Phật Thuyết A Di Ðà Kinh Thiển Thích

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng tại chùa Kim Sơn San Francisco
từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1969.

 

Dẫn Nhập

Nói Lời Mở Ðầu Nhân Dịp Hoàn Tất Bản Dịch từ Tiếng Anh Kinh Phật Thuyết A Di Ðà

Kinh A Di Ðà thuộc loại Vô Vấn Tự Thuyết. Kinh mô tả chi tiết những cảnh trang nghiêm tuyệt mỹ của cõi Tịnh Ðộ Tây Phương. Chúng sanh trong mười phương chỉ cần niệm danh hiệu Ðức Phật A Di Ðà, thì chắc chắn vãng sanh trong cõi nước này.

Lúc Phật Pháp trong cõi Ta Bà sắp diệt, kinh này sẽ là kinh cuối cùng bị diệt mất. Kinh Thủ Lăng Nghiêm là kinh mà thiên ma ngoại đạo sợ hãi nhất sẽ bị tiêu diệt đầu tiên. Chúng muốn đốt trụi mọi ấn bản của kinh này. Kinh Thủ Lăng Nghiêm soi rõ mọi tướng trạng cảnh giới của đủ loài yêu ma quỷ quái như ly mỵ, vọng lượng khiến chúng không thể trốn lánh đi đâu đặng và trở nên oán ghét căm thù kinh này. Nhiều nhà học giả, vì thiếu hiểu biết nên đã đồng tình với bọn yêu ma ấy. Thật đáng thương xót vậy.

Kinh A Di Ðà có thể được ví như một khối nam châm lớn, và chúng sanh trong mười phương như mạt sắt: tất cả mạt sắt, không phân biệt từ đâu, đều được khối nam châm thu hút.

Hôm nay, nhân dịp kinh đã dịch ra tiếng Anh, tôi thêm vào mấy lời để giới thiệu.

Sa Môn Tuyên Hóa
Viết tại Hoa Nghiêm Ðường
Chùa Kim Sơn

Năm Tầng Nghĩa Lý Thâm Diệu (Ngũ Trùng Huyền Nghĩa)

Một: Giảng Giải Tên Kinh (Thích danh)

Theo giáo lý Tông Thiên Thai, để thấu hiểu

một bộ kinh, ta cần phải nghiên cứu năm tầng thâm nghĩa: Giải thích tên Kinh (Thích danh); Phân tích lý thể (Biện thể); Làm rõ tông thú (Minh tông); Thảo luận ứng dụng (Luận dụng); và Xác định giáo tướng (Phán giáo). Năm ý này được gọi là "năm tầng lớp" vì chúng lột từng tầng từng lớp ý nghĩa của kinh văn.

Lớp đầu tiên là Giải thích tên Kinh. Khi các bạn giao thiệp với ai, trước hết các bạn phải biết tên người ấy. Cũng vậy, chỉ khi các bạn biết tên kinh các bạn mới có thể bắt đầu hiểu nghĩa của kinh. Ðối với kinh văn cũng như vậy, vì mỗi kinh đều có tên riêng.

Mỗi bộ kinh đều có tên chung và tên riêng. Chữ Kinhtên chung, vì tất cả những điều Ðức Phật thuyết giảng đều gọi là Kinh. Gọi là tên riêng bởi vì chỉ kinh này mới có, kinh khác không có. Như tên riêng của kinh này là: "Phật Thuyết Kinh A Di Ðà."

Có năm hạng người có thể nói Kinh, đó là:

1. Chư Phật
2. Ðệ tử của Phật
3. Chư thiên
4. Chư tiên
5. Hóa nhân, tức là những vị trời hay Phật hóa thân thành người.

Trừ Phật, bốn hạng người kia khi họ thuyết pháp, điều họ nói cần phải được Phật ấn chứng thì mới thành kinh. Nếu không thì những gì họ nói không phải là kinh. Kinh này do Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đích thân thuyết, không phải do bốn hạng chúng sinh kia.

Thường thì có người thỉnh pháp thì Phật mới giảng kinh; đặc biệt là kinh Di Ðà thì không ai thỉnh mà Phật tự ý thuyết. Ðó là vì giáo lý Tịnh Ðộ quá thâm diệu. Ðến ngay các vị Thanh Văn cũng không biết đến, các vị Bồ Tát trí huệ còn không hiểu đặng, thì có ai biết để thỉnh vấn pháp môn Tịnh Ðộ này. Song le, vì pháp môn này phải được giảng, và đã tới lúc phải được thuyết, nên Phật đã tự ý nói bộ Kinh vô cùng quan trọng này. Tại sao kinh này quan trọng? Là vì nó là Kinh cuối cùng diệt mất trong thời mạt pháp.

Trong tương lai, khi Phật pháp sắp tận diệt, thì Kinh Lăng Nghiêm là kinh sẽ bị diệt mất đầu tiên. Ðó là vì tất cả Ma vương sợ nhất là chú Lăng Nghiêm. Phật thuyết Kinh Lăng Nghiêm chính là vì muốn nói chú Lăng Nghiêm. Sau khi Kinh Lăng Nghiêm biến mất thì, các kinh khác cũng sẽ lần lượt bị tiêu diệt. Lúc ấy kinh văn chỉ có giấy trắng mà chẳng có chữ gì hết. Bây giờ mình xem kinh thì giấy trắng mực đen, nhưng tới lúc Phật pháp diệt thì giấy còn mà chữ mất hết.

Cuối cùng chỉ còn lại Kinh A Di Ðà. Kinh sẽ tồn tại trên thế gian thêm một trăm năm nữa và sẽ độ thoát vô lượng chúng sanh khỏi bể khổ, qua bờ Niết Bàn. Rồi thì Kinh A Di Ðà cũng diệt mất, chỉ còn lục tự hồng danh "Nam Mô A Di Ðà Phật" ở lại trong trần thế thêm một trăm năm, cứu độ vô số chúng sanh. Kế đến, hai chữ "Nam Mô", (có nghĩa là "con xin quy mạng") sẽ mất đi, chỉ còn bốn chữ "A Di Ðà Phật" tại thế thêm một trăm năm nữa. Sau đó, Phật pháp sẽ tận diệt. Vì Kinh A Di Ðà là Kinh cuối cùng diệt mất, nên nó vô cùng quan trọng.

Tên Riêng:
Phật Thuyết A Di Ðà

Phật là ai? Phật là bậc Ðại Giác. Gọi là đại giác vì Ngài rõ suốt hết mọi sự mọi việc; Ngài hoàn toàn chẳng chút mê mờ. Ngài đã dứt tận nghiệp, đoạn sạch tình; chẳng còn nghiệp chướng và tình ái nhiễm trước. Kẻ phàm phu thì nặng nghiệp, mê tình. Hễ dính vào tình cảm, đắm vào yêu đương thì đó là phàm phu là chúng sinh.

Phật có ba sự giác ngộ, nên gọi là đại giác:

1. Bổn giác, tức căn bản Phật đã giác ngộ rồi
2. Thủy giác, tức là sự giác ngộ sơ khởi
3. Cứu cánh giác, tức giác ngộ triệt để và rốt ráo.

Ta cũng có thể nói rằng Ngài là bậc

1. Tự giác (tự mình giác ngộ)
2. Giác tha (giác ngộ kẻ khác)
3. Giác hạnh viên mãn (công hạnh giác ngộ mình và người đã viên mãn)

Phàm phu chúng ta thì không giác ngộ. Lúc nào cũng cho rằng thông minh nhưng thật ra mình rất ngu si. Cứ tưởng là mình đánh bạc, sẽ thắng; đâu biết rằng mình sẽ thua? Tại sao điên đảo như vậy? Bởi vì u mê, nghĩa là biết rõ là sai mà cứ làm. Hễ càng u mê ngu tối, thì càng điên đảo; hễ càng điên đảo, mình lại càng ngu tối u mê. Vậy thì phải làm sao? Phải giác ngộ.

Ðức Phật cũng là một chúng sanh, nhưng ngài đã giác ngộ, hết mê; nên gọi là bậc tự giác. Bậc tự giác thì không giống với phàm phu. Các vị Thanh Văn, Duyên Giác hay các vị Nhị thừa, là "tự liễu hán," (Bậc chỉ tự độ), rằng các vị tuy tự giác ngộ nhưng không giác ngộ kẻ khác.

Người đi giác ngộ người khác gọi là Bồ Tát, là kẻ không như hàng Nhị thừa chỉ tự ngộ, không độ kẻ khác. Bồ Tát phát tâm vì muốn lợi ích chúng sinh, mà không muốn chúng sinh lợi ích các ngài. Chư Bồ Tát dùng phương pháp làm mình giác ngộ để giáo hóa chúng sanh, khiến họ cũng giác ngộ, hết điên đảo. Ðó là hạnh Bồ Tát.

Các vị Nhị thừa tu Tứ Diệu Ðế và Thập Nhị Nhân Duyên. Tứ Diệu Ðế là:

1. Khổ (hiện trạng cái khổ)
2. Tập (nguyên nhân của khổ)
3. Diệt ( Sự chấm dứt của khổ)
4. Ðạo (Con đường hết khổ)

Thập Nhị Nhân Duyên là:

1. Vô minh
2. Hành
3. Thức
4. Danh sắc
5. Lục nhập
6. Xúc
7. Thọ
8. Ái
9. Thủ
10. Hữu
11. Sanh
12. Lão tử

Mười hai nhân duyên khởi từ vô minh, và vô minh, tức là sự thiếu hiểu biết. Nếu không có vô minh thì mười hai Nhân Duyên chấm dứt. Bởi vì có vô minh, nên các nhân duyên khác sinh ra. Bậc Nhị thừa thì hành trì pháp trên, còn chư Bồ Tát thì đã vượt qua giai đoạn đó, các ngài tu lục độ vạn hạnh.

Lục độ là:

1. Bố thí: Hạnh bố thí thì chuyển hóa lòng bỏn xẻn. Muốn diệt lòng tham thì mình phải bố thí. Ðối với thứ khó xả bỏ, mình phải xả bỏ. Nếu không chịu xả bỏ thì lòng tham không thể trừ đặng. Do đó mới nói: bố thí thì trị lòng bỏn xẻn.

2. Trì giới: Trì giới thì độ tật phá giới. Giới luật là kim chỉ nam để tu hạnh lành và loại trừ những sự vi phạm, tội lỗi, và điều ác.

3. Nhẫn nhục: Nhẫn nhục chuyển hóa sân hận. Nếu các bạn hay nóng nảy, tức giận, hãy tu hạnh nhẫn nhục, nhịn hết mọi sự. Ðừng nên suốt ngày mặt mày dữ dằn như A-tu-la, lúc nào cũng muốn nổi giận. Không nói chuyện thì thôi, hễ mở miệng thì trợn mắt trừng trừng; đó chính là cái tướng của A-tu-la vậy. Do đó mình phải tu nhẫn nhục.

4. Tinh tấn: Hạnh tinh tấn chuyển hóa tánh lười biếng. Nếu bạn lười, hãy học hạnh này thì độ tính lười.

5. Thiền định: Thiền định chuyển hóa lòng tán loạn điên đảo. Nếu bạn cứ khởi vọng tưởng, nghĩ này nghĩ nọ hoài thì hãy tu thiền định. Hễ có định lực thì vọng tưởng sẽ hết và do đó sự tán loạn cũng sẽ biến mất. Ðiều chủ yếu là bạn phải có trí huệ, tức là trí bát nhã. Có trí huệ thì sẽ không ngu si; hễ ngu si thì không có trí huệ.

6. Trí tuệ: Quang minh thì dẹp tan bóng tối. Quang minh chính là trí huệ. Bóng tối là sự ngu si.

Bồ Tát tu Lục Ðộ Vạn Hạnh, tự giác và giác tha. Ðây là chỗ các ngài khác hẳn với hàng nhị thừa.

Giác Mãn (toàn giác) là Diệu giác, là sự giác ngộ của Ðức Phật. Ngài vừa tự giác và giác tha, nên gọi là bậc Giác Hạnh Viên Mãn, tức là công hạnh tự giác chính mình và giác ngộ kẻ khác đã hoàn toàn viên mãn.

Các bạn nói, "Hòa thượng đã giảng giải nhiều về Ðức Phật, nhưng con vẫn chưa hiểu Ðức Phật là ai?"

Các bạn không biết? Tôi sẽ nói cho các bạn.

Chính các bạn là Ðức Phật.

"Thế thì tại sao chúng con lại không biết?"

Tuy các bạn không biết , nhưng các bạn vẫn là Ðức Phật. Nói vậy không có nghĩa rằng các bạn đã thành Phật. Các bạn là một vị Phật chưa thành. Phải hiểu rằng Ðức Phật đã tu thành Phật từ địa vị của một người phàm. Do đó, phàm phu có thể tu thành Phật. Ðức Phật là Bậc Giác Ngộ, nên khi chúng sanh ai giác ngộ, vị ấy là Phật. Nếu chưa giác ngộ, chúng sanh vẫn là chúng sanh. Ðó là ý nghĩa tổng quát của chữ Phật.

Phật thì có Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông. Các bạn là Phật, nhưng là Phật chưa thành, bởi vì các bạn chưa có các quyền năng đó. Ðức Phật đã tu từ địa vị một kẻ phàm phu cho đến thành Phật, và Ngài có tất cả thuộc tính của một vị Phật.

Cũng có người chưa thành Phật rêu rao rằng họ đã thành Phật. Ðó là những kẻ ngu si đến tột đỉnh; họ huênh hoang về những điều mà họ không có. Họ tự dối chính mình và gạt gẫm người khác. Chẳng phải đó là sự ngu si tột đỉnh? Ai cũng có thể thành Phật, nhưng cần phải tu. Hễ ai có Tam Thân và Tứ Trí thì có thể tự xưng là Phật. Nhưng nếu bạn chỉ có Ngũ Nhãn và chút ít thần thông thì không thể tự xưng vậy được.

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà