English | Vietnamese

 

Thực Hành Khổ Hạnh, Tâm An Lạc

Trích dịch từ sách "Touching Ground - Devotion and Demons Along the Path to Enlightenment" của Tim Testu, trang 61 - 73

 

 

 

 

 

Chùa Thiên Hậu tại đường Waverly Place, San Francisco. Phật Giáo Giảng Đường ở lầu 4 phía trên cùng trong chùa Thiên Hậu.

 

Tôi tìm ra địa chỉ 125 Waverly Place” tách ra khỏi một con đường bận rộn của phố Tàu cũ xưa ở San Fransico, nơi các người bán hàng bận rộn tỉa và bán các loại rau cải trong mấy chục gian hàng ở ven lề đường. Một tấm bản bằng đồng chỉ hướng cho tôi vào “Phật Giáo Giảng Đường”. Tôi vội vàng leo lên bốn tầng thang gỗ khi lên bước kêu kẽo kẹt, khi đến tầng phía trên tôi gặp hai người đàn ông Trung Hoa lớn tuổi đang trò chuyện. Một người mặc bộ đồ vải nông dân màu xám, còn người kia mặc áo màu vàng sáng chói với một áo khoác ngoài màu đỏ với những miếng vải chắp nối vào nhau có thêu hàng trăm đóa hoa vàng. Mặc dù thấp hơn tôi nhưng trông ông ta có vẻ to lớn với khuôn mặt tròn như trăng rằm.

Tôi bồn chồn thốt ra “Ông Alan Nicholson có ở đây không?”

“Là ai vậy?”, ông già mặc y trả lời, có vẻ như không rành lắm, rõ ràng là ông ta không biết tiếng Anh nhiều. Còn người đàn ông kia lớn tuổi hơn chỉ cười toe toét lộ ra hàm răng đầy những răng hư.

“Alan Nicholson”, tôi nói.

“Người nào, là ai?” Vị sư kia hỏi lần nữa.

Tôi cảm thấy hơi khó xử nên tằng hắng và lớn tiếng kêu to “Alan Nicholson!”.

Vị sư kia cũng lớn tiếng trả lời “Ở trong kia” và rồi hai người họ quay đầu nhìn nhau và cười to. Tôi nghĩ thầm “Có phải đây thật sự là chỗ Alan muốn mình tới không?”

Tôi bước vào bên trong phòng mà ông già kia chỉ. Diện tích phòng khoảng 25 x 50 feet (chừng 120 mét vuông).

Những đám mây hương khói làm thơm không khí, trần nhà được trang trí với những hình gỗ được chạm trổ tinh vi hình các vị Trời, người, các loài thú, loài rồng. Sáu cái lồng đèn Trung Hoa màu đỏ sáng lên yếu ớt và Đằng trước trên chánh điện có một hộp kính rất lớn trong đó ba tượng Phật thếp vàng ngồi trong thế kiết già. Phía dưới là một chiếc ghế lớn bằng gỗ hồ đào và một bàn thờ đầy trái cây, bông hoa và các tượng vàng nhỏ. Dọc theo hai bên tường là các tấm thư pháp bằng chữ Trung Hoa và hình các vị thánh nhân Trung Hoa. Tôi đang ở đâu đây?

Có tới bốn mươi người ngồi chật kín trong căn phòng nhỏ này, tất cả đều ngồi trong tư thế thiền trên những ghế nhỏ, vai kề vai nhìn vào vách tường. Một số trong giống như người Trung Hoa nhưng đa số thì không phải. Bên phía nam họ mặc đồ rộng và thoải mái, còn mấy cô thì mặc đồ đầm nhiều màu. Có cô gái trẻ cài hoa trên mái tóc nậu vàng. Một số dường như là đã xuất gia, đầu cạo trọc mặc áo tràng xám. Có một anh chân mày rậm môi dày nhỏ người, ra hiệu chỉ cho tôi đến một cái gối thiền. Tôi ngồi xuống đó cho đến khi tiếng chuông vang lên.

“Anh biết tôi có thể tìm ông Alan Nicholson ở đâu không?” tôi hỏi. Khi anh ta trả lời bằng giọng phụ nữ khàn khàn lúc ấy tôi mới nhận ra đó là một phụ nữ, đầu cạo trọc. Cô ta chỉ về phía góc. Đúng đó là Alan bạn tôi, chỉ thiếu bộ râu và mái tóc đỏ bờm xờm đặc thù của anh ta. Anh ta bây giờ tóc ngắn, mặc áo quần rộng, và mang một xâu chuỗi tràng hạt. Khuôn mặt anh ta có vẻ trẻ hơn, an lạc hơn, giống như là có ai đó đã xóa đi các vết nhăn. Đôi mắt anh ta trong sáng.

Phật Giáo Giảng Đường (1968)

 

Phật Giáo Giảng Đường - Lễ Quy Y (1969)

Một vị sư gõ vào một cái chuông lớn bằng đồng, to khoảng bằng trái banh lớn tập thể dục, tiếng chuông ngân nga kéo dài như làn sóng tràn ngập căn phòng. Mọi người tụ tập trước bàn thờ - phụ nữ phía bên trái, và nam giới phía bên phải, và nghi lễ bắt đầu. Tôi đứng phía đằng sau, có một phụ nữ Trung Hoa gầy ốm rón rén đến gần, chỉ cho tôi chỗ đang đọc trong kinh. Tôi đưa mắt nhình quanh, Alan mỉm cười, chuông và trống vang dội. Một vị sư gõ vào cái mõ khổng lồ đều đặn. Mọi người, kể cả tôi đều cúi đầu lạy, trán chạm đất.

Sau vài phút, một người đàn ông lớn tuổi xuất hiện từ trong phòng phía sau đi ra. Đây chính là người đàn ông tôi gặp và đã lớn tiếng với ông ở cầu thang. Người ta gọi ông ấy bằng "Sư Phụ", sau này tôi mới hiểu nghĩa là "Thầy" hay là "Cha". Ông ta bây giờ đắp y lụa (1), trân trọng đảnh lễ các tượng Phật trong lồng kính trong khi mọi người đang kính cẩn nhìn ông. Rồi ông lấy ra mấy cây trầm dày từ trong chai thủy tinh và nhấn chúng vào trong lư hương. Lúc ấy tôi không biết tiếng Trung Hoa nhưng những người biết thì bắt đầu tụng:

Nhang thơm thắp lên,
Xông hương Pháp Giới,
Chư Phật hải hội tất đều biết,
Theo mây cát tường

Chúng con thành tâm thỉnh cầu

Chư Phật hiện toàn thân.

Quy y về các Đấng Giác Ngộ, Chư Bồ-Tát, Ma-ha-tát. (2)

Sau đó người ta tụng một loạt các bài chú dài theo nhịp gõ nhanh đều đều của thanh gỗ mỏng gõ vào mõ: Nam mô Như Lai Ứng Cúng Chánh Biến Tri, Nam mô Phổ Quang Phật, Nam mô Phổ Minh Phật, Nam mô Phổ Tịnh Phật, Nam mô...

Về sau tôi được biết đó là bài văn đọc lên danh hiệu 88 vị Phật trong một nghi lễ bao gồm sám hối các nghiệp tội, nguyện sửa đổi nếp sống, hứa tìm cầu Đạo, và khẩn khoản thỉnh chư Phật trụ thế. Rồi mọi người tạo thành vòng tròn vừa đi nhiễu Phật theo đường biên của căn phòng vừa niệm danh hiệu Phật.

Tiếp theo vị sư trụ trì được một thị giả phụ giúp, bước lên pháp tòa, xếp bằng ngồi theo tư thế kiết già là tư thế các vị Phật ngồi thiền từ hàng ngàn năm nay: hai chân bắt chéo vào nhau, bàn chần bên này để lên đầu gối chân kia.

Một khi người đàn ông lớn tuổi đã ngồi vào ghế, mọi người lễ lạy và ngồi xuống sàn nhà. Cô gái tóc nâu vàng bước đến bàn thờ đốt một cây nhang rồi nâng ngang trên đầu trong khi cô ta từ từ đi nhiễu quanh căn phòng ba lần. Sau đó cô ta cũng để cây nhang vào trong lư hương cổ xưa rồi quay về giữa phòng, lạy ba lần và vái, quỳ xuống một gối và thỉnh pháp theo nghi thức: “Kính mong Hòa Thượng vì pháp hội này và vì tất cả chúng sanh, hãy chuyển pháp luân vi diệu, để chúng con nhanh chóng học cách ly khổ đắc lạc, thoát vòng sanh tử luân hồi”.

Hòa Thượng trụ trì gật đầu, và đợi cho mọi người ngồi vào chỗ của mình theo tư thế ngồi thích hợp với họ thì bắt đầu thuyết pháp. Hòa Thượng nói bằng tiếng Quan Thoại, giảng từ bốn quyển kinh theo âm điệu từ tốn như nhạc trong khi một thầy khác thâu băng lại. Sau khi đọc một vài phút, Hòa Thượng để quyển sách xuống, Ngài nhìn chúng tôi mĩm cười từ ái rồi bắt đầu thuyết giảng. Nghi lễ cũng như những lời tụng niệm làm cho tôi cảm thấy thư giãn, và bây giờ khi Hòa Thượng đang nói thì tôi bỗng như thấy mình đi ngược lại thời gian – vào cái thời cách thế kỷ 20 ở Mỹ rất xa. Trong phòng đa số người ta hướng mắt nhìn Ngài với lòng yêu kính, trong khi một số thì nhắm mắt ngồi tĩnh lặng. Trong lúc giảng, có đoạn thì mấy vị tăng ni và những người hiểu tiếng Trung Hoa phát lên cười rộn, tôi cũng cười theo cho dù không hiểu chuyện gì vui nhộn như thế.   

Khi Hòa Thượng nói xong, vị thầy kia quay cuốn băng lại, đeo máy nghe vào tai rồi bắt đầu phiên dịch. Hòa Thượng trụ trì đang nói chính xác về vấn đề đã đeo đuổi làm phiền tôi suốt cả đời, mặc dù là tôi đã không biết là vấn đề đó có một cái tên cho đến lúc đó: tâm loạn (cuồng tâm). Ngài gọi nó là tâm phan duyên, là cái tâm tạo mang lại đau khổ cho chúng ta vì nó không bao giờ biết ngừng nghỉ. Nó thường luôn nắm vào các duyên, luôn nắm bắt và bám vào sự việc bên ngoài cũng như tư tưởng bên trong, luôn mưu toan, tính toán, so đo. Hòa Thượng nói rõ là cái chùng ta cần diệt bỏ không có gì khác hơn là cái tâm điên cuồng bay nhảy này.

Phần giảng kế tiếp là nói về thần thông, là năng lực tâm linh người ta có thể đạt được do sự tu Đạo. Năng lực này bao gồm khẳ năng biết được quá khứ, nhìn thấy tương lai và đọc được ý nghĩ người khác. Nhưng Hòa Thượng khuyên chúng ta không nên cố ý tìm thần thông. Các thần thông này là thành quả tự động có được do sự tu hành của chúng ta. Thật ra, là Phật tử chân chính, chúng ta không nên bám chấp vào việc có hay không có thần thông. Những người chân tu không hề quảng cáo thần thông của họ hay tính tiền lệ phí cho việc dùng những thần thông này, ngài nói như vậy. Những người chân tu cẩn thận giữ gìn những khả năng này, chỉ đặc biệt dùng đến chúng để làm lợi ích cho chúng sanh.

Trong lúc vị thầy đang phiên dịch, tôi chú ý theo dõi Hòa Thượng ngồi trong thế kiết già, mắt nhắm lại, tay kết ấn, miệng thầm niệm chú. Tôi như đang xuất thần.

Khi Hòa Thượng tiếp tục cuộc thuyết pháp bằng tiếng Trung Hoa, tôi chìm dần vào mơ mộng, nghĩ rằng thật là tuyệt vời nếu tôi có thể hàng phục tâm điên cuồng và có thần thông. Tôi hồi tưởng lại thời gian đã trải qua với chiếc tàu ngầm cũ trên biển Thái Bình Dương. Gần đây tôi hay gặp ác mộng, nằm mơ thấy chiếc tàu ngầm khổng lồ len lõi qua những ngọn núi hoặc lặn sâu dưới biển với nước tràn vào ào ạt, chiếc tàu chìm dần trong bóng tối. Tôi thường thức giấc sau những ác mộng này với áo quần ướt đẫm mồ hôi.

Tôi nghĩ, thật tuyệt nếu mình có thể nhìn bên trong đại dương và theo dõi các chiếc tàu ngầm chạy đua trong đêm tối. Rôi tôi mường tượng một chiếc Tiềm-thủy-đỉnh hạt nhân với tốc độ 40 hải lý, nghiêng tàu quẹo nghiêng như chiếc máy bay nhào lộn. Tôi có thể thấy mấy người bạn mình đang đi trong bếp của tàu, uống cà phê và nói chuyện, những người khác đang đọc sách trên giường ngủ của họ – tất cả những hình ảnh đó hiện ra thật rõ như trong phim. Lúc tôi thức dậy từ giấc mơ thì Hòa Thượng cũng mới vừa giảng xong và vị thầy kia đang phiên dịch lại bằng tiếng Anh.

“Khi quý vị trở thành người giác ngộ, thành một Bồ Tát và đắc thần thông”, người phiên dịch nói, “thì quý vị có thể thấy khắp nơi trong vũ trụ. Nếu quý vị muốn nhìn vào bên trong các đại dương trên thế giới, điều đó cũng không trở ngại. Quý vị có thể thấy rõ bạn quý vị đang làm gì. Quý vị có thể thấy các chiếc tàu ngầm bay lượn mà không cần rời khỏi chỗ mình ngồi thiền, không cần vào trong nước bị ướt. Quý vị có thể từ bên ngoài nhìn vô hay từ trong nhìn ra. Tất cả đều như ý quý vị muốn.”

Tôi không thể mô tả sự kinh ngạc của mình như thế nào khi nghe những lời nói này. Đầu tôi bùng loạn lên bao nhiêu cảm xúc. Khoan đã! Làm sao mà Hòa Thượng có thể thấy được những gì tôi đang nghĩ? Tôi không tài nào hiểu được là có ai đó có thể nhìn thấy những tư tưỡng rõ ràng như vậy và tường thuật lại các ý nghĩ đó một cách chính xác như vậy. Làm thế nào mà ngài làm được điều đó. Làm sao mà một người khác có thể biết những gì tôi đang nghĩ? Tuy nhiên tôi không thể có một giải thích nào khác. Thật là quá chính xác để có thể trùng hợp như vậy.

Tôi nhớ lại lúc tôi hút LSD (ma túy) lần đầu tiên, lúc đó tôi thấy tâm mình không chỉ giới hạn trong thể xác này của tôi mà thôi. Vậy tâm tôi ngừng ở đâu và tâm của Hòa Thượng bắt đầu từ chỗ nào. Tôi nhìn lên và thấy Hòa Thượng đang nhìn tôi cười, cặp mắt híp lại. Tôi vẫn còn há hốc kinh ngạc. Nhưng không hiểu sao, tôi cảm thấy thực sự xúc động – cảm thấy được thương yêu ở mức tận cùng sâu thẳm. Đây là vùng tâm thức mới đối với tôi. Xúc động tràn đầy, tôi bắt đầu khóc vì quá vui mừng.

Sau buổi lễ tôi tìm Alan và cùng ra phía hành lang chỗ tôi đi vào lúc đầu. Tôi móc thuốc lá ra nhưng Alan cho hay là ở đây cấm không hút thuốc. Ở chùa này mọi người đều tuân theo quy củ nghiêm ngặt dựa vào năm giới luật: Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối và không dùng các chất gây say. chư tăng tuân theo 250 giới còn chư ni tuân theo 348 giới luật. Alan nói như vậy, Mọi người đều chỉ ăn thức ăn chay cư sĩ thì có thể lập gia đình một vợ một chồng, nhưng các tăng ni thì sống độc thân. “Mục đích giữ giới không phải chì vì là làm người thiện mà vì muốn giới hạn lại sự lậu thoát (overflow), để các năng lượng thường bị thất thoát và phân tán được tập trung và giữ gìn lại”. Nhờ sự hạn chế giao tiếp giữa các căn và thế giới “bên ngoài” nên sức mạnh nhận thức của mỗi giác quan sẽ trở nên rõ rang hơn, sắc bén hơn và mạnh mẽ hơn. Điều nà cùng với sự chỉ dạy của một vị thầy thật sự như Hòa Thượng trụ trì, nó sẽ mở đường làm nền tảng cho sự “Sơ Giác Ngộ”.

"Sơ giác ngộ?" Tôi hỏi.

“Là sự đột phá bất khả thuyết ở đó vũ trụ được thấy chỉ là sự biểu hiện của chính tâm mình”, Alan trầm lặng trả lời. “Giới luật là nền tảng đạo đức mà tất cả các cách tu hành trong tương lai xây dựng từ đó.” “Alan, bộ anh không thấy mệt vì mấy cái quy củ này sao?” Tôi hỏi lại.

Alan đáp là anh cũng tự mình hỏi câu này khi mới về đây. Lúc đó Hòa Thượng đã trả lời là “Có nhiều quy củ là vì người ta không giữ quy củ.”

“Vậy anh có có tuân theo tất cả những điều này không?” tôi hỏi. Alan cho hay, trong thời gian hai tháng khi sống ở đây anh ta đã theo đúng quy củ, chú tâm nghe thuyết pháp, dụng công ngồi thiền rất nhiều, bây giờ lúc nào cũng cảm thấy đời sống tâm linh đến nỗi kinh ngạc. Tôi tin Alan nói thật, dẫu sao chúng tôi từng cùng nhau say sưa nhiêu lần trước đây.

Alan dẫn tôi vào trong nhà bếp là một phòng nhỏ dơ, hẹp, không cửa sổ. Chúng tôi pha trà và ngồi đếm mấy con gián. Anh Guffaw, anh chàng khi xưa là hippie nay thành người nấu ăn mập mạp ở chùa, vừa xả hơi dưới vừa cười khi đang làm bánh mì và hâm nóng lại những đồ ăn thừa trông không hấp dẫn lắm. Alan cảnh báo tôi là không nên bị đánh lừa bởi những trang trí truyền thống của tu viện. Đằng sau những đám mây khói thơm của các cây nhang là đạo pháp rõ ràng nhất, cấp tiến nhất, thanh thoát nhất và thâm sâu nhất, Alan nói với tôi như vậy. Đây không chỉ là một triết lý vu vơ hay một hệ thống tâm lý cao cấp nào đó. Hòa Thượng dạy "từ bên trong mà ra". Giáo Pháp mà Ngài dạy không giống những loại lý thuyết nhe nhàng thời đại mới đang được làm thành sản phẩm quảng cáo bán khắp nơi trên nước Mỹ, không phải nói huyên thuyên – chỉ nói mà không hành. Cũng không phải là một mớ những thứ mơ hồ của những đầu óc dùng ma túy “tự cho là giác ngộ”. Giáo Pháp này là sự diễn bày và nhận thức tột cùng của tôn giáo nhân loại. Cho tới ngày nay, Alan nói, là không có ai ở Tây Phương có đủ tư cách để dạy những pháp này. Nhưng Hòa Thượng trụ trì đây là người có đủ tiêu chuẩn, anh Alan nhấn mạnh.

Sau buổi thuyết pháp tối hôm đó, các nữ Phật tử dọn đồ lái xe về các căn phòng của họ phía bên kia thành phố. Còn phái nam chúng tôi ở lại tụng chú đến mười giờ, sau đó thì tắt đèn. Tôi ngủ trên sàn nhà. Sáng hôm sau Alan mời tôi ghi danh tham gia phần còn lại của khóa tu mùa hè.

Tôi thực sự phấn khích trước viễn cảnh tham gia khóa tu nhưng đồng thời có chút sửng sốt. Đây là quả những gì tôi mong ước – thậm chí gấp mười lần những gì tôi mong ước – nhưng tôi phải suy tính xem thế nào. Tôi cần thời gian để ra quyết định.

Tôi dành hai ngày tiếp theo để đi dạo quanh thành phố Berkeley, hấp thụ ánh nắng, đắm mình trong những cảnh đẹp và suy nghĩ xem cần làm gì trong phần đời còn lại. Tôi không thể gạt hình ảnh Phật Giáo Giảng Đường ra khỏi tâm trí mình. Quyết định là không quá vội vã trong việc giữ giới luật về chất gây say, tôi ăn thật no nê những món ăn thịnh soạn, rượu tốt, bia ngon và không gì ngoài những loại thuốc lá ngon nhất. Tuy nhiên, tôi biết mình sẽ không thể sống theo kiểu này lâu nữa. Tôi không có việc làm, không bạn gái, không có nhà và không ràng buộc gì. Tôi là người tự do nhưng lại chẳng cảm thấy tự do chút nào. Tinh thần tôi khao khát sự thăng hoa. Tôi chắc hẳn đã làm nhiều việc tệ hại hơn việc tham dự khóa tu mùa hè này – tôi đã lãng phí cuộc đời mình vào những việc đó. Chẳng có gì tốt đẹp hơn mà tôi có thể nghĩ ra. Thật có sao đâu! Tôi chẳng có gì để mất nhưng lại có được mọi thứ. Tôi quyết định tham gia.

Tôi quay trở lại Phật Giáo Giảng Đường và ghi danh tham dự những ngày còn lại của khóa tu mùa hè, đồng ý trả một trăm đô la một tháng cho chi phí ăn ở. Đêm đó tôi ngủ cùng với các cư sĩ còn lại trên sàn của Chánh Điện.

Lúc 3:30 sáng, tôi thức giấc bởi một âm thanh khô khốc – một tăng sĩ đang đi quanh chùa và đập hai thanh gỗ cứng vào nhau. Tôi dụi mắt cho tỉnh ngủ và đi vào khu bếp âm u phía sau ba bức tượng Phật khổng lồ ở phía sau giảng đường. Alan đã ở đó, đang đun nước pha trà. Chúng tôi đi lên cầu thang tới sân thượng mái nhà, trên đó trời tối lạnh, đầy sương mù và cơn gió trong lành thổi từ Thái Bình Dương qua ngọn đồi phả vào. Chúng tôi cùng nhau nhâm nhi trà trong khi cả thành phố San Francisco đang ngáy say giấc. Trà có tên là Thiết Quan Âm (Tieguanyin), một loại trà ô long kiểu khác mà sau này tìm hiểu tôi biết được nó được đặt tên theo một vị nữ thần Trung Hoa từ bi là Quán Âm, một ứng thân nữ của Bồ Tát Quán Thế Âm, vị Bồ tát đầy lòng từ bi. Đó chính là tình thương và sự từ bi mà tôi đang cần ngay lúc đó: nhìn về hình ảnh của thành phố nhô ra in lên chân trời, bụng tôi ngổn ngang nỗi phập phồng lo sợ và bất an. Tôi không hiểu mình đang dấn thân vào cái gì.

Lễ Phóng Sanh trên sân mái Phật Giáo Giảng Đường (1969)

 

Ngay cạnh chúng tôi trên sân thượng là ba chiếc thùng gỗ tạp mà tôi đoán là đã được dùng để chuyển ba bức tượng Phật lớn màu vàng nhũ từ Châu Á về. Tôi lén nhìn vào bên trong một thùng và giật thót mình há hốc kinh ngạc. Có một người ở trong đó – một tăng sĩ, đang ngồi thật ngay thẳng trong thế kiết già liên hoa. Alan giải thích rằng các tăng sĩ này phát nguyện không bao giờ nằm, vì thế họ ngủ ngồi, làm theo gương của Hòa Thượng trụ trì, người luôn ngủ ngồi trong hầu hết cuộc đời của mình. Họ hy vọng sẽ tiến hóa tới điểm mà tại đó họ không thực sự ngủ, chỉ cần ngồi trong thế kiết già liên hoa suốt đêm, tâm trí họ ở trong cảnh giới tam muội, hay chuyên chú trong thiền.

Lời nguyện không bao giờ nằm này đứng thứ mười ba trong mười ba khổ hạnh (dhutangas), đó là những khổ hạnh mà Đức Phật đề nghị nên làm nếu hành giả muốn đạt đến một mức độ nào đó. Những khổ hạnh khác bao gồm nhiều hạnh từ việc ngủ dưới gốc cây vào ban đêm cho tới đi khất thực theo một tuần tự nghiêm ngặt (không cố ý tìm đến nhà có thức cúng dường ngon). Chà, tôi sớm nhận ra rằng, Hòa Thượng trụ trì đã không yêu cầu đệ tử của mình đi khất thực từ nhà này sang nhà khác ở nước Mỹ này, nhưng Ngài đã mong họ thực hiện được càng nhiều những Pháp tu khổ hạnh thì càng tốt, như thế sẽ kinh nghiệm được thành qu: tâm an lạc ngọt ngào. Tôi chưa hoàn toàn biết nhiều về điều đó, nhưng Hòa Thượng điều hành chùa như thể chúng tôi vẫn đang ở Trung Hoa vào thời hoàng kim của Phật Giáo cách này chừng một ngàn ba trăm năm. Tại Phật Giáo Giảng Đường vào năm 1970 này, quý vị cũng như đang ở trong triều đại Nhà Đường.

Một lúc sau và trong cùng một lúc, cả ba vị tăng sĩ người Mỹ duỗi thẳng chân và trèo ra khỏi cái hộp riêng của mình. Ở đâu đó phía bên kia của thành phố, Alan nói với tôi, nhiều vị nữ cũng thức dậy và làm những việc tương tự như vậy. Anh ta chỉ cho tôi các bài tập duỗi chân của Trung Hoa giúp lưu thông máu lên não, như thế sẽ giúp ngồi thiền tốt đẹp. Các tăng sĩ trong áo tràng phất phới đi tới tham gia và chẳng bao lâu sau, sân thượng trên mái nhà tràn ngập những nhân vật kỳ lạ đang chầm chậm múa. Tôi là một trong số họ và đã cảm thấy khỏe mạnh hơn.

Tuy nhiên, trước khi ngồi thiền, chúng tôi phải thực hiện công phu sáng.. Bây giờ là 4 giờ sáng, tôi đã hoàn toàn tỉnh táo (cũng nhờ vì trong chùa chẳng có lò sưởi và cửa sổ thì mở toang). Đầu tiên chúng tôi tiến hành lễ dâng hương, tiếng chuông, trống nổi lên, tiếp đến chúng tôi trì chú Lăng Nghiêm với khoảng mười nghìn chữ, đây là chú dài nhất trong Kinh điển Phật Giáo. Mất khoảng 20 phút để trì cả bài. Chú Thủ Lăng Nghiêm rất có uy lực – người ta nói mạnh mẽ tới mức có thể làm “tan biến mọi suy nghĩ mê lầm trong muôn ngàn kiếp” (tiêu ngã ức kiếp điên đảo tưởng) – mà chúng tôi không xướng tụng nhiều mà là đọc lớn tiếng cùng với tiếng gõ nhanh trên cái mõ nặng chừng 25 ký. Khi trì chú xong, đôi tai tôi vẫn còn vang lên và sự yên lặng thật tuyệt vời.

Lúc này gần 5 giờ sáng, đến giờ ngồi thiền. Không giống như các trung tâm Phật Giáo khác vào thời đó, mỗi thời gian thiền tại Phật Giáo Giảng Đường luôn dài đến trọn một tiếng đồng hồ. Trước đây tôi chưa từng ngồi thiền bao giờ, và sau chừng 20 phút, lưng và mắt cá chân của tôi có cảm giác giống như bị ai khoan xuyên vào. Tôi cựa quậy. Tôi cố gắng thử mọi cách để vượt qua cơn đau. Chẳng có cách nào. Đầu óc loạn lên, các suy nghĩ nối nhau liên tiếp tiến triển hoang dã giống như cây thường xuân leo tường vậy – từ nhánh này mọc ra nhánh khác, từ một suy nghĩ nảy ra cả nghìn ý nghĩ khác. Tôi không thể dừng suy nghĩ cho dù cố gắng thế nào đi nữa; cái tâm điên của tôi cứ chạy tán loạn. Đó là tất cả những gì tôi có thể làm bằng cách nào đó qua hai lần ngồi thiền suốt giờ.

Thật không may cho tôi, sẽ còn có những giờ ngồi thiền tiếp – và nhiều nữa. Cuối mỗi ngày và trong tất cả những ngày còn lại của khóa mùa hè đó, đều có một thời khóa như nhau: sau buổi lễ sáng và ngồi thiền, Hòa Thượng trụ trì có buổi giảng Pháp không chính thức, tiếp theo là lớp học tiếng Trung Hoa và ăn trưa. (chúng tôi phải ăn trưa trước 12 giờ trưa bởi vì nhiều người phát nguyện không ăn khi quá giờ 12 giờ trưa, trong đó có Hòa Thượng trụ trì, sau này tôi tìm hiểu biết được Ngài chỉ ăn ngày một bữa trong suốt nhiều thập kỷ - và có những ngày thì không ăn gì cả). Sau đó là đến giờ học thư pháp, rồi buổi Pháp thoại khác do Hòa Thượng trụ trì hoặc một trong các vị tăng, ni nói, rồi ngồi thiền và cuối cùng là nghỉ giải lao ngắn trước khi vào ngồi thiền nữa. Vào lúc 7 giờ tối, chúng tôi tập trung lại làm lễ tối và buổi Pháp thoại chính thức do Hòa Thượng trụ trì giảng, có mở cửa cho công chúng tham dự. Sau buổi giảng, các cư sĩ trở về nhà, các tỳ kheo ni thì lái xe trở về cư xá của họ, còn lại chúng tôi thì trì chú cho tới 10 giờ tối cho tới khi tắt đèn.

Thật khó có thể điều chỉnh bản thân mình theo lối sống khổ hạnh, đặc biệt sau những năm tháng uống rượu và hút xách của tôi, nhưng Alan đã giúp tôi rất nhiều. Anh ấy giới thiệu tôi với năm vị tỳ kheo và tỳ kheo ni người Mỹ, tất cả họ đều vừa mới thọ giới cụ túc trong một buổi lễ lớn tại Đài Loan. Họ đã ở với Hòa Thượng hơn một năm, điều hành tất cả các buổi lễ, giảng Pháp vào các buổi chiều, và đều tham gia rất nhiều trong việc phiên dịch từ Kinh điển tiếng Trung Hoa. Tôi gọi họ là “những đại sư”.

 

Hoà Thượng cùng năm đầu tiên đệ tử phát tâm xuất gia tại Mỹ, ngoài cùng bên phải là TS Epstein.

Năm đệ tử xuất gia đầu tiên tại Mỹ đến Đài Loan thọ giới Cụ Túc (1969 - Sư cô Hằng Ẩn, Thầy Hằng Khiêm. Thầy Hằng Tĩnh. Thầy Hằng Thọ, Sư cô Hằng Trì).

 

Có một người là Suối Nước Róc Rách (Babling Brook), cao 1 mét 95, là người Do Thái, anh ta được đặt tên do khả năng hùng biện tuyệt vời của mình khi giảng bài. Suối Nước Róc Rách đã học tiếng Trung Hoa và triết học trong trường đại học, anh ta rất tự mãn về bản thân. Anh ta có thể diễn thuyết dài về bất cứ chủ đề nào mà không cần chuẩn bị, hoặc với vấn đề đó, thì có kiến thức về chủ đề. Em trai của anh ta là Ralph cũng tu tập ở đây, tuy chưa thọ giới xuất gia. Rồi có Xếp Nhất (First Boss), là vị tăng người Mỹ đầu tiên xuất gia và người phụ tá của Phật, cả hai đều là dân hip-py vùng Tây Bắc Thái Bình Dương trước đây. Trước khi hai người này đến tu viện, họ đã ngập sâu trong thuốc gây ảo giác tới mức mà họ ở mấp mé ngưỡng biến mình thành thùng rác vô giá trị. May thay, nhờ Hòa Thượng trụ trì mà họ từ bỏ được ma túy, rượu, thuốc lá, thịt và phụ nữ rồi trở thành tăng sĩ. Tuy học vấn không nhiều, nhưng cả hai người họ lại tiến triển nhanh tuyệt diệu về tiếng Trung Hoa, họ dịch lời giảng từ tiếng Quan Thoại của Hòa Thượng và đang tham gia dịch bản Kinh Pháp Hoa, một trong những bộ Kinh quan trọng nhất của Phật Giáo. Hai tu sĩ người Mỹ còn lại đều là ni, là Cao - Gầy và Thấp – Dịu Dàng, đều là những vị phiên dịch xuất sắc. Họ dành phần lớn thời gian trong ngày với máy nghe ở tai, ép mình ngồi trong thế liên hoa, nghe những băng giảng của Hòa Thượng, đánh máy chữ dịch bài qua hai chiếc máy đánh chữ IBM Selectric bằng điện màu đỏ tươi.

 

Translating.jpg (150415 bytes)

Sư Cô Hằng Trì đang nghe băng và dịch Kinh giảng (hình chụp đầu thập niên 70)

 

Tôi rất kinh ngạc về mấy vị này – thậm chí có một chút sợ hãi với họ. Tôi cảm nhận có sự tranh đua về vị trí giữa họ - với tôi dường như tất cả họ đều muốn, như Hòa Thượng gọi – là Số Một. Họ đều vượt xa tôi trong tu hành và tôi nghĩ rằng mình chẳng bao giờ theo kịp. Tất cả họ đều có thể ngồi trong thế liên hoa không nhúc nhích trong suốt cả giờ ngồi thiền, trong khi tôi thì bị kinh sợ về nỗi đau đớn.

Khi đến 10 giờ tối là giờ đi ngủ, tôi thì sẵn sàng nằm xuống và duỗi thẳng chân. Trong khi đó, các tu sĩ thì lại không bao giờ ngừng tu hành, hay ít nhất là đang cố gắng. Thậm chí vào ban đêm, khi họ được phép ngủ, thì họ cũng thức khuya trong nhiều giờ để phiên dịch, và tất cả chỉ ăn ngày một bữa.

Mặc dù vậy, điều lớn nhất là tôi ghanh tỵ với sự gần gũi với Hòa Thượng của các vị tăng ni này – họ luôn nói chuyện với Ngài, học cách phiên dịch và có thể nhiều kiến thức phức tạp hơn. Tôi cũng muốn được tiếp cận với trí huệ của Ngài, nhưng tôi quá mắc cỡ để nói chuyện với Ngài. Tất nhiên cũng chẳng được vì tôi không biết một chữ Quan Thoại và tiếng Anh của Ngài thì rất sơ sài. Tôi hẳn đã có thể nhờ vị tăng sĩ nào đó phiên dịch cho tôi, nhưng vì lý do nào đó mà tôi đã không có cảm giác là tôi có quyền làm như vậy. Vì dù sao, tôi đã từng được huấn luyện là có một trật tự điều hành; nếu theo điều duy nhất tôi hiểu được lúc đó thì là một hệ thống theo thâm niên. Sau này nhìn lại, tôi thấy vấn đề thực sự chính là tôi đã không có chút tự tin nào cả, tôi đã bị tiêm nhiễm về suy nghĩ bởi hải quân và nhà thờ Công giáo để sợ hãi quyền lực, và tôi đã như vậy. Bằng cách nào đó mà tôi quyết định hoặc là tôi sẽ nói ra các vấn đề của mình với các tăng sĩ người Mỹ này hoặc đơn giản là chính tôi phải tự giải quyết vấn đề của mình. Tôi đã chọn theo cách thứ nhì.

Sự việc vị Hòa Thượng trụ trì này chẳng giống ai mà tôi đã từng gặp trước đây đã chẳng giúp ích gì cho mặc cảm tự ti của tôi. Vào một chiều mùa hè tuyệt đẹp, sau những nhịp điệu ồn ào và âm vang của buổi lễ, mọi người yên vị để nghe giảng, tôi tình cờ nghe thấy Ngài lặng lẽ quay sang Ralph và nói với anh ta rằng cần phải đặc biệt chú ý tới mọi người. Ngài cảnh báo anh ta quan sát cửa ra vào “vì có ai đó trong tòa nhà này tới đây để ăn trộm”. Dường như Ralph nhanh chóng quên mất những gì mà Hòa Thượng dặn – nhưng tôi thì không. Có thể tôi đã có cảm giác rằng Ngài cũng đang nói chuyện với tôi. Tôi đã nhận ra rằng Ngài có cách làm như vậy.

Khi buổi giảng kết thúc, sự huyên náo trò chuyện và giao tiếp thông thường tuôn trào lên trong Chính điện. Trong khi mọi người đang hứng khởi chúm đầu trò chuyện, bao gồm cả Ralph, thì tôi nhận thấy một người phụ nữ trung niên người Châu Á đi vào phòng phía ngoài Chánh điện và cố gắng lục lọi vơ vét cái thùng phước sương (thùng công đức). Đó thật giống một giấc mơ đang diễn ra sống động: đầu tiên là lời tiên tri, tiếp đến là thật sự xảy ra. Tâm trí của Hòa Thượng dường như có thể liên tục tương thông ra vào tương lai, và Ngài đã mang tôi theo trong chuyến đi (ra vào tương lai) này.

Tôi nhắc báo Ralph và anh ấy đã lao vào, nhanh chóng bắt lấy người phụ nữ, lấy lại tiền từ tay cô ta rồi đuổi cô ta ra khỏi chùa. Hòa Thượng đã trở về phòng của mình, nhưng những lời của Ngài vẫn vang lên trong tâm trí tôi. Tôi không bao giờ quên sự việc về tàu ngầm trong ngày đầu tiên của tôi ở Chánh điện, nhưng sau một thời gian tôi đã cho rằng đó chỉ là sự trùng hợp; làm thế nào mà Ngài lại thực sự đọc được tâm trí tôi? Điều đó hẳn là không thể nào có được. Nhưng bây giờ thì nó lại diễn ra lần nữa: Ngài thực sự biết việc mà người phụ nữ kia sắp sửa làm trước khi cô ta hành động. Tôi gần như không thể lý giải nổi. Dường như việc đọc được tâm trí của cô ta, hay của tôi hay tâm trí của bất kỳ ai đó là điều rất đỗi tự nhiên đối với Hòa Thượng, cũng giống như tôi nói tiếng Anh vậy. Làm sao Ngài có thể làm như thế được? Ngài có được những năng lực ấy từ đâu? Như thế Ngài ở trong cảnh giới bất khả tư nghì nào? Và tại sao Ngài lại tiết lộ bản thân mình cho tôi biết? Liệu tôi có thể làm những điều như vậy nếu tôi tu hành không? Tất cả những biến cố này làm dấy lên niềm tin của tôi đối với Hòa Thượng và với Phật Giáo, gieo hạt giống. Tôi thực sự tin vào vị thầy tuyệt vời này – cho dù tôi không hề có chút ý niệm gì về Ngài thật sự là ai. Tôi bắt đầu quyết tâm tìm hiểu nhiều hơn về người rất kỳ diệu này.

 

 

Ghi chú của Ban Phiên Dịch Việt Ngữ VPTT:

(1) Thật ra y này làm bằng vải giống lụa, nhưng không phải là lụa dệt từ tơ tằm.

(2) Nguyên văn bài Tán Hương Hoa ngữ:

 

       

 

摩訶

Lư hương xạ nhiệt
Pháp giới mông huân
Chư Phật hải hội tất diêu văn
Tuỳ xứ kiết tường vân
Thành ý phương ân
Chư Phật hiện toàn thân.
Nam mô Hương Vân Cái Bồ Tát Ma Ha Tát.