Vietnamese|English

Quán Thế Âm Bồ Tát Tầm Thanh Cứu Khổ  

(Pháp thoại tại khóa Quán Âm Thất từ 15/3 đến 26/3/1976)

 

Từ vô thủy quá khứ đến nay, mình đã trải qua hằng hà sa kiếp luân hồi trong vòng sanh tử, tử sanh bất tận.  Mình chưa bao giờ dự pháp hội Quán Âm Bồ Tát, cho nên những tánh hư tật xấu của mình không có mảy may giảm thiểu.  Ngược lại, vô minh và phiền não càng ngày càng tăng trưỏng.  Hiện tại mình có thể tham dự Quán Âm Thất, đó là thiện căn gieo trồng trong vô lượng kiếp xưa giờ đây thành thục khiến mình có cơ duyên hiện diện tại pháp hội vi diệu không thể nghĩ bàn này.  Người thiếu thiện căn hoặc đức hạnh sẽ không bao giờ tham dự được khóa niệm Quán Âm.  

Có được cơ may này, mình phải tận dụng từng phút từng giây, đừng nghĩ ngợi lăng xăng phí thì giờ vô ích.  Khi đầu óc toàn là vọng tưởng thì bạn dù có hiện diện cũng không khác gì chẳng tham gia.  Bởi bạn sẽ không đạt được điều gì tốt lành.  

Mặc dù khóa niệm này chỉ có mới bắt đầu 2ngày thôi, có người đã thấy Bố Tát Quán Âm thị hiện, có người thấy hào quang.  Vô số cảnh giới bất khả tư nghì đã hiển hiện.  Có người sắp khai mở ngũ nhãn.  Ai còn chưa đạt được lợi ích gì thì phải nên hổ thẹn.  Đừng cho rằng mọi người khác cũng giống như mình, chẳng thâu hoạch được gì.  Đó là một điều sai lầm.  

Mình đang ở chánh điện của Kim Sơn Tự, một đạo tràng tương tựa như một lò luyện kim lớn, có đủ loại vàng, bạc, đồng, sắt và chì.  Các bạn thuộc loại nào?  Có chịu được lửa nóng chăng?  

Có câu rẳng: “ Vàng thiệt sợ chi lửa?”  Một khi vàng thiệt được thử lửa, lửa càng nóng thì vàng lại càng sáng chói; càng trở nên vàng ròng.  Loại bạc sau khi nung sẽ ít quý hơn vàng.  Loại đồng lại ít chịu nóng hơn nữa.  Còn sắt thì kém xa.  

Các bạn có thể xem Kim Sơn Tự là lò luyện kim, nơi vàng được thanh lọc.  Kẻ thật tu không ai muốn rời khỏi nơi nầy.  Nếu quý vị muốn tìm một nơi khác để thật sự tu hành thì tôi có thể nói không dễ mà tìm được những tu viện chân chánh.  Các vị tu sĩ tại Kim Sơn Tự đều có “tâm” đạo.  Họ đặt mình vô một môi trường với những nhân duyên vô cùng khó khăn.  Vì họ muốn khổ công tu hành nên hoàn cảnh khó khăn không làm họ nao núng.  

Pháp môn tu Đạo, gồm có tám vạn bốn ngàn.  Mình phải nên quen thuộc với mỗi Pháp môn, không nên chỉ biết có mỗi một phương pháp tu hành.  Nếu mình biết cách tu của mỗi pháp môn thì lâu dài rồi mình sẽ hiểu rõ ràng hằng hà sa Pháp môn.  Nhưng nếu mình chỉ quen thuộc với một pháp tu mà thôi thì sẽ khó mà thấy suốt được Phật Pháp và đạt đến trí huệ bao la như biển cả.  Cũng giống như người nhìn bầu trời qua một cái ống tre rỗng ruột.  Nhưng khi họ đặt ống xuống thì sẽ thấy không gian là bao la vô tận.  Bởi vậy mình không nên thực hành một pháp tu thôi mà phải thấu triệt mọi pháp môn.  

Pháp niệm Quán Âm là một bộ phận của Phật Pháp.  Vị nào chưa tu pháp này thì hãy thử, chớ vì chưa thử mà rút lui không tu.  Vị nào dốc long dự pháp hội cho đến cuối chắc chắn thân tâm sẽ được lợi ích, không nên vì bất cứ lý do gì mà bỏ qua cơ hội đã đến trước mắt.  Chư Bồ Tát thực hành sáu Ba-la-mật và hằng sa hạnh nguyện.  Thứ nhất, bố thí ba-la-mật, nghĩa là cho mà không mong cầu được nhận.  Thứ đến là Trì giới ba-la-mật, nghĩa là đừng làm điều ác mà thành kính làm việc thiện.  Thứ ba là nhẫn nhục ba-la-mật.  Xem bạn có thể nhẫn nại trong khóa niệm Quán Âm Bồ Tát này chăng.  Ai kiên nhẫn thì mới tu trọn thất này, ai thiếu kiên nhẫn thì suốt ngày đầy dẫy vọng tưởng.  Nào là: “ Nếu chịu đựng thêm chút xíu, mãn thất ra quán ăn một trận.”   Hoặc là: “ Niệm Bồ Tát Quán Âm có ích gì?  Chả ý nghĩa gì cả, đi về cho rồi!”  Có vọng tưởng như vậy là thiếu kiên nhẫn, không tu Đạo được, dầu cho có thực hành thiền tọa hoặc trì niệm Phật danh hay Bồ Tát Quán Âm.  Dầu cho thực hành pháp môn nào thì cũng phải áp dụng tính kiên nhẫn và thực sự dung hòa mới đạt được kết quả, bằng không thì pháp môn nào cũng sê thất bại.  Người không kiên nhẫn luôn luôn nghĩ cái này không đúng, cái kia không tốt, không cái gì vừa lòng.  Nếu vậy thì bạn tu cái gì?  Đạo thì không có ngã kiến, không chấp ngã.  Hễ có chấp trước thì vĩnh viễn sẽ không thành tựu được.  Có người nói: “ Tôi thích tọa thiền.”  Nếu vậy thì lại càng phải kiên nhẫn hơn nữa.  

Kế đến là Tinh tấn ba-la-mật, nghĩa là không lười biếng.  Thứ năm là Thiền định ba-la-mật, mình đang trì niệm danh hiệu Quán Âm Bồ Tát để được Bồ tát hóa độ, để có định lực.  Cuối cùng là Trí huệ ba-la-mật, khi đã có định lực thì trí huệ hiện tiền.  

Tất cả sáu ba-la-mật liên quan mật thiết với nhau.  

Có người nói: “ Tôi muốn chuyên chú về thiền.”   Được tôi sẽ nói thế nào là tọa thiền.  Một khi đã nhập thiền đường thì bất cứ thế nào cũng không được bước ra ngoài.  Có người sẽ hỏi: “ Nhưng nếu tôi bệnh?  Tôi sẽ phải làm gì?”  Bệnh thì bệnh thôi.  Dù bệnh thì cũng vẫn phải thiền.  Nếu chết thì sao?  Nếu chềt thì cũng sẽ không được khiêng ra khỏi thiền đường.  Khi một thiền sinh chân chính mà chết thì đồng sinh sẽ đặt vào một tọa cụ rồi để cho sình thúi, chứ không mang ra ngoài.  Quy luật định là nếu có chết thì vẫn không được phép rời chỗ.  

Các vị sẽ nói: “ Như vậy không khác gì ở tù?”  Tôi hỏi lại chứ các bạn không cảm thấy đang ở tù sao?  Mỗi con người bị khóa trong nhà tù của chính mình mà không ý thức tính chân như của các bạn muốn đi cũng không được, mà muốn về cũng không xong.  Nếu đi thì không về được, khi về rồi thì không đi lại được.  Như vậy gọi là sự tự do sao?  Cái thân của mỗi người là một tù ngục, nhưng không ai ý thức được như vậy mà thôi.  

Bởi vậy trong khóa thiền, khi đã vào thiền đường rồi thì không được tự ý đi ra.  Nếu ai muốn đi ra thì cây gậy của vị kiểm tra sẽ đập lên lưng và vai của người đó.  Và đó là ý nghĩa của 2 chữ “đả thất”.  Khi mình “đả” một khóa Quán Âm, mình cũng không được phép rời thiền đường.  Ai đi ra thì sẽ bị đánh.  Tôi hỏi chứ ai bảo bạn đến dự?  Bạn sẽ trả lời: “ Tôi thấy quảng cáo trên bảng nên tôi mới đền đây.”  Đúng, nhưng ai nói sau khi đến, bạn được tự do về không?  

Về nhà?  Bạn chỉ được phép về nếu cần về.  Phải, bạn được phép về nhưng với điều kiện là ai ra về thì phải trả tiền ăn cho cả đại chúng.  Bằng không thì không được tự do ra về.  Tại sao vậy?  Vì bạn đi về rồi thì những người khác sẽ nhìn theo và cũng muốn bỏ về.  Nếu bạn về, rồi người khác cũng về, tất cả mọi người sẽ về hết.  Như vậy điều kiện đặt ra là cứu cho bạn khỏi tạo nghiệp phá hoại đạo tràng.  Trước tiên bạn phải bằng lòng đài thọ phí tổn cho tất cả mọi người dự khóa này, nếu bạn muốn ra về, và tốt hơn hết là bạn hãy ở lại nếu bạn không trả nổi một số tiền quá lớn như vậy.  

Tất cả những ai đến được Kim Sơn Tự để tham dự khóa niệm này đều có nhân duyên sâu đậm với nhau.  Nếu không thì đã không đến được ngưỡng cửa của Kim Sơn Tự.  Đã có nhân duyên thì sao lại không kết bạn với nhau?  Hãy cùng nhau tinh tấn.  Mình sẽ tiến về đâu?  Đến chỗ nào mà tâm thức muốn đến.  Mỗi người hãy giúp đở bạn mình.  Tại sao như vậy?  Vì không có sự nâng đở lẫn nhau thì tôi e rằng mình đi sai hướng trên con đường tu học.  

Có thể mình niệm Quán Âm Bồ Tát thường xuyên mỗi ngày mà không hiểu ý nghĩa là gì?  Quán là xem xét, xem xét tất cả âm thanh toàn thế gian.  Quán cũng là nhìn suốt, nhưng không phải nhìn bề ngoài của sự vật, mà là nhìn vào tâm chúng sanh.  Quán Âm Bồ Tát nhìn để biết chúng sanh nào diệt được vọng tưởng, bởi vì một khi vọng tưởng không còn thì tâm vắng lặng, lúc đó là giác ngộ.  

Có câu kệ rằng:  

“Mọi  người mười phương đến,

Tu học Pháp vô vi.”  

Tất cả đến pháp hội này từ mười phương để hành trì pháp “vô vi”.  Trì tụng hồng danh Quán Âm Bồ Tát là một pháp vô vi, có nghĩa là không có cái gì đã xong mà cũng không có cái gì chưa xong.  Pháp vô vi này dạy ta dứt bỏ mọi vọng tưởng.  

Khi các bạn niệm Quán Âm thì Bồ Tát cũng nghĩ đến các bạn, đó là hỗ tương giao cảm.  Cũng như khi các bạn nghĩ đến người thân thì họ cũng nghĩ đến các bạn.  Từ vô thủy kiếp lai, Bố Tát Quán Âm có liên hệ với mình.  Thời gian nào và bắt đầu từ lúc nào?  Thời gian đó bắt đầu với Đức Phật A Di Đà.  Phật A Di Đà là vị đạo sư ở Tây Phương Cực Lạc.  Ngài là bổn sư của Bồ Tát Quán Âm, và Bồ Tát giúp Ngài hoằng dương Pháp Tịnh Độ.  Bồ Tát Quán Âm cũng là vị huynh trưởng của chúng sanh.  Chúng sanh mình là sư đệ của Ngài nhưng chưa được vãng sanh về cõi Cực Lạc.  Giảng giải như vậy thì chúng sanh đều là bà con thân thiết với nhau.  Mình phải tưởng nhớ đến bà con, đến các pháp hữu thân thiết của mình thì các vị đó sẽ tưởng nhớ đến mình.  Nếu mình là sư đệ của Bồ Tát Quán Âm thì Bồ Tát phải là sư huynh của mình.  Có người sẽ nói: “ Làm sao Bồ Tát Quán Âm là sư huynh của tôi được?  Như thế có cống cao ngã mạn không?”  Không những Bồ Tát coi mình như sư đệ, Bồ Tát còn coi tất cả chúng sinh như là sư đệ.  Bằng không thì tại sao Ngài lắng nghe lời cầu xin và đến cứu giúp mình?  Khi chúng sinh gặp hoạn nạn, tại sao Ngài muốn cứu giúp.  Bởi vì Ngài coi tất cả chúng sinh như chính tay chân của Ngài, như chính thịt xương của Ngài.  Do đó mà Bồ Tát Quán Âm không ngại khó khăn nguy hiểm để cứu độ tất cả chúng sanh đau khổ trong cõi ta bà này.  

Dầu trong giây phút mình cũng không được quên Ngài.  Khi mình nhất tâm niệm Nam-mô Quán Thế Âm Bồ Tát thì Ngài cũng nhất tâm nghĩ đến ta.  Dầu mình chỉ có một niệm thôi.  Song hễ nhớ đến Ngài thì Ngài sẽ nhớ đến ta.  

Quán Thế Âm Bồ Tát xem mình như sư đệ của Ngài, là những kẻ sẽ thành Bồ Tát, thành Phật trong tương lai.  Nếu có thể hiểu được như thế, thì mình phải thành tâm hơn.  Phải hết sức thành tâm niệm danh hiệu sư huynh Bồ Tát Quán Âm.  Đừng bỏ mất cơ hôi này!  

Khi niệm danh hiệu Ngài, ta không nen gục đầu mà phải ngẩng cao lên, không được lơ là chễnh mãng, phải dũng mãnh tinh tấn mà niệm.  Bồ Tát Quán Âm sẽ nói: “Mau lên! Hãy nắm tay ta!” và Ngài sẽ cùng với ta đến cõi Tây Phương Cực Lạc.  

Có người tự hỏi: “ Sao Bồ Tát Quán Âm cứ quán sát, quán sát, quán sát suốt cả ngày?  Còn ta không được phép quán sát cái gì cả?”  Họ phải biết rằng họ quán sát không giống như Bồ Tát quán sát.  Họ quán sát bên ngoài.  Bồ Tát quán sát bên trong, quán sát tự tánh, quán sát vọng tưởng của chúng sanh.  Cho nên sự quán sát của Ngài không như sự quán sát của chúng sanh.  Vì chúng sanh ở xa Ngài nên Ngài cần dùng đến ngàn tay, ngàn mắt.  Ngài muốn quán sát vô lượng chúng sanh, nhưng mắt của Ngài cũng không thể thấy hết được.  Vì lẽ đó Ngài “hồi quang phản chiếu”, nhìn vào bên trong và lắng nghe tự tánh của Ngài hòa đồng với chúng sanh  Ngài muốn biết nỗi đau khổ và phiền não mà chúng sanh đang chịu đựng để ra tay cứu độ.  

Còn các vị thì nhìn bên ngoài nên quên mất trí huệ thường hằng bên trong của mình.  Đó là hai cách nhìn khác nhau.  

Có người nói: “Thưa Hòa Thượng, con không tin được lời Hòa Thượng.  Bồ Tát Quán Âm là một vị Thánh, còn chúng con là người phàm.  Làm sao người phàm có thể làm anh em với một vị Thánh được?  Như thế, không hợp lý, con không tin.”  

OK, không tin cũng đưọc.  Các bạn lý luận theo quan điểm của một người phàm trần.  Vì chưa thâm nhập kho tàng kinh điển nên trí huệ của các bạn chưa thâm sâu bằng biển cả được.  

Kinh Hoa Nghiêm dạy:  

“Từ thuở vô thỉ đến nay, ta và tất cả chúng sanh đều là anh em chị em, hoặc là cha mẹ, hoặc là vợ chồng liên hệ với nhau.”  

Như vậy khi các bạn nói không tin là vì chưa minh liễu chân lý trong Kinh Hoa Nghiêm.  Không những Bồ Tát mà Phật cũng nhìn chúng sanh như cha như mẹ trong quá khứ.  Vì Phật coi chúng sanh như anh em chị em, có gì là không hợp tình hợp lý đâu?  Các bạn không tin chỉ vì chưa đủ trí tuệ mà thôi.  Các bạn chưa đọc Kinh Hoa Nghiêm nên dù cho tôi có nói gì đi nữa thì các bạn cũng không tin được  

Tại sao Phật muốn cứu độ chúng sanh?  Là vì Ngài coi chúng sanh như cha mẹ, bị trói buộc trong vòng sanh tử, khổ não nên Ngài muốn độ thoát chúng sanh, làm mọi cách để cứu cha mẹ khỏi khổ và được vãng sanh cõi Cực Lạc.  

Mình niệm và đảnh lễ Bồ Tát Quán Âm suốt ngày, nhưng nếu Ngài thị hiện trước mắt ta, thì ta không nhận ra Ngài.  Bởi vậy tôi nói là chúng sanh thật đáng thương xót.  

Tại sao tôi nói như vậy?  Tôi muốn nói là Bồ Tát muốn thử thách mình.  Khi mình niệm danh hiệu Ngài thì cũng phải bắt chước Ngài, phải có đại từ, đại bi, đại nguyện và đại lực như Ngài.  Nghĩa là nếu ai chửi rủa đánh mắng thì phải nhẫn nhục chịu đựng cho đến mức độ là dù bị giết, mình cũng cam chịu như là trả một món nợ hay một quả báo.  Tại sao vậy?  Vì nếu trong quá khứ tôi không chửi mắng người khác thì hiện tại tôi không bị chửi mắng, trong quá khứ tôi không đánh đập ai thì hiện tại không ai đánh đập tôi.  Tại sao có người muốn rủa, muốn đánh hay muốn giết tôi?  Bởi vì trong quá khứ vì tôi si mê nên đã rủa, đã đánh, đã giết họ, nên nay tôi phải trả quả báo, phải trả các món nợ của tôi trong quá khứ mà tôi chưa trả được.  Nay tôi đã hiểu định luật quả báo thì tôi phải trả hết nợ một cách ngay thẳng công bằng.  Trả hết nợ rồi thì mình sẽ thấy Bồ Tát Quán Âm thị hiện và mới chính thật là pháp hữu của Ngài.  

Bởi vậy khi trì niệm danh hiệu Quán Âm Bồ Tát, ta không nên có ý ganh ghét thù hiềm kẻ khác.  Như thế là chưa chấm dứt phiền não, chưa nhổ hết gốc rễ của khổ đau.  Tất cả mình phải nhận diện rõ ràng mọi tình huống, và tìm hiểu sâu xa cội nguồn của mọi Pháp.  

Người học Phật phải biết cách áp dụng và thực hành Phật Pháp.  Bằng không thì Phật Pháp vẫn là Phật Pháp, các bạn vẫn là các bạn.  Nếu có thể thực hành Phật Pháp thì các bạn sẽ được hoà đồng làm một với Phật Pháp vậy.  

Nhẫn nhục là điều quan trọng vì đòi hỏi các bạn phải chịu đựng những điều thường ngày không chịu đựng nỗi.  Ví dụ như có ai đến mắng nhiếc thì cũng phải kiên nhẫn chịu đựng.  

Ví dụ như có ai đánh đập thì phải cảm thấy sung sướng hơn nữa.  

Ví dụ như mình không muốn chết vì sự sống rất là quý báu, nhưng nếu có ai muốn giết mình thì phải nghĩ rằng: “ Chết là giải thoát khỏi các nghiệp chướng trong quá khứ đã tạo nên.  Người giết mình chính thật là thiện tri thức.”  Các bạn học Phật Pháp mình phải biết xoay ngược tình thế; tu đạo cũng phải biết xoay ngược tình huống mà tu.  Thế nào là đảo ngược tình thế?  Tức là việc mình không thích làm thì cứ làm đi.  Chẳng phải là việc hễ mình không ưa, bèn đẩy cho kẻ khác làm.  

Nếu các bạn cũng như đa số kẻ phàm tục, không thấu suốt, không xả bỏ chấp ngã và chấp pháp, đầy dẫy chấp nhân, chấp ngã, chấp chúng sanh, chấp thọ giả thì bạn sẽ gặp đủ khó khăn trắc trở.  

Nhưng khi nghịch cảnh đột xuất, các bạn thối lui một bước và bình tĩnh đối diện nó thì dù cho việc gì xảy ra, các bạn vẫn là “biển cả mênh mông bầu trời trống lặng”.  Các vị luôn luôn chế ngự được mọi tình huống.  

Mình học Phật, không nên học thứ cao siêu diệu vợi.  

“Tâm bình thường là Đạo.

Tâm ngay thẳng là đạo tràng.”

Hãy dùng lòng ngay thẳng chân thật tu Đạo.  Khi niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Âm, không nên khởi lòng tham, hy vọng trở nên giàu có.  Đó là việc không thể được!  Thật ra nếu các bạn hết lòng tham, các bạn sẽ giàu sang.  Khi nổi lòng tham.  Các bạn sẽ chẳng gặt hái gì.  

Lại nữa, các bạn chẳng cần phải quảng cáo khi tham dự khóa niệm Bồ Tát Quán Âm: “ Tôi đã dự khóa niệm tại chỗ nầy chỗ kia.  Anh không tu như tôi, anh không bằng tôi.”  Hãy tránh vọng tưởng này.  Đừng tham danh, tham lợi, tham hưởng thụ hay mong cầu gì cả.  Khi niệm danh hiệu Bồ Tát, hãy có thái độ bình thường tự nhiên.  Chớ bắt chước những kẻ miệng niệm mà tâm thì mong: “ Tôi chưa có con. Tôi cầu mong Bồ Tát Quán Âm sẽ cho tôi mot đứa con trai.”  Kẻ kia thì xin đứa con gái.  Con trai thì niệm Bồ Tát để xin vợ đẹp, con gái thì xin có chồng,có bạn trai.  Như vậy là không thể chấp nhận được.  

Trong lúc niệm phải quét sạch tất cả những vọng tưởng trần cấu, tất cả tham, sân si.  Ví như, không nên để ý đến y phục có đẹp đẽ không mà chỉ lo sao cho đũ ấm. hoặc xem thức ăn hằng ngày có cao lương mỹ vị không.  Nếu khởi vọng tưởng như vậy thì không phải là một thái độ chân thật khi niệm Bồ Tát Quán Âm.  Vì nếu chân thật thì làm sao có thể còn chú ý đến ăn ngon hay mặc đẹp nữa?  Trái lại phải gạt bỏ những vọng tưởng đó thì mới có thể hợp làm một với Bồ Tát Quán Âm được.  

Trong tâm của mỗi chúng sanh đều có một Bồ Tát Quán Âm.  Nhớ niệm Bồ Tát Quán Âm chính là tưởng niệm Quán Âm Bồ Tát trong tâm mình.  

Có người nói: “ Tôi quán sát tâm tôi, nhưng tại sao tôi không thấy cái tâm?”  

Nếu thật quý vị không có cái tâm thì không cần phải niệm Bồ Tát Quán Âm làm gì.  Bởi vì Bồ Tát Quán Âm chính là tâm mình.  Bồ Tát Quán Âm không có gì trong tâm Ngài.  Lòng Ngài chẳng chút vọng tưởng, chẳng tham sân si, chẳng tính toán ngày nay cần mặc áo gì cho đẹp, hoặc ăn gì cho ngon, hưởng thụ chút cúng dường.  Ngài hoàn toàn không chấp trước, không mong cầu việc gì.  

Ngài chỉ muốn độ thoát chúng sanh.  Ngài nguyện làm tất cả chúng sanh ly khổ đắc lạc, liễu sanh thoát tử, chấm dứt mưu cầu, đạt thành Phật quả.  Ngài mong chúng sanh minh liễu Phật Pháp, diệt trừ tham sân si.  

Cả ngày khi bạn niệm danh hiệu Quán Âm Bồ Tát, chớ nghĩ lăng xăng rằng: Sáng không điểm tâm.  Tối không trà uống.  Khổ thiệt!  Về thôi!  

Người tu hành kiểu đó thì tệ quá!

 

Return to homepage | Top of page