Vietnamese|English



Thiền Thất Khai Thị

Hòa Thượng Tuyên Hóa

Tham Thiền có nghĩa là không khởi vọng tưởng

 

Tham Thoại Ðầu—Dùng Một Vọng Tưởng Ðể Chế Phục Các Vọng Tưởng Khác

 

Bây giờ sắp bắt đầu Thiền Thất.  

Ở Thiền Ðường thì chúng ta không niệm Phật; trong khóa Phật Thất thì chúng ta không tham thiền. Bây giờ, chúng ta phải “ đi cũng Thiền, ngồi cũng Thiền, đứng cũng Thiền, nằm cũng Thiền’’--nói chung là đi đứng, nằm, ngồi đều tham Thiền.  

Trước kia, kẻ tham Thiền thì chẳng hề khởi niệm; đó gọi là vô niệm.  

                    Nhất niệm bất sanh, toàn thể hiện,

                         Lục Căn hốt động, bị vân giá.

Nghĩa là:

                             Một niệm chẳng sanh:

                          toàn thể (chân tâm) hiện,

                            Sáu Căn bỗng động:

                           (Phật tánh) bị mây che.

 

Tham Thiền tức là tham cứu “một niệm chẳng sanh.’’ Tới đời nhà Minh thì người ta mới áp dụng phương pháp tham thoại đầu. Nay thì Thiền Ðường nào cũng tham thoại đầu.  

Có rất nhiều loại thoại đầu, như: “Ai niệm Phật?’’ Hoặc “Khi cha mẹ chưa sanh ra ta thì mặt mày ta ra sao? “hoặc “Thế nào là “chẳng có’?’’ v.v...  

Tham Thiền là không khởi vọng tưởng gì cả. Thí dụ khi tham cứu câu “Ai niệm Phật?’’ thì mình cứ suy nghĩ, tìm xem ai là kẻ niệm Phật?’’ Song , kỳ thật đây cũng chỉ là một vọng tưởng; chẳng qua là chúng ta dùng một vọng tưởng để khống chế mọi vọng tưởng khác mà thôi. Biện pháp này gọi là “dĩ vọng chế vọng, dĩ độc công độc.’’ Thậm chí niệm “A Di Ðà Phật’’ cũng là “dùng vọng chế vọng’’; nghĩa là cái ý nghĩ niệm Phật và vọng, không thật. Và ngay cả cái niệm tham cứu câu “Niệm Phật là ai?’’ cũng là vọng. Song, đó là vì một vọng tưởng này có khả năng khống chế được tất cả vọng tưởng khác. Ðây là đạo lý tham Thiền.  

Người tham Thiền thì “Phật tới chém Phật, ma tới chém ma,’’ không chấp trước cảnh giới nào cả. Khi tham Thiền tới chỗ “ trên không biết có trời, dưới không biết có đất, giữa chẳng biết có người, ngoài chẳng biết có vật, trong chẳng biết có tâm,’’ thì lúc đó các bạn sẽ hợp làm một với Pháp Giới, có thể hoát nhiên khai ngộ. Các bạn hãy nhớ: Ðừng nên bị lay chuyển bởi thanh trần--ngoại cảnh--đừng nhìn đông ngó tây, và cũng đừng để cho tâm loay hoay, không chuyên nhất!  

Khi tham Thiền đạt tới chỗ “không mình, không người, không chúng sanh, không thọ giả’’ thì các bạn sẽ chặc đứt được góc rễ sanh tử và được gặp mặt Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni; lúc ấy các bạn mới biết được cái hay của việc Thiền.  

Từ vô lượng kiếp tới nay, chúng ta thật may mắn gặp được pháp môn “ đả Thiền Thất.’’ Do đó, chúng ta phải đặc biệt chuyên nhất, chí thành khẩn thiết, ra sức dụng công, đừng phung  phí thời giờ quý báu, đừng nghĩ ngợi vẩn vơ về những chuyện ăn, mặc hay chỗ ở; bởi “một chút thời gian là một chút mạng sống’’ --thời gian và sinh mạng đều quý báu như nhau.  

                    Nhất thốn quang âm, nhất thốn kim,

                     Thốn kim nan mãi thốn quang âm,

                      Thất lạc thốn kim dung dị đắc,

                       Quang âm quá khứ nan tái tầm.  

Nghĩa là:

                    Một tấc thời gian: một tất vàng,

                    Tấc vàng khó mua tấc thời gian,

                    Tấc vàng rơi mất còn dễ kiếm,

                    Thời gian trôi bẵng mới khó tìm.  

Bài thơ trên nói lên giá trị quý báu của thời gian lúc bình thường, huống hồ là lúc đả Thiền Thất--thời gian ấy còn đáng quý hơn nữa. Chẳng ai biết được vào phút nào giây nào mình sẽ được khi ngộ; do đó các bạn nên tranh thủ từng giây từng phút, đừng lãng phí.  

Hy vọng các bạn tham gia Thiền Thất đều dũng mãnh tinh tấn, không phóng dật buông lung. Phải nhẫn chịu mọi thứ khổ thì mới đạt được an lạc. Chịu đựng được điều mà người khác khó thể chịu đựng, nhẫn nhịn được điều mà người khác khó thể nhẫn nhịn, đó mới là tinh thần tu Ðạo!


Trở về trang nhà | Về đầu trang