Vietnamese|English

Vĩnh Gia Ðại Sư Chứng Ðạo Ca Thiển Thích

(H.T. Tuyên Hóa giảng tại chùa Kim Luân, Los Angeles tháng 2, 1985)

Lúc đến Hoa Kỳ, trước tiên tôi giảng Kinh Kim Cang, nhưng không có ghi chép hoặc chú giải . Thời đó thính giả toàn là Hoa Kiều, nghe rồi thì xong chuyện. Sau đó tôi giảng Tâm Kinh, mỗi tuần lể giảng một câu, hoặc một đoạn ba câu, mỗi đoạn tôi chú giải bằng tám câu kệ tụng, gọi là Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh Phi Ðài Tụng Giải. Lúc đó mỗi tuần tôi giảng một thời, vì ở Mỹ hằng ngày ai cũng bận việc không thể đến nghe. Chỗ tôi ở là căn hầm nhà, đất ẩm thấp, trừ cửa chính, không cửa sổ nên chẳng ánh sáng lọt vào, cũng chẳng thấy đặng mặt trời mặt trăng gì cả. Chính ở đây tôi đã giảng Kinh Kim Cang. Sau đó khi dời đến đường Waverly, tôi đã giảng Tâm Kinh. Tiếp theo tôi giảng Vĩnh Gia Ðại Sư Chứng Ðạo Ca, dùng thể văn viết chú thích, rồi dựa vào đó giảng giải. Sau này có người ghi chép lại, lấy tên là Vĩnh Gia Ðại Sư Chứng Ðạo Ca Thuyên Giải. Các bạn muốn biết thuở xưa tôi giảng pháp ra sao thì hãy đọc quyển Bát Nhã Ba La Mật Ða Tâm Kinh Phi Ðài Tụng Giải, và cũng nên nghiên cứu thêm quyển Vĩnh Gia Ðại Sư Chứng Ðạo Ca Thuyên Giải.

Nói đến Chứng Ðạo Ca, thì tôi vô cùng mến chuộng tác phẩm này ngay khi bắt đầu nghiên cứu Phật Pháp. Tôi đã đọc nó đến độ thuộc làu. Vì quá yêu thích nó, nên sau khi đến Mỹ tôi chọn nó làm đề tài thuyết pháp thứ ba. Tôi nghĩ rằng ở Los Angeles có rất nhiều thanh niên học sinh, nên việc nghiên cứu Chứng Ðạo Ca rất thích hợp. Ngày nay có người thỉnh tôi giảng kinh, thì đúng là hại tấm thân già này! Những cuốn băng ghi bài tôi giảng xưa kia hay hơn lời tôi giảng bây giờ nhiều lắm. Lúc xưa tinh thần sung mãn, thân thể không đau yếu như hiện nay; lúc giảng thì chẳng chút ủy mị yếu ớt, mà đầy dẫy nghị lực, đầy khí phách, đầy sáng tạo, khiến người nghe chẳng buồn ngủ. Vậy sao các bạn lại muốn tôi giảng nữa ? Một khi đã có băng, thì tôi có thể làm biếng được rồi. Ai ngờ các vị đệ tử chẳng chịu buông tha, cứ lại bắt tôi giảng. Hôm nay ngồi nơi giảng toà, linh cảm máy động, tôi nghĩ rằng giảng lại Chứng Ðạo Ca cũng rất tốt. Ðại chúng nghe rồi, nếu học ngâm bài Chứng Ðạo Ca này cho kẻ khác nghe, sẽ giúp họ mau đặng khai ngộ.

Ðại Sư nghĩa là gì? Ðại: là vĩ đại, là to lớn, vì Ngài là bậc mô phạm giáo hóa chúng sinh trong tam giới. : là thầy, tức Ngài là thầy của hàng trời người. Lại nữa Ngài lấy pháp làm thầy; Ngài noi theo tất cả phật pháp, như noi theo một người thầy vậy. Và vì Ngài lại lấy pháp bố thí cho người đời, cho tất cả chúng sanh, nên Ngài mới được gọi là Sư, hay Thầy. Sư nói lên cái khuôn mẫu, mô phạm, hay tiêu chuẩn mà mình nên bắt chước.

Vị đại sư này xuất gia lúc lên bốn tuổi, mỗi giờ mỗi khắc nổ lực tu hành, tầm sư học đạo, do đó trong Chứng Ðạo Ca có đoạn như sau:

Du sơn hải thiệp sơn xuyên.
Tầm sư phỏng đạo vi tham thiền.
Tự tùng nhận đắc Tào khê lộ.
Liễu tri sanh tử bất tương quan.

Du sơn hải là đi mọi nơi tìm Thiện tri thức để học hỏi; Thiệp sơn xuyên là trèo non vượt ải qua chốn sông to núi lớn để tầm sư học đạo, tìm bạn bè để cầu minh triết, tìm Thiện tri thức, cầu kẻ có Minh Nhãn để điểm đạo, do đó mà Tầm sư phỏng đạo vi tham thiền, không ngoài mục đích liễu sanh tử nên cầu học pháp môn tham thiền. Tự tùng nhận đắc Tào Khê lộ là từ khi Ngài hiểu rõ Tào Khê con đường hướng thượng, và sau rốt là đắc pháp tâm ấn, rồi liễu tri sanh tử bất tương quan, là Ngài liền thấu triệt chuyện sanh tử, không còn chút gì thắc mắc nữa.

Chứng: là chứng đắc, chứng minh cái gì đó, như chứng minh đạo có thể chứng, có thể tu, có thể hành. Chứng cũng là ấn chứng, tức là chứng cứ.

Ấn chứng: người tu đạo tự mình đã khai ngộ rồi, không thể tự mình ấn chứng, y phải cần tìm một vị cao tăng đạo hạnh sâu dày, một bậc đại Thiện tri thức, một vị đã giác ngộ đến ấn chứng cho mình, thì sự chứng minh này mới đúng. Không thể tự xưng là ta đã khai ngộ rồi, ta chứng quả rồi, như vậy là: chưa chứng đã nói chứng, chưa đắc đã nói đắc. Trong đạo Phật chưa đạt tới trí huệ chân chánh mà nói rằng mình đã đạt được rồi thì kể như phạm tội đại vọng ngữ, nhất định bị đọa xuống địa ngục rút lưỡi. Do đó không thể tự mình xưng là Tổ sư, mà phải cần đến một bậc minh nhãn Thiện tri thức ấn chứng thì mới thành Tổ được.

Ðạo: Ông Hàn Dũ nói chí lý rằng: "Do đây mà đến đó gọi là đạo," đạo là con đường từ nơi này đến một nơi khác, nhưng ông chỉ rõ đường lộ, nay chúng ta đề cập đến đạo là con đường tu hành. Tu đạo thì phải tu từ bên trong, chẳng phải tu ở bên ngoài, rằng "nội thánh thì ngoại vương," nghĩa là bên trong có sự thông minh, trí tuệ của Thánh nhơn, bên ngoài ta mới có thể giáo hóa chúng sanh. Trung Quốc có ông Thương Hiệt là vị Bồ Tát hóa sanh chuyên tạo chữ. Vì cớ gì ông có thể tạo chữ? Vì ông có Thiên Nhãn Thông. Do vậy, chữ Tàu tạo ra phần nhiều là tượng hình. Tượng hình nghĩa là chữ và hình phù hợp với nhau. Thí dụ chữ Ðạo (). Phía trên có hai chấm, một chấm tượng trưng cho số âm và một tượng trưng cho số dương. Nếu từ hai chấm này nối lại thành hai phết thì thành chữ Nhơn (); nếu hai phết không dính lại thì đó là chữ Bát (); nhưng một phết ngắn một phết dài biến thành chữ Nhập(). Vừa qua chúng ta thấy hai cái chấm trên đầu chữ Ðạo mang nhiều biến đổi. Như trên đã nói hai chấm trên đầu chữ Ðạo thể hiện âm dương, cũng là thể hiện cho Nhơn (); chữ Nhơn tách ra thành một âm một dương. Dưới hai chấm lại có một chữ Nhứt (). Chữ Nhứt do đâu ra? Phải chăng chữ Nhứt thêm vào chẳng có duyên cớ gì?

Chữ Nhứt () là số không ( 0 ) mà ra, số không ( 0 ) bẻ gãy rồi kéo thẳng ra thì biến thành chữ Nhứt (). Hai chấm phía trên có thể là từ số không ( 0 ) bẻ làm đôi biến thành một âm một dương; như vậy chữ Nhứt () có cả âm lẫn dương, biến hóa từ số không ( 0 ) mà ra. Tiếp theo chữ Tự () (là mình, là ta) được thêm vào, ám chỉ sự tu đạo là do chính mình. Nếu chữ Tự cùng hai chấm và một gạch hợp lại thì ra chữ Thủ (); Thủ (đầu tiên, đứng đầu) tức là việc trọng đại trong đời mình. Thủ là đầu: giống như cái đầu, việc quan trọng nhứt là liễu sanh thoát tử. Liễu sanh thoát tử do nơi chính mình mà không phải đi tìm kiếm bên ngoài chẳng phải hướng ngoại tìm cầu, do đó tự mình phải chăm tu hành. Một bên và phía dưới chữ Thủ () thêm chữ Tẩu (là đi) (), hợp nhau lại thành chữ Ðạo (). Ðạo cần phải tu hành, hễ tu thì phải thực hành; do đó người ta mới ghép chữ Tẩu một bên. Ðó là đại khái ý nghĩa của chữ Ðạo.

Phía trên chữ Ðạo có hai chấm thể hiện lý âm dương mà cũng ám chỉ hai mắt hoặc hai tai, hoặc hai mũi. Ðó đều là biểu tượng. Bất luận là mắt, mũi, tai, các giác quan này đều ở trên thân thể của ta; do đó đừng dụng công bên ngoài mà phải dụng công ở bên trong. Rằng: "Ðạo có đường hữu hình bên ngoài, có đường vô hình bên trong." Ðường hữu hình thì trôi lăn sanh tử, đường vô hình thì liễu thoát sanh tử. Ngài Vĩnh Gia Ðại Sư sáng tác Chứng Ðạo Ca với mục đích chỉ ta đi con đường liễu thoát sanh tử, là con đường tự tánh mà mỗi người chúng ta cần phải tu theo.

(còn tiếp)


Trở về trang nhà | Về đầu trang