi bằng xe hơi, mà là bằng xe buýt, nên có thêm nhiều người cùng đi. Lúc đó chắc là khoảng đầu năm 1980, tôi không nhớ chính xác là ngày nào, nhưng là lúc mà chùa Kim Luân còn tọa lạc ở đường số 6 thành phố Los Angeles. Khi tôi mãn kỳ hạn ở chùa Kim Luân, tôi lại may mắn được trở về bằng xe buýt. Nói may mắn, bởi vì tôi luôn mang theo nhiều đồ đạc mỗi khi đi đây đó, nên khi về cũng cần đem về. Lần này có xe buýt trở lại trong chuyến về, nên tôi nghĩ là không có vấn đề gì.

Tuy nhiên vào sáng thứ hai, lúc lên xe buýt, Sư Phụ đột nhiên thông báo lớn tiếng cho chúng tôi nghe với giọng nói không vui, là tôi không được phép lên xe. Vì lý do gì? Sư Phụ bảo tôi và tất cả những người đến để đưa tiễn Ngài cùng những vị theo xe về rằng: Xe buýt này sẽ không chở người làm biếng như tôi, người mà ngủ gục ngay khi cô ta ngồi xuống! Bởi vậy xe buýt khởi hành mà không có tôi. Tôi bị ở lại Los Angeles với nỗi lòng kinh ngạc và hổ thẹn vô cùng.

Thật ra, hôm đó trời rất trong đẹp, ánh nắng chứa chan vùng Los Angeles. Và chùa Kim Luân tràn ngập bầu không khí vui vẻ, tốt lành từ chuyến thăm viếng của Sư Phụ. Nhưng tôi chỉ cảm thấy vô cùng xấu hổ và hối hận. Tôi không muốn nghĩ đến là mình phải làm gì, mà chỉ biết trở về phòng, nơi tôi đã ở trong tháng qua để ngồi thiền. Quý vị có thể tưởng tượng rằng lúc đó tôi đã không ngủ gục không? Tôi chỉ lo phản tỉnh lại sự nhu nhược và thiếu quyết tâm của mình, với nỗi lòng hối hận sâu xa. Khoảng nửa tiếng sau đó, chúng tôi nghe có tiếng xe trong sân đậu. Thì ra xe buýt đã quay đầu trở lại và cuối cùng tôi đã được phép lên xe! Sau này nghe các sư cô kể là: Khi xe buýt chạy được một khoảng trên xa lộ, thì Sư Phụ bảo tài xế quay về Kim Luân để rước tôi. Tôi nghĩ đối với những ai không có kinh nghiệm về Sư Phụ, thì khó mà biết rằng Ngài đã dùng bao khí lực và tâm sức vào việc giáo hóa chúng đệ tử. Khi tôi nhận sự giáo hóa đó, cùng với bao sự dạy dỗ tương tự, tôi liền tập trung mạnh mẽ thẳng vào tình cảnh ấy ngay.

Hồi tưởng lại, tôi biết rằng không thể hình dung hết được sự từ bi của Sư Phụ, cùng biết bao sự giúp đỡ của Ngài để tôi vượt qua lúc khó khăn - bằng cách cho xe buýt chở đầy người chạy đi một khoảng xa, rồi quay trở lại, khiến tôi buộc lòng cảm thấy xấu hổ, rồi cho tôi niềm vui khi được tha thứ. Và tôi tin chắc rằng Sư Phụ quan tâm rất nhiều về việc tôi có tu hành hay không. Sư Phụ đã không ngừng đáp ứng lời cầu giúp của tôi qua một màn kịch, với bài học sâu sắc khó quên. Còn bao người khác cũng có thể học được giống như vậy, cũng khó mà tính hết, nhưng chắc chắn là họ phải có phần trong sự dạy dỗ này.

Tôi vốn rất chậm chạp, nên có lẽ phải trải qua một thời gian dài mới có thể -không bao giờ ngủ gục khi ngồi thiền. Nhưng tôi đã tiến bộ hơn sau bài học không thể nghĩ bàn đó. 

Bây giờ nhớ lại, tôi cảm thấy, nhất định là tôi đã trồng xuống chủng tử gì rồi, để trải qua một thời gian dài mới mọc lên được. Cũng chính vì lẽ đó, nó sẽ đem lại cho tôi nguồn sức mạnh để hoàn thành nguyện vọng “không thể làm nổi” của mình - là không kiêu mạn mà phải khiêm nhường và biết ơn.