Phật Thuyết A Di Ðà Kinh Thiển Thích

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng tại chùa Kim Sơn San Francisco
từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1969.

 

(tiếp theo kỳ trước)

Tam Thân là:

1. Pháp thân
2. Báo thân
3. Hóa thân.

Tứ Trí là:

1. Ðại Viên Cảnh Trí
2. Diệu Quan Sát Trí
3. Thành Sở Tác Trí
4. Bình Ðẳng Tánh Trí.

Lục Thông là:

1. Thiên Nhãn Thông. Thiên Nhãn Thông có thể thấy các vị trời và các hoạt động của họ.

2. Thiên Nhĩ Thông. Thiên Nhĩ Thông có thể nghe tiếng nói và âm thanh của các vị trời.

3. Tha Tâm Thông. Tha Tâm Thông biết những tư tưởng trong tâm kẻ khác, tuy họ chưa nói ra. Ðiều này chỉ nói về hiện tại.

4. Túc Mạng Thông. Với thần thông này, người ta có thể biết được không những việc hiện tại mà cho đến những việc trong quá khứ cũng biết được.

5. Lậu Tận Thông. Lậu tận có nghĩa là tâm không còn tham, tâm không còn si và tâm không còn nghĩ dâm dục. Nói một cách tổng quát, khi một người loại trừ được tất cả những thói hư tật xấu của mình, người ấy không còn lậu. Lậu tựa như nước rỉ ra từ một cái bình rạn nứt; khi được "lậu tận" thì tất cả các chỗ nứt đều đã được bít lại.

6. Thần Túc Thông. Cũng được gọi là Thần Cảnh Thông. Ðây là một cảnh giới mầu nhiệm không thể nghĩ bàn.

Ngũ Nhãn là:

1. Thiên Nhãn
2. Nhục Nhãn
3. Huệ Nhãn
4. Pháp Nhãn
5. Phật Nhãn.

Dưới đây là một bài kệ về Ngũ Nhãn:

Thiên nhãn thông phi ngại
Nhục nhãn ngại phi thông
Pháp nhãn duy quán tục
Huệ nhãn liễu chơn không
Phật nhãn như thiên nhật
Chiếu dị thể hoàn đồng.

Tạm dịch là:

Thiên Nhãn thấy suốt không chướng ngại.

Nhục Nhãn thấy chướng ngại nhưng không thấu suốt.

Pháp Nhãn thường quán thế gian.

Huệ Nhãn hiểu chân không.

Phật Nhãn sáng như ngàn mặt trời

Thiên Nhãn thấu suốt không chướng ngại và nhìn thấy sự việc trong tám vạn đại kiếp, ngoài tám vạn đại kiếp không thấy được. Nhục Nhãn chỉ thấy được những gì có chướng ngại. Pháp Nhãn quán "chân lý thế gian," tất cả sự việc của đời sống thế tục. Huệ Nhãn thấu suốt cảnh giới Chân Không, "chân đế."

Không phải chỉ một mình Ðức Phật có Phật Nhãn, mà ai cũng có Phật Nhãn. Một số người đã mở Phật Nhãn và một số người khác thì chưa. Phật Nhãn đã được mở sáng với quang độ của một ngàn mặt trời. Mặc dầu Ngũ Nhãn khác nhau về những gì mà mỗi loại mắt thấy được, nhưng trên căn bản, năm loại mắt đồng một thể.

Như vậy, Ðức Phật có Tam Thân, Tứ Trí, Ngũ Nhãn, Lục Thông. Vị nào có đủ những tài năng này có thể tự gọi mình là Phật. Nhưng nếu chưa, quý vị nên tu tĩnh để trở thành một người tốt hơn là toan gạt gẫm người khác.

Trong Kinh này, Ðức Phật Thích Ca, vị thầy cõi Ta Bà, thuyết về những cảnh trang nghiêm của Nước Cực Lạc và về vị thầy của cõi này, Ðức Phật A Di Ðà.

Ta Bà là một tiếng Phạn có nghĩa là "kham nhẫn" tức là phải chịu đựng. Thế giới ta đang sống có quá nhiều khổ đau làm cho chúng sanh thấy khó chịu nổi, cho nên mới được gọi là Ta Bà.

Danh hiệu của Ðức Phật Thích Ca, cũng là tiếng Phạn. Thích Ca họ của Ngài, có nghĩa là "năng nhân." Mâu Ni, tên Ngài, có nghĩa là "tịch mặc." Sao gọi là "năng nhân." Vì Ðức Phật dùng tâm nhân ái dạy dỗ và chuyển hóa chúng sanh, và dùng lòng bi mẫn để cứu khổ và đức từ ái để ban vui cho mọi loài.

Có ba loại bi mẫn:

1. Ái kiến bi. Ða phần phàm phu đều có tâm này; con người bình phàm thương yêu và có cảm tình với những kẻ thân thuộc, không phải với người lạ. Thấy bà con bạn hữu bị khốn đốn, họ dốc hết sức lực để giúp đỡ; nhưng đối với sự khổ đau của người không quen, họ không để ý. Có lòng từ mẫn đối với những người mình yêu thương gọi là ái kiến bi.

Ái kiến bi cũng được tỏ bày với đồng loại, nhưng với kẻ khác chủng loại thì không. Ví dụ như người ta chẳng những không từ bi đối với loài vật như bò, heo, gà, ngỗng, vịt, nhưng họ còn đi xa hơn, đó là ăn thịt những súc vật ấy! Họ cắt đứt dòng sống của thú vật để nuôi sự sống của họ. Ðó tức là không có ái kiến bi. Cũng may là loài người không ăn thịt lẫn nhau. Họ không bắt, không giết nhau để ăn thịt, nhưng họ ăn thịt heo, cừu, bò, gà, vịt, và ăn cá. Như vậy cũng đỡ hơn, không như thú vật: chúng sát hại ngay cả đồng chủng để làm thực phẩm. Mặc dầu người không ăn thịt người, nhưng họ không thật có lòng từ bi đối với súc vật.

2. Pháp duyên bi: Lòng từ bi phát sinh do hiểu nhân duyên của tất cả pháp là không. Ðây chỉ cho hàng Nhị thừa; các ngài không chỉ có ái kiến bi nói ở trên, mà thêm vào đó, còn có pháp duyên bi. Các ngài quán tất cả pháp và hiểu rằng mọi pháp đều là từ nhân duyên sanh, nhưng:

Nhân duyên vốn không có tự tánh
Cho nên bổn thể của nhân duyên là không.

Các ngài quán thấy cái nhân duyên của các pháp là không mà sanh khởi lòng từ bi. Cho nên, các ngài giáo hóa chúng sanh nhưng không chấp trước vào tướng chúng sanh vì rằng mọi pháp đều là không.

3. Ðồng thể bi: Lòng từ bi phát sinh do sự hiểu biết rằng Phật và chúng sanh đều đồng một thể. Chư Phật và chư Bồ Tát có một loại từ bi khác gọi là đồng thể bi. Pháp thân của Phật biến mãn khắp nơi cho nên chư Phật và chư Bồ Tát đồng một thể với tất cả chúng sanh. Tâm Tánh Phật cũng châu biến pháp giới và dung chứa tất cả chúng sanh. Chúng ta là những chúng sanh ở trong tâm Phật và Phật là Phật trong tâm chúng ta. Tâm chúng ta (chúng sanh) và tâm Phật đều là một và đều châu biến khắp mười phương, đông, tây, nam, bắc, đông nam, tây nam, đông bắc, tây bắc, phương trên, và phương dưới. Vì vậy, Ðức Phật và chúng sanh đồng một thể không phân biệt. Ðiều này được gọi là đồng thể bi.

Năng nhân (Phạn ngữ là Thích Ca), họ của Ðức Phật, gồm đủ ba loại từ bi nói trên. Nếu muốn giảng rộng ra, "năng nhân" có vô lượng vô biên ý nghĩa. Ðó là ý nghĩa của Thích Ca.

Mâu Ni là tên của Ðức Phật. Từ này có nghĩa là "tịch mặc." Tịch là tịch nhiên bất động; Mặc là "im lặng," là miệng không thốt ra lời nói, tâm không khởi niệm. Ðây là cảnh giới không thể nghĩ bàn. Cho nên Ðức Phật tuy là nói pháp, nhưng nói mà chưa từng nói; Ngài tuy không nói pháp, nhưng không nói mà nói. "Nói mà không nói, không nói mà nói" (thuyết nhi vô thuyết, vô thuyết nhi thuyết). Ấy là "tịch mặc;" tuy tịch chiếu không động nhưng vẫn tùy thuận cảm ứng; tuy tùy thuận cảm ứng nhưng luôn tịch chiếu không động. Ðó là ý nghĩa của tên Ngài, Mâu Ni. Chư Phật đều có danh hiệu chung là Phật, nhưng chỉ riêng vị Phật này có danh hiệu Thích Ca Mâu Ni.

Tiếp tục giảng giải tên Kinh, bây giờ chúng ta xét đến nghĩa chữ Thuyết. Trong Hoa văn, từ thuyết () gồm có căn từ ngôn () có nghĩa là lời nói, và chữ đoái (). Ðoái có hai chấm () phía trên nguyên là từ chữ nhân () là người. Hai nét phía dưới () cũng có thể hiểu là chữ nhân, người.

Ngôn (Lời)

nhân (của một người)

khẩu, (nói với)

nhân (một người khác)

làm thành chữ thuyết

Ðức Phật nói gì? Ngài nói những điều mà Ngài muốn nói, nhưng Ngài nói trong sự hoan hỷ, và Ngài luôn luôn nói Pháp.

Ðã thành Phật, Ðức Phật Thích Ca và chư Phật mười phương được tôn xưng là "giác giả" vì rằng các Ngài đã giác ngộ. Khi chúng ta còn đang ngủ say và ở trong mộng, Phật là bậc Ðại Tĩnh Thức, Ðại Giác Ngộ. Với trí tuệ của một vị Phật, không có gì mà Ngài không biết; dùng Phật nhãn, không có gì mà Ngài không thấy. Ðó là ý nghĩa của sự đại giác ngộ của Ngài, đạt được nhờ tu hành, và đó là cái quả mà Ngài đã chứng. Ngài đã đi con đường đạo, Ngài đã qua con đường ấy, và Ngài là một "giác giả." Những pháp tu mà Ngài đã dùng để chứng quả nay được dạy, để dẫn dắt chúng sanh chứng đạt quả vị Bồ Ðề liễu ráo viên mãn. Ðó là tại sao Ngài thuyết pháp và tại sao, sau khi thuyết, Ngài hoan hỷ đã nói pháp.

Ngài nói gì?

Giờ đây Ngài nói về Ðức Phật A Di Ðà: "Phật Thuyết Kinh A Di Ðà."

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà