Chinese and English | Vietnamese

Tùy Bệnh Cho Thuốc Chữa Lành Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới

Bài nói chuyện của thầy Hằng Thuận tại Chánh Điện Vạn Phật Thánh Thành vào ngày 8 tháng 8, năm 2012

 

 

Mỗi ngày chúng ta tụng Phẩm Phổ Môn hai lần, đây là một phần trong khoá thất bảy ngày niệm Bồ Tát Quán Thế Âm. Khi tụng đến các bài kệ trong phẩm này, tôi nghĩ tới một câu chuyện hay. Trong Phẩm Phổ Môn có một đoạn kệ như sau:

Sáng thanh tịnh không nhơ,

Tuệ nhật phá các tối,

Hay phục tai khói lửa,

Khắp soi sáng thế gian. (1)

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm

Đoạn kệ này khiến tôi nhớ tới một vị Sa Di, Hằng Lượng (亮 - Lượng: sáng rực rỡ). Hòa Thượng hướng dẫn thầy Hằng Lượng tụng đoạn kệ này như là phần thực hành thiền căn bản. Tôi sẽ giải thích tại sao ở phần dưới của câu chuyện này. Khi tôi nghĩ về câu chuyện này và những ví dụ về những lời chỉ dạy của Hòa Thượng, thì cảm thấy rất kinh ngạc. Trong Phật Giáo, chúng ta nói rằng có 84,000 “Pháp” để đối ứng với 84,000 bệnh của chúng sanh. Tuy nhiên, cần có một người thật sự hiểu về những Pháp này cũng như về tâm trí, nghiệp duyên và những đời trong quá khứ của chúng sanh để có thể biết làm cách nào bào chế thuốc Pháp này thì thuốc mới có hiệu quả. Câu chuyện này là một ví dụ rất hay của đạo lý đó.

Thầy Hằng Lượng tới chùa Vạn Phật từ thành phố Honolulu, tiểu bang Hawaii vào năm 1984. Thầy Hằng Lượng là người em trai của ông Cổ (Mr. Koo), ông là Thư ký điều hành của trường Nam Tiểu Học Dục Lương và Trung Học Bồi Đức tại đây hơn mười năm qua. Trước khi Thầy Hằng Lượng tới chùa, thầy là người lái taxi (2). Thầy sử dụng chiếc xe Oldmobile màu đỏ tía sang trọng của mình để làm taxi. Khi thầy đón khách thì thầy để đèn hiệu taxi trên nóc xe.

Khi thầy Hằng Lượng chuyển tới ở gần Hòa Thượng để học tập tại Vạn Phật Thánh Thành, thầy cũng chuyển chiếc xe từ Hawaii tới để có thể cúng dường Hòa Thượng và Vạn Phật Thành chiếc xe đó. Khi mới đến, thầy ở tại Vạn Phật Thánh Thành. Tuy nhiên, trong một thời gian khá ngắn, thầy tới ở Chùa Kim Sơn Thánh Tự. Vào thời gian đó, tại chùa Kim Sơn cũ ở đường số 15, khu vực Mission, thành phố San Francisco chỉ có vài vị Tăng và ông Châu Quả Lập (3) sống tại đó làm những công việc khác nhau cho chùa và cho Hòa Thượng. Ông Châu Quả Lập là vị thư ký người Hoa của Hòa Thượng, ông đã dành nhiều năm để ghi lại thành chữ viết hơn 2000 bài giảng (ghi âm) của Hòa Thượng về Kinh Hoa Nghiêm. Trong thời gian này, đối với một người mới đến trong một khoảng thời gian ngắn như thầy Hằng Lượng mà lại có thể sống ở Chùa Kim Sơn Thánh Tự là việc khá khác thường.

 

Chùa Kim Sơn Thiền Tự cũ ở đường số 15, khu vực Mission, thành phố San Francisco

Chùa Kim Sơn Thánh Tự hiện tại ở phố người Hoa tại San Francisco

 

Thầy Hằng Lượng là người thật thà, thẳng thắn, vô cùng chân thành. Thầy hoàn toàn tin tưởng Hòa Thượng và có thể hy sinh cuộc đời vì Ngài. Trong thực tế, cả gia đình thầy gồm cha mẹ, anh chị em đều rất tín ngưỡng, tất cả họ đều có niềm tin thâm sâu vào Hòa Thượng. Vì thế thật là tốt đẹp khi thầy tới sống ở chùa. Thầy rất chân thành với những lời dạy bảo và rất quan tâm tới việc thể hiện sự tôn kính đối với Phật Pháp. Vì thế, khi tôi làm điều gì đó không phù hợp với nghi quy chánh Pháp thì thầy sẽ không ngần ngại chỉ cho tôi biết. Tôi đặc biệt nhớ tới lần được thầy chỉ ra lỗi lầm hơn một lần khi tôi thấm nước bọt vào đầu ngón tay để dễ lật trang Kinh hơn. Thầy nói, “Thầy Hằng Thuận. Thầy không thể làm như vậy! Việc đó hoàn toàn không đúng và khiếm nhã. Thầy không thể thấm nước bọt vào đầu ngón tay của mình rồi chạm vào Kinh điển như vậy!” Khi thầy chỉ ra lỗi lầm, tôi có thể thấy rằng thầy rất tha thiết và kính ngưỡng Phật Pháp, tôi đã xúc động và cuối cùng bỏ được thói quen này.

Cuối cùng thầy Hằng Lượng đã xuất gia làm Sa Di. Sau đó, vào tháng Sáu hoặc Bẩy năm 1986, chùa Kim Sơn Thánh Tự dời đến địa điểm hiện tại ở phố người Hoa tại San Francisco. Mặc dù buổi lễ khai quang chùa Kim Sơn Thánh Tự chính thức chưa được thực hiện cho tới tận tháng 2 năm 1987, nhưng chúng tôi đã chuyển tới phố người Hoa ngay sau khi mua được tòa nhà này và sống ở đó trong khi tu sửa lại trong vòng sáu tháng. Vì thế thầy Hằng Lượng cùng với Hòa Thượng và một số chúng tôi đã chuyển tới chùa Kim Sơn Thánh Tự ở phố người Hoa.

Một thời gian ngắn sau khi chúng tôi chuyển tới chỗ mới, một đệ tử của Hòa Thượng là anh Vương Tri Ân (Quả Ân) thường xuyên tới viếng thăm chùa. Thực tế, anh Quả Ân đã sống ở chùa Kim Sơn Thiền Tự vài năm trước trong khi anh ta học để lấy bằng tiến sĩ về kỹ thuật cấu trúc tại trường Đại Học Berkeley. Anh ta chuyên về ngành kiến trúc cầu đường – ví dụ biết chiếc cầu co giãn như thế nào trong các điều kiện thời tiết khác nhau, v..v… Lúc này, thầy Hằng Lượng có bệnh về mắt gây ra vấn đề về thị lực và thậm chí bị đau đầu. Anh Vương Quả Ân qua mối quan hệ với trường Đại học California đã có thể đưa thầy Hằng Lượng đi khám bệnh tại trường Đại Học California ở San Francisco. Ở đó có những sinh viên thực tập chăm sóc mọi người miễn phí dưới sự hướng dẫn của bác sĩ. Đó là một cách để các sinh viên có được kinh nghiệm và xem các sinh viên chẩn đoán các căn bệnh khác nhau đúng như thế nào, họ làm việc đó miễn phí.

Khi thầy Hằng Lượng và anh Vương Quả Ân trở về, họ nói rằng bác sĩ và các sinh viên thực tập không tìm ra bệnh. Tuy nhiên, họ nói rằng có thể có một khả năng rất nhỏ thầy Hằng Lượng bị khối u não, nhưng họ không nghĩ điều này có thể xảy ra. Vì thế, vào lúc đó, việc này không được tìm hiểu sâu thêm nữa. Thầy Hằng Lượng đã kể với Hòa Thượng về chuyện này. Hòa Thượng lúc đó, như tôi nhớ là vào khoảng cuối năm 1986 hoặc đầu năm 1987 đã nói thầy Hằng Lượng tụng bài kệ trong Phẩm Phổ Môn.

Sáng thanh tịnh không nhơ,

Tuệ nhật phá các tối,

Hay phục tai khói lửa,

Khắp soi sáng thế gian.

Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm

Ai biết rằng chính bài kệ này lại là một bài thuốc Pháp phù hợp để chữa căn bệnh về mắt của thầy Hằng Lượng?

Vì thế thầy Hằng Lượng tụng bài kệ này. Khoảng vài năm sau vào năm 1988, thầy tới một vị bác sĩ ở Honolunu để khám.bệnh. Theo như tôi nhớ thì thầy trở lại Hawaii khi ba thầy bịnh. Cho đến lúc đó thì thầy Hằng Lượng đã ở cả hai chỗ của chùa Kim Sơn Thánh Tự tại San Francisco khỏang 4 năm. Vì thế thầy đã trở thành một người huynh đệ tu Đạo gần gũi đối với tất cả chúng tôi ở đó. Khi thầy đi khám bác sĩ, họ phát hiện ra khối u trong não của thầy. Như tôi nhớ thì khối u đó nằm ở dưới đáy của hộp sọ và nó to chừng bằng trái hạnh nhân hoặc quả trứng nhỏ. Nó khá lớn. Bác sĩ nói thầy nên giải phẫu để lấy khối u đó ra. Và họ nói khả năng sống sót sau khi giải phẫu thuật của thầy là 50 phần trăm. Do đó, đây là một tình trạng rất nghiêm trọng.

Thầy Hằng Lượng tiến hành giải phẫu. Sau khi giải phẫu thì thầy bị hôn mê. Tôi cố gắng hỏi ông Cổ để biết rõ hơn về khoảng thời gian thầy bị hôn mê và ông Cổ cũng đã hỏi chị gái ông về điều này. Không ai nhớ chính xác thầy bị hôn mê trong bao lâu, nhưng chúng tôi đoán rằng có thể từ hai đến ba ngày. Rồi mẹ thầy gọi điện thoại đến Hòa Thượng. Lúc đó cũng có thể là Hòa Thượng gọi điện thoại đến bà. Một lần nữa, không ai nhớ chắc chắn về điều này và mẹ của thầy Hằng Lượng thì không còn nữa để nói cho chúng ta biết. Mẹ thầy hỏi Hòa Thượng là bà nên làm gì, do vì thầy Hằng Lượng bị hôn mê mấy ngày rồi và bác sĩ không biết liệu thầy sẽ ra khỏi tình trạng hôn mê hay sẽ vượt qua được.

Hòa Thượng đã hướng dẫn mẹ thầy nói thầm vào tai của thầy: “Hãy trở lại. Hãy trở lại”. Khi mẹ thầy làm theo hướng dẫn của Hòa Thượng thì thật khá kỳ diệu, thầy đã ra khỏi hôn mê. Một lần nữa, tôi cố gắng xác nhận xem thầy đã hôn mê bao lâu trước khi ra khỏi hôn mê, thầy tỉnh lại ngay sau khi mẹ thầy nói thầm lần đầu tiên hay chỉ tỉnh lại sau nhiều lần nói thầm? Không ai nhớ được những chi tiết này. Tuy nhiên, chúng ta có thể nói rằng chỉ thời gian ngắn sau đó, thầy đã ra khỏi hôn mê. Đây là một ví dụ khác cho thấy bậc Thầy giác ngộ biết cách sử dụng vạn “Pháp” để làm lợi ích chúng sanh. Ngài giống như bậc lương y giỏi, thành thạo pha chế đúng loại thuốc.

Vào lúc đó, Hòa Thượng có nói về tình trạng của thầy Hằng Lượng trong một buổi giảng Pháp cho đại chúng tại Chùa Vạn Phật Thánh Thành. Tôi lúc đó ở Chùa Kim Sơn và được nghe từ một vị tăng khác nói lại vào ngày hôm sau. Hòa Thượng nói rằng, trong khi thầy Hằng Lượng hôn mê, Hòa Thượng đã phải đi tới gặp Long Vương ở trong đại dương. Hoá ra thầy Hằng Lượng đã từng là một vị đại tướng của vị Long Vương này trong kiếp trước của thầy. Tôi cho rằng khi làm tướng quân của vị Long Vương này, thầy đã cai quản các sinh vật dưới nước ở vùng biển đó. Lúc này tôi không biết có bao nhiêu vị Long Vương ở các vùng biển khác nhau trên khắp thế giới. Tôi cho rằng có nhiều hơn một vị.

Hòa Thượng nói rằng, vị Long Vương đó muốn thầy Hằng Lượng quay trở lại để tiếp tục trợ giúp và phục vụ ông ta như hồi thầy làm tướng quân cho ông ta. Vì thế Hòa Thượng phải đi xuống Long Cung và nói với vị Long Vương này rằng Ngài muốn thầy Hằng Lượng quay trở lại thế gian. Ngài nói với Long Vương rằng thầy Hằng Lượng đang giúp duy trì và truyền bá Pháp của Ngài và Ngài muốn thấy quay trở lại nhân gian. Và tất nhiên là Long Vương phải bằng lòng. Có thế Long Vương chắp tay cung kính nghe yêu cầu của Hòa Thượng. Tôi thực sự không biết Long Vương đã làm gì, nhưng Long Vương đã lắng nghe Hòa Thượng và thầy Hằng Lượng đã có thể trở lại thế gian.

Thầy Hằng Lượng tiếp tục ở lại Hawaii để hồi sức sau khi giải phẫu. Nhưng thật không may, khoảng nửa năm sau, thầy đã mất vì những biến chứng khác không trực tiếp liên quan tới việc giải phẫu đó. Theo một số thành viên trong gia đình thầy cho biết, Hòa Thượng đã nói rằng nếu thầy có thể trở lại chùa Vạn Phật Thánh Thành thì Ngài đã có thể giúp và ngăn cho thầy khỏi bị những biến chứng mà cuối cùng đã tước đi mạng sống của thầy.

Hòa Thượng rất quý mến thầy Hằng Lượng. Như tôi nói lúc trước, thầy vô cùng cống hiến và thành tâm. Vì thế, sau khi thầy mất, Hòa Thượng đã lập một quỹ đặc biệt chừng 200,000 đô la (tôi quên con số chính xác) mang tên thầy Hằng Lượng, Hòa Thượng nói đó là học bổng dành cho bất cứ ai theo đuổi các bằng cấp về nghiên cứu Phật Học. Quỹ này dành cho tất cả mọi người chứ không chỉ dành cho cộng đồng Phật tử của chúng ta. Qua nhiều năm, quỹ này đã được sử dụng hết để giúp mọi người trong việc học của họ.

Tất cả chúng ta vô cùng may mắn vì được ở nơi mà Hòa Thượng thành lập cho chúng ta để tu hành Phật Đạo. Có rất nhiều trường hợp Hòa Thượng có thể giúp mọi người vượt qua vấn đề của họ, giống như Ngài đã làm cho thầy Hằng Lượng. Trong những trường hợp này, Hòa Thượng biết cách điều chế đúng thuốc Pháp theo những cách vô cùng độc đáo và kỳ diệu. Chỉ có người có trí tuệ uyên thâm mới biết điều gì là cần thiết để giúp đỡ chúng sanh. Tôi nghĩ chúng ta có thể nói rằng Phật Pháp chân thật sống trong tâm của bậc thầy đã giác ngộ.
 

 

Ghi chú:

(1) Nguyên văn Hoa ngữ trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa - Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm:

無垢清淨光

慧日破諸闇

能伏災風火

普明照世間

Vô cấu thanh tịnh quang
Tuệ nhật phá chư ám
N
ăng phục tai phong hỏa
P
hổ minh chiếu thế gian

(2) Thầy Hằng Lượng có thế danh là Minh. Thầy trước khi xuất gia, lúc còn ở Việt Nam, ở trong binh chủng Hải Quân của quân lực Việt Nam Cộng Hòa, được cử qua Mỹ du học về ngành Hải Quân tại Căn Cứ Hải Quân Hoa Kỳ Treasure Island (Treasure Island Naval Base) và sau đó trở về Việt Nam phục vụ. Có lẽ do nhân duyên với Long Cung từ kiếp trước như câu chuyện trên đề cập nên thầy đã gia nhập Hải Quân. Sau khi miền Nam Việt Nam bị cưỡng chiếm, thầy cùng gia đình đến thành phố Honolulu, thủ phủ của tiểu bang Hawaii. Khi có ý định xuất gia, thầy hành nghề lái xe taxi để kiếm một số tiền để lại cho cha mẹ trước khi đi xuất gia.

(3) Xin xem bài Nhân Quả Vay Trả, Mảy May Chẳng Sai của ông Châu Quả Lập tự thuật nhân duyên gặp Hòa Thượng Tuyên Hóa và được biết về tiền kiếp của mình:

Hôm nay nhằm Lễ Phật Ðản (mồng tám tháng tư âm lịch, năm 1983), sao chép Kinh Hoa Nghiêm vừa đến phần Tám Tướng Thành Ðạo của Ðức Phật. Hồi tưởng ngày này năm trước, sớm mai thức dậy chợt thấy rất khó chịu nơi chân phải, một lúc sau thì lại không cử động được nữa, đau đớn như bị ai lấy chùy mà đánh. May nhờ Ân Sư Tuyên Hóa Thượng Nhân từ bi, dùng thần chú gia trì làm dịu hẳn mọi đau nhức. Trải qua nửa năm trời tĩnh dưỡng, sức khỏe được hồi phục; nay lại có thể tiếp tục sao chép Kinh Hoa Nghiêm, tâm nguyện như vậy cũng đã thỏa. Hôm nay cảm khái muôn vàn, bèn mượn bút ghi lại mấy dòng cảm tưởng.

Mùa xuân năm 1975, kẻ viết bài này có duyên may hạnh ngộ gặp Thượng Nhân tại Nhật Bản và được Ngài thâu nhận là đệ tử. Ðến mùa thu năm ấy thì kẻ này sang Hoa Kỳ, nguyện hiến thân cho Phật Giáo, đảm nhiệm công việc sao chép kinh điển. Lòng những mong báo đáp ơn Thầy nên tận lực làm việc, lại đối trước bệ thờ Quán Thế Âm Bồ Tát lập ba đại nguyện: (1) Không tranh hơn, thiệt; (2) Không bàn đúng sai; (3) Không quên ân, oán. Trong cơn bệnh hoạn vừa qua, đã sửa lại là "không nhớ ân, oán" (thay vì "không quên ân, oán") và quyết định chuyên tâm tu tập Pháp Môn Nhẫn Nhục bất luận gặp phải nghịch cảnh nào cũng cố dằn lòng, nhẫn chịu, chứ không tìm cách lẩn tránh. Vì sao? Vì nghiệp chướng mình quá nặng nề, đành phải mượn cách này để tiêu trừ bớt vậy!

Người ta mắc bệnh, tất có nguyên do. Kẻ viết bài này nhờ ơn Thượng Nhân quán sát tiền nhân hậu quả lần đau chân ấy mới biết được rằng: Vào thời triều Tống kẻ này từng giữ chức Sứ Bộ Thượng Thư, do xét án nghiêm khắc mà hại đến ba mạng người. Tuy là vì việc công, song cũng bởi thiếu lòng từ bi nên mới gieo trồng nghiệp chướng. Nay nhân duyên chín muồi, phải cam chịu quả báo một phen bệnh hoạn đau đớn dường ấy. Thật đúng là "nhân quả không sai chạy một mảy may!"

Kẻ phạm tội nọ bị xử chém; vợ y thì treo cổ trên xà nhà tự tử trong lúc đang mang thai một bé trai (gần tới kỳ sinh nở). Bị hại đến nhà tan cửa nát, nữ quỷ bèn tìm tới kẻ viết này đòi đền lại ba mạng người. Thượng Nhân dùng hết tâm cơ điều đình để hòa giải kẻ này mới được vô sự, nữ quỷ chịu xóa bỏ oán thù mà đi. Kẻ viết này rất đỗi hổ thẹn, cam lòng nhận lãnh quả báo.

Nay kính cẩn ghi lại nhân duyên này hầu khuyến khích chư đạo hữu. Ngưỡng mong chư vị sanh tín tâm sâu dày đối với vấn đề nhân quả, thận trọng lúc trồng nhân, và chóng thành tựu Ðạo quả!

Thánh hiền xưa có nói bài kệ nhân quả như sau:

Dục tri tiền thế nhân,

Kim sanh thọ giả thị.

Dục tri lai thế quả,

Kim sanh tác giả thị.

Nghĩa là:

Muốn biết nhân đời trước,

Xem thọ báo đời nàỵ

Muốn biết quả đời sau,

Xét việc hiện đương làm!