Vietnamese|English


Lược Giảng Kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-La-Mật 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

tại Phật Giáo Giảng Ðường, San Francisco từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 4 năm 1969.

 

Hôm nay bắt đầu giảng Kinh Kim Cang. Kinh này nằm trong bộ Bát-Nhã. Nói theo Ngũ thời Bát Giáo, thì Phật thuyết Kinh Kim Cang vào thời-kỳ thứ tư, tức thời Bát Nhã. Kinh thì thuộc loại biệt giáo, và là một quyển trong số sáu trăm quyển của bộ Bát Nhã. Phật nói toàn bộ kinh Bát Nhã , tính tổng cộng trong 22 năm. Phật cũng nói trước là tương lai sau đó, kinh này rất thịnh hành tại Chấn-Ðán (tức Trung Hoa), rồi từ đó truyền sang các nước khác trên thế giới.

Ngài Huyền Trang đời Ðường, phụng chiếu vua Ðường Cao-Tông phiên dịch sáu trăm quyển của bộ Bát Nhã. Trong bản tiếng Phạn có tất cả 200.000 câu tụng, và với một thái độ hết sức nghiêm cẩn, Ngài phiên dịch đầy đủ, không dám có chỗ nào tự ý lược bỏ. Công trình phiên dịch tại chùa Ðại Hưng-Thiện bắt đầu từ năm Hiển-Khánh thứ 5 ( năm 660 sau TC) cho đến năm Long-Sóc thứ 3 (năm 663), tức là chỉ sau 4 năm là hoàn thành. Lúc đó, các cao-tăng đại-đức trong toàn quốc, các vị có tiếng tăm, đều góp công phụ giúp trong việc phiên dịch và nhuận sắc, đánh dấu một thời kỳ sán lạn nhất trong lịch sử phiên dịch kinh Phật giáo của nước Trung-Hoa.

Một năm nào đó trong thời gian phiên dịch, người ta thấy hoa đào nở bông, sáu lần trong một năm, đủ chứng tỏ công đức phiên dịch là trọng yếu dường nào, khiến cho các loại thần hoa, thảo mộc, đều hết lòng ủng hộ tán thán.

Pháp bất cô khởi,
Trượng cảnh phương sanh,
Ðạo bất hư hành,
Ngộ duyên tắc ứng.

Dịch nghĩa :

Pháp chẳng tự sanh
Do cảnh mà có
Ðạo chẳng ngẫu nhiên
Vì duyên mà ứng.

Hồi mới tới nước Mỹ, tôi lấy hiệu là 'Mộ trung tăng', tức là 'kẻ tu hành ở trong nấm mồ', ý nói không muốn cùng người tranh đua. Cho đến mùa hè năm nay, bỗng có mấy chục người, vừa học giả, vừa sinh viên, từ đại học Seattle, Washington, cùng tới để cầu pháp. Cảm động trước sự thành khẩn của các vị này, đã không quản ngại ngàn dặm xa xôi, tới xin học đạo, tôi cho tổ chức một thời tịnh tu suốt 96 ngày trong dịp nghỉ hè, giảng bộ kinh Lăng-Nghiêm. Rồi có người xin thỉnh giảng kinh Kim-Cang. Chẳng kể giảng được hay không giảng được, tôi bèn thuận miệng đáp ứng. Nay tôi sẽ giản lược giảng kinh Kim-Cang, do đó tôi sẽ không đề cập tới các ý niệm như 'bảy loại lập đề', cũng như không nói tới 'ngũ trùng huyền nghĩa'. Tôi sẽ chia thành ba phần, một để giải thích về các danh xưng, hai là nói về dịch giả và ba là giảng giải văn nghĩa.

PHẦN 1: GIẢI THÍCH DANH XƯNG.

Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật Kinh

Nói về Kim Cang thì kim cang là gì ? Ðó là kim cang tâm, cũng là kim cang tính, mà cũng là kim cang bát nhã. Kim cang tâm cũng là tính chất của kim cang, tính chất của kim cang cũng là bát nhã của kim cang. Nói ra nhiều danh từ, nhưng tóm lại chỉ là một.

Tại sao nói kim cang là 'tự tánh'? Tự tánh đó vĩnh viễn bất hoại, tự tánh kim cang cũng là kim cang tâm, kim cang tâm cũng vĩnh viễn bất hoại. Kim cang bát nhã này cũng là thực tướng bát nhã, thực tướng bát nhã vĩnh viễn bất hoại.

Kim cang bát nhã ba-la-mật là danh xưng của kinh, kim cang là tỷ dụ, bát nhã ba-la-mật là pháp. Bởi vậy, chiếu theo phương pháp Thất chủng lập đề (theo cách này các kinh được xếp thành 7 loại, tùy theo tiêu-chuẩn đề tài của kinh) thì đây là loại kinh pháp dụ, lấy kim cang để dụ cho bát nhã. Giảng như vậy là đúng. Tuy nhiên, vẫn không bằng cách giảng, như tôi đã nói ở trên, đây là kim cang tâm, kim cang tính, kim cang bát nhã. Bát nhã này chính là kim cang, khỏi cần dùng tỷ dụ; tâm này chính là kim cang, khỏi cần phải dụ; tính này chính là kim cang, khỏi cần phải dụ.

Ít có ai giảng như vậy, các vị pháp-sư nhất loạt đều giảng theo lối pháp dụ lập danh. Nay tôi cũng theo lối pháp dụ lập danh, nhưng đem cả hai hợp làm một : pháp tức là dụ, dụ cũng là pháp, pháp và dụ chỉ là một. Phân ra mà nói thì là Kim Cang Bát Nhã Ba-la-mật, còn hợp lại thì nói gọn là Kim Cang, cho nên người Trung-Hoa lược bỏ mấy chữ ba-la-mật mà gọi kinh này là kinh Kim Cang. Cũng có thể nói đó là kinh Bát-nhã ba-la-mật.

Còn như ý nghĩa của 'pháp', tôi vẫn thường nói với quý vị là nên hiểu 'pháp' một cách sống động, chớ không thể hiểu nó một cách khô cứng như chết. Giảng nó là một, cũng có thể giảng nó là hai, thậm chí là ba, là bốn, đều có thể giảng được. Pháp vô định pháp, cho nên trong kinh Kim Cang có câu : 'Chẳng có pháp nhất định, đó gọi là bát-nhã ba-la-mật đa'.

Kim cang thì có đủ cả ba nghĩa : kiên cố, sáng và bén nhọn.

Bản thể của kim cang là kiên cố bất hoại. Chẳng có vật gì có thể phá hủy nó, ngược lại, nó có thể phá hoại mọi vật khác. Bởi vậy kim cang có thể hàng phục thiên ma, ngoại đạo. Nguyên lai, các tà tri, tà kiến của thiên ma ngoại đạo không dễ gì mà chế phục được, tuy nhiên nếu bổn chất của ta là kim cang, tất nhiên ta có thể chế phục tất cả thiên ma ngoại đạo.

Hình tướng của kim cang là sán lạn, có thể phá thủng màn hắc ám của thế gian. Bởi phá được hắc ám nên ánh sáng hiển hiện ; phá được tà pháp nên chánh pháp mới duy trì lâu dài. Nếu tà pháp không bị phá, chánh pháp chẳng trụ được lâu. Tướng của kim cang chính là phá trừ hắc ám.

Dụng của kim cang là sự bén nhọn của nó. Như thế nào là bén nhọn ? Có thể ví như mũi dao nhọn chặt đá, rạch thép, chém sắt như bùn, cứng mấy cũng bị nát, bị hoại.

Nói về kim cang tâm, chúng ta không nên lầm tưởng đó là trái tim trong lồng ngực, trái tim huyết nhục của chúng ta. Trái tim huyết nhục có hình tướng của một bông sen dốc ngược, ban ngày xòe ra, ban đêm cụp lại. Tại sao vậy ? Trong tim có lỗ, ban ngày miệng lỗ mở ra, ban đêm miệng khép lại. Trái tim đó ở đây không có công dụng gì, cũng coi là một loại của cái tâm.

Còn một loại nữa kêu là tâm vọng tưởng, cũng gọi là thức thứ sáu. Các giác quan thảy đều có thức, như mắt có nhãn thức, tai có nhĩ thức, mũi có tỷ thức, lưỡi có thiệt thức, thân có thân thức, ý có ý thức. Mọi người đều cho rằng tâm huyết nhục là thức thứ sáu, đó chính là một sự sai lầm. Sai lầm thứ hai là đồng hóa tâm vọng tưởng với chân tâm. Kinh Lăng-Nghiêm ghi như sau : 'Phật bảo A-Nan, cái đó chẳng phải là tâm của ông. Ðó là tiền trần, tưởng tượng hư vọng, làm cho chân tánh của ông bị mê lầm. Cái đó là do từ vô thủy cho đến nay, ông nhận giặc làm con nên mất đi nguyên lý muôn đời, để phải chịu luân hồi sinh tử .' Ðoạn này trong kinh thật là trọng yếu, nói rõ thức thứ sáu là vọng tưởng, vì vậy Phật phá trừ vọng thức cho ông A-nan.

Tâm vọng tưởng thần thông biến hóa, hốt đông, hốt tây, hốt nam hốt bắc, chẳng cần có hỏa tiễn cũng có thể tới được mặt trăng. Ông A-nan cho rằng tâm đó chính là tâm của mình, nhưng Phật thì bảo : 'Cái đó không phải là tâm của ông, đó là tiền trần, một loại hình tướng, suy tưởng hư vọng. Cái tướng hư vọng sinh ra từ sự lầm tưởng của ông đã che mờ mất chân tánh. Từ thời vô thủy đến kiếp hiện tại này, ông nhận cái đó là tâm, nhận giặc làm con, để mất vật báu cố hữu của mình, mất đi cái tâm trong sáng , quý báu, luôn luôn thường trụ bất biến của mình, cho nên mới chịu cảnh trôi lăn trong sáu nẻo luân hồi, không biết lúc nào ra khỏi.' Ðoạn trên chính là nói về tâm vọng tưởng.

Còn loại thứ ba là gì ? Ðó là tâm chân như. Tâm chân như là thực tướng bát-nhã, cũng chính là thực tướng. Tâm chân như rộng lớn, không có gì ngoài nó. Cũng là nhỏ và không có gì chứa trong nó. Bảo nó lớn, tức không có cái gì lớn bằng. Bảo nó nhỏ, tức không có gì nhỏ bằng. Tâm đó mới là chân tâm của mỗi người trong chúng ta.

Vậy là nghĩa của hai chữ Kim Cang đã được lược giảng. Bây giờ giảng tới Bát Nhã.

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà | Về đầu trang