Vietnamese|English

Sơ lược về Phật giáo

若人欲了知,

三世一切佛,

應觀法界性,

一切惟心造.

Người muốn biết rốt ráo

Chư Phật trong ba đời

Hãy quán tánh pháp giới

Tất cả do tâm tạo.

(Nhược nhân dục liễu tri

Tam thế nhất thiết Phật

Ưng quán pháp giới tánh

Nhất thiết do tâm tạo.)

 

Dẫn Nhập

"Ta là ai và ta là gì?" "Tại sao ta hiện hữu?" Một lúc nào đó trong cuộc đời, mỗi chúng ta có thể tự hỏi những câu hỏi tương tự. Chúng ta biết rằng mình đang sống, nhưng thật ra chúng ta không rõ ta đã đến bằng cách nào và tại sao. Cuộc đời chúng ta là một sự bí ẩn lớn. Cái biết trong tâm thức hay trong tiềm thức về ta là ai và tại sao ta hiện hữu có ảnh hưởng đến mỗi phút giây trong đời ta. Những câu hỏi này cũng đã làm cho Ðức Phật lưu tâm không ít. Ngài đã hết sức chú trọng vì rằng nếu không xét đến và giải đáp được những câu hỏi này, thì cuộc sống trở nên vô nghĩa. Ngài đã ngạc nhiên một cách thích thú vì rằng Ngài đã thấy được đáp số của bài toán bí ẩn này trong tầm tay. Những giải đáp đó dường như đang vẫy tay ra hiệu và thưa rằng, "Bạch Ðức Thế tôn, chúng con đang ở đây!"

Những lời dạy của Ðức Phật mà ta gọi là Phật Pháp do chính Ngài phát kiến bằng sự giác ngộ khi Ngài thấy rõ thật tướng của mọi sự. Từ ngữ "Pháp" được dịch ra nguyên nghĩa là "luật," có nghĩa là những luật phổ quát ngàn đời chi phối mọi thực tại. Một vị Phật chỉ đơn giản là một con người đã khám phá được những điều luật ấy của thực tại và đã từ bi trao truyền sự hiểu biết ấy cho kẻ khác. Phật Pháp giải thích sự bí ẩn của hiện hữu mà người phàm có thể hiểu hay có thể không hiểu. Lý do là sự giác ngộ không thể giải thích được bằng lời mà phải được thực chứng. Ðược truyền dạy một cách thích ứng, chúng ta sẽ được thức tỉnh một cách mầu nhiệm và chính chúng ta sẽ phát tâm tự đạt đến sự giác ngộ ấy. Ðức Phật dạy:

1. Tất cả những gì hiện hữu đều do tâm tạo. Chân tánh của tâm ta không có một nơi chốn nào trong không gian và không có bắt đầu, cũng không có kết thúc trong thời gian. Nó không sanh không diệt. Ðạt được chân tánh này gọi là Niết Bàn, -một cái gì qúa thâm sâu và lạ thường để có thể diễn tả được bằng lời và quan niệm được bằng suy tư. Niết Bàn chỉ có thể quan niệm được bằng trực chứng. Vì tính chất thâm diệu này, Ðức Phật đã nói về Niết Bàn bằng thể phủ định:

Này các tỳ kheo, có một cảnh giới trong đó không có đất, nước, lửa, gió, không vô biên xứ, không vô biên thức, không phi tưởng mà cũng không phi phi tưởng. Không có thế giới này, cũng không có một thế giới lân cận, không mặt trời, không mặt trăng. Này các tỳ kheo, ta nói rằng cảnh giới ấy không đến, không đi, không lại, không sanh, không diệt; không có gì hỗ trợ; không mức thời gian và không cơ sở. Thực vậy, cảnh giới đó là sự chấm dứt khổ đau.

2. Vì vô minh, chúng ta đem cái "ngã" vần xoay trong vòng "luân hồi," cảnh giới của sanh tử. Cái "ngã" giả tạo này chịu vô lượng khổ đau. Khổ đau này mãi mãi tồn tại từ kiếp sống này qua kiếp sống khác bao lâu mà ta còn khát vọng những dục lạc của đời sống trong vòng Luân hồi.

3. Phật dạy chúng ta con đường loại trừ vô minh đang ngăn che chân tánh của chúng ta. Khi chúng ta giác ngộ về điều này, chúng ta sẽ, vì đức đại bi, nỗ lực giúp đỡ mọi chúng sanh giác ngộ về chân tánh của họ; chúng ta sẽ giải phóng tất cả chúng sanh hữu tình. Vì vậy, sự giác ngộ cá nhân và sự giác ngộ của vạn loại, ngã và nhơn trở thành một và bình đẳng.

Khi các thầy thấy được núi, sông, đại địa, và vạn vật xuất sanh từ các thứ này là những vật vốn có trong tự tánh; rằng Tam Giới chỉ là tâm, và vạn pháp chỉ là thức; khi các thầy đạt được cảnh giới này, lúc ấy, mọi sự, mọi vật đều bất sanh bất diệt. Tất cả những gì các vị thấy--núi, sông, đại địa, cỏ cây, tất cả đều là chân thực tại.

TỨ DIỆU ÐẾ và TỨ HOẰNG THỆ NGUYỆN CỦA BỒ TÁT

Trong giáo pháp của Ðức Phật, vấn đề hiện hữu và giải đáp cho vấn đề này được dạy trong Tứ Diệu Ðế và giáo lý tương ứng, Tứ Hoằng Thệ Nguyện của Bồ Tát. Tứ Diệu Ðế được mô tả bằng những tương ưng dưới đây. Diệu Ðế thứ nhất chẩn đoán những triệu chứng của một căn bệnh và Diệu Ðế thứ hai xác định nguyên nhân của bệnh. Diệu Ðế thứ ba mô tả sự chữa trị cuối cùng của bệnh sau khi nguyên nhân bệnh được loại trừ, và Diệu Ðế thứ tư cho thuốc hoặc cách trị liệu để chữa lành bệnh. Tứ Hoằng Thệ Nguyện khai triển những sự thật đó đến một phạm vi xa hơn cá nhân để bao gồm mọi chúng sanh. Vì vậy, trong rất nhiều kinh, Ðức Phật đã nói:

Trước đây cũng như bây giờ, ta chỉ dạy sự thật về khổ và sự chấm dứt khổ.

Bồ Tát là một chữ Phạn. Từ ngữ này gồm hai âm, một là bodhi mà nghĩa là "thức tỉnh," hay "giác ngộ;" hai là sattva, nghĩa là "hữu tình." Bồ Tát, vì thế, có nghĩa là "hữu tình giác" (một người giác ngộ), và "giác hữu tình" (một người làm cho kẻ khác giác ngộ). Ngài là một vị đại trí và đại bi luôn luôn nỗ lực hoàn thiện sự giác ngộ của Ngài và khả năng giác ngộ kẻ khác của Ngài. Khi vị Bồ Tát đã làm xong công việc này, Ngài thành Phật, một đấng lưỡng túc tôn, có trí tuệ và đức từ bi hoàn hảo.


Trở về trang nhà