Vietnamese|English

Vĩnh Gia Ðại Sư Chứng Ðạo Ca Thiển Thích

(H.T. Tuyên Hóa giảng tại chùa Kim Luân, Los Angeles tháng 2, 1985)

(tiếp theo kỳ trước)

Tại các đại tòng lâm ở Trung-hoa, thường có lệ làm cỗ chay cúng dường, mời đại chúng tất cả thọ trai. Các cư sĩ cũng thường mời nhau tới tiệm đồ chay để thọ trai, nhưng cái đó chẳng phải dùng cỗ chay để cúng Phật và Tăng. Cúng dường tại chùa mới đúng là cúng Phật và Tăng. Tam bảo là phước điền, công đức cúng Phật là chẳng thể nghĩ bàn, cúng Pháp, cúng Tăng cũng như vậy. Chúng ta học Phật pháp không nên ham ăn, chiều khẩu vị. Trong các đại tòng lâm, món ăn rất là thanh đạm, dầu muối sơ sài, cách nấu nướng đơn giản. Lúc bình thường, chẳng ai cúng dường trai, thì cơm rau đạm bạc, vì kẻ tu hành chẳng cầu mỹ vị, phải tiết chế tham dục về ăn, chỉ khi nào có người cúng dường thì cơm trai mới khác. Cúng trai có các loại như La-hán trai là phổ thông nhất, so với cơm chay thường thì khá hơn một chút ; có loại gọi là Như-ý trai thì trai chủ còn cúng thêm tiền bạc nữa ; trai chủ tùy tâm phát lòng hoan hỷ, làm cỗ chay cúng dường đại chúng, cùng mọi người kết pháp duyên ; đặc biệt nhất là Thượng đường trai, và ở đây trai chủ thỉnh vị trụ trì đăng đường thuyết pháp. Nghi thức này được tổ chức vô cùng long trọng tại đại tòng lâm, đòi hỏi hết cả tứ chúng ở đây tham dự. Sau thời thuyết pháp, bài giảng được yết trên bảng yết thị của tòng lâm, treo cả tuần lễ, có khi nửa tháng. Giả dụ ngày ngày có người cúng Thượng đường trai, thì ngày ngày lại đổi yết thị. Trong những dịp này, quang cảnh tòng lâm náo nhiệt, tại đạo tràng chuông trống khua vang, kế đó là thuyết pháp cho trai chủ - hay công đức chủ, nay chỉ nói qua ý nghĩa cho mọi người nghe. Số là hôm nay ở đây cũng có người cúng trai Thượng đường, theo lẽ chúng phải đông hơn, tăng cũng phải đông, rồi hòa thượng phương trượng phải cầm phất trần, tích trượng, một số pháp khí, rồi mới đăng đường thuyết pháp. Từ trước tới nay, chùa Kim-Luân chưa từng có ai thượng đường thuyết pháp, nên hôm nay sự chuẩn bị không được đầy đủ, không thể nào làm cho đúng nghi thức Thượng đường được. Kỳ sau, nếu lại có vị nào hoan hỷ thỉnh, lúc đó có thể cử hành thật đúng nghi thức.

Ðại sư Vĩnh-Gia, bốn tuổi xuất gia, học đủ ba tạng Kinh, Luật, Luận, đối với Thiên-thai giáo thì nghiên cứu sâu rộng. Sư thuộc họ Ðái. Có thể nói Sư chưa hề bị nhiễm thế duyên, chưa từng va chạm trong xã hội, nên cốt cách tinh thuần, vô nhiễm, cho nên trong bài ca Sư trước tác, lời lời chân thực, từng chữ bầy ra như châu ngọc, không giống như cách lải nhải chú thích của người ta. Bởi Sư không bị nhiễm, nên lời ca của Sư mới thuần khiết và thanh tịnh như vậy.

'Chứng Ðạo Ca' vừa sáng sủa lại thâm áo, văn từ cũng không thấy có chỗ nào là khó hiểu, vậy mà ý nghĩa thật là vô cùng ảo diệu, biểu lộ Phật pháp thật là đầy đủ. Trước khi giảng 'Chứng Ðạo Ca' ngày 7 tháng 12 năm 1965, tôi có làm 14 câu tụng kệ, phát nguyện dốc một lòng chí thành khẩn thiết để giải thích lời ca của bài này :

Tuyên-Hóa thanh tịnh thân, khẩu, ý
Quy mạng đảnh lễ Phật, Pháp, Tăng
Nãi chí thập phương tam thế Phật
Chư tôn Bồ-tát ma-ha-tát
Tây phương Ðông độ lịch đại Tổ
Cổ vãng kim lai Hiền thánh đăng
Duy nguyện tam bảo thùy gia hộ
Khải ngã chánh giác chuyển pháp luân
Kiến văn tinh tấn chứng bất thoái
Ðảo giá từ hàng cứu đồng luân
Nhất thiết chúng sanh giai diệt độ
Hoàn ngã bổn lai pháp tánh thân
Cận kiến Uy-âm cổ từ thân
.

 

'Tuyên Hóa thanh tịnh thân khẩu ý': nghiệp của chúng ta đều do thân khẩu ý tạo ra. Thân không thanh tịnh, dễ tạo nghiệp, khẩu và ý không thanh tịnh, dễ tạo nghiệp. Thân nghiệp dễ phạm là giết hại, trộm cắp, và tà dâm (sát, đạo, dâm). Ý nghiệp thì có tham, sân, si, như bình thường chúng ta nghĩ tới chuyện thị phi, nghe chuyện thị phi, làm chuyện thị phi, đó đều thuộc tham, sân, si. Bởi vậy, chỗ có thị phi, tuyệt đối chớ có gần, chuyện tà vạy, tuyệt đối chớ có hỏi, nếu ta hỏi liền bị nghiệp chẳng thanh tịnh lôi cuốn, bởi có câu 'khẩu khai thần khí tán, thiệt động thị phi sanh', nghĩa là mở miệng thì thần khí hao tán, lưỡi động thì thị phi sanh.

Trời đất phú cho ta thân thể, tánh linh, là muốn chúng ta xử dụng một cách chánh đáng, chớ không bảo chúng ta lạm dụng để làm những chuyện phi pháp. Người học Phật là phải hồi quang phản chiếu, ngày ngày xét mình xem mình đã cư xử ra sao, trong đạo có làm cái gì để tranh dành danh lợi, có tranh đua cho nổi bật, có tranh quyền đoạt lợi hay không ? Nếu quả có điều đó thì thật không xứng đáng là tín đồ Phật giáo ; tín đồ Phật giáo là phải khiêm cung, chẳng tranh, chẳng tham, chẳng cầu, chẳng tự tư, chẳng tự lợi, không nói dối, và nếu theo đúng được sáu tông chỉ lớn này, lúc đó mới có thể gọi là tín đồ chân chánh, ý nghiệp mới gọi là thanh tịnh.

Khẩu thì có bốn nghiệp : nói thêu dệt, nói không thật, nói lời ác, nói lưỡi hai chiều.

Nói lời thêu dệt thì đại khái như kể những chuyện trai gái dâm ô, khiến mọi ngườii tưởng đến những chuyện xấu ; hoặc giả nhằm kể những điều tổn hại danh dự của Phật giáo, khiến người khác có ấn tượng xấu về Phật giáo, chẳng hạn như nói theo kiểu này : 'Anh thấy đó ! Hắn tu học mấy năm rồi mà thái độ còn hung hăng như vậy, học Phật cái gì!' Chúng ta ngày ngày tu học Phật pháp, nếu chẳng chịu một phen dụng công phu, chính là có lỗi với Phật pháp, nên phải tự mình trách cứ chính mình, phải trị cho được cái tâm cống cao ngã mạn của mình, cũng như lòng ghen ghét đố kỵ, các loại chứng tật đó. Trong Phật giáo, đây là những chướng ngại rất lớn, giam hãm người tu không vượt được ra ngoài tam giới. Bởi vậy ba nghiệp thân, khẩu, ý là trọng yếu vô cùng.

Nói không thật, hay vọng ngữ, là điều mọi người dễ phạm phải. Nhiều khi nói không đúng sự thật, nói lời dối ngụy mà vô tình không hay biết.

Nói lời ác, là dùng lời thô lỗ mắng người khác, chọn những câu thật tục tĩu khó nghe, hay những lời độc địa, như vậy gọi là ác khẩu.

Nói lưỡi hai chiều, cũng như kẻ mang hai bộ mặt, trước mặt anh A thì nói xấu anh B, trước mặt anh B thì nói xấu anh A, gây mâu thuẫn giữa hai người, làm cho họ xích mích với nhau như nước với lửa, trong khi ấy thì mình đứng ở ngoài bàng quan xem hai bên kình địch nhau, nghiêu cò tranh chấp cho ngư ông thủ lợi.

Bởi vậy, trước khi đi vào phần giảng kinh, tôi cố gắng thanh tịnh mọi tập khí, khiến cho thân được thanh tịnh, khẩu được thanh tịnh, ý được thanh tịnh. Ðó là ý của câu : 'Tuyên-hóa thanh tịnh thân khẩu ý'.

'Quy mạng đảnh lễ Phật, Pháp, Tăng': Tôi xin nhất tâm quy mạng Tam bảo: Phật bảo, Pháp bảo, và Tăng bảo.

'Nãi chí thập phương tam thế Phật, quá khứ hiện tại vị lai trung': tức là, chiều rộng trải ra cùng hết mưới phương thế giới ; chiều sâu, thì suốt dọc ba đời, đời quá khứ, đời hiện tại, đời vị lai, ba đời Phật, tôi thảy đều quy kính.

'Chư tôn Bồ-tát ma-ha-tát': Các vị đại bồ-tát trong hết thảy các bồ-tát, tôi đều hướng tới để quy mạng đảnh lễ.

'Tây phương đông độ lịch đại tổ': Ðây là kế thế các đời tổ sư ở Tây-trúc và ở Ðông độ.

'Cổ vãng kim lai hiền thánh đăng': Các vị thánh hiền từ xưa đến nay, giống như những ngọn đuốc sáng chiếu rọi.

'Duy nguyện tam bảo thùy gia hộ': Trước khi chú giải 'Chứng đạo ca', tôi xin hết lòng chí thành nguyện cầu tam bảo, vô tận Phật, Pháp, Tăng, thường trú trong ba đời, khắp tận hư không, cùng khắp pháp giới, gia hộ cho tôi đầy đủ trí huệ đặng có thể giảng giải 'Chứng Ðạo ca'.

'Khải ngã chánh giác chuyển pháp luân': Khai mở cho tôi có được chánh tri, chánh giác, đặng tôi thấu tỏ đạo lý của 'Chứng Ðạo ca'.

'Kiến văn tinh tấn chứng bất thoái': Khiến cho người nào thấy 'Chứng đạo ca', được nghe 'Chứng đạo ca', hoặc thấy 'Vĩnh-Gia Ðại sư Chứng Ðạo Ca Thiển Thích', liền được dũng mãnh tinh tấn, y pháp mà tu hành, chứng được niệm bất thoái, vị bất thoái, hạnh bất thoái, ba điều bất thoái.

'Ðảo giá từ hàng cứu đồng luân': Quay ngược cỗ thuyền từ bi trở về cõi Sa-bà để cứu chúng sanh hữu tình khỏi cảnh khổ nạn.

'Nhất thiết chúng sanh giai diệt độ': Khiến hết thảy chúng sanh đều được diệt độ, lìa khổ được hạnh phúc, chứng được Niết-bàn diệu tâm.

'Hoàn ngã bổn lai pháp tánh thân': Trở về gốc nguồn, khôi phục lại gốc Pháp thân Phật của mình.

'Cận kiến Uy-âm cổ từ thân': Khiến chúng ta, tất cả mọi người được triều bái đức Phật cổ sơ nhất là Phật Uy-âm Vương, người cha từ bi cổ sơ nhất của hết thảy chúng sanh.

Số sau: bắt đầu vào chánh văn của bài ca Chứng Ðạo (Chứng Ðạo ca).

(còn tiếp)


Trở về trang nhà | Về đầu trang