Sơ Lược về Phật Giáo
Ban Giảng Huấn Trường Trung Học Bồi Ðức, Vạn Phật Thành

Chương Hai

Nguyên Nhân Khổ Ðau:

Vô Minh và Nghiệp

Nguyện thứ hai của vị Bồ Tát trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện là:

Phiền não vô tận, thệ nguyện đoạn

Chúng sanh chìm trong bể phiền não
Kiến trược ngu si rất đáng sợ
Như Lai thương xót khiến thoát ly
Vĩnh viễn xa rời mọi phiền não.
(Phẩm 1: Thế Chủ Diệu Nghiêm, Kinh Hoa Nghiêm).

Nguyện thứ hai tương ưng với Ðế thứ hai trong Tứ Diệu Ðế: Tập Ðế, Nguyên nhân của Khổ đau.

Này các tỳ kheo! Thế nào là Tập Ðế?

Ðó là những khát vọng dẫn đến hiện hữu, kèm theo sự tham đắm và lòng ham muốn tìm cầu thỏa mãn ở mọi nơi. Tên của nó là sự khát vọng các thú vui vật chất, sự khát vọng hiện hữu,và sự khát vọng không hiện hữu. (Sự khát vọng này hàm ý sự thiếu hiểu biết -vô minh- về Khổ Ðế, Diệu Ðế Thứ Nhất. Vô minh và khát vọng là những phiền não căn bản). Nguyên nhân của Khổ phải được đoạn.
(Kinh Chuyển Pháp Luân).

Muốn dứt khổ, chúng ta phải nhận diện được nguyên nhân của nó. Ðức Phật đã giác ngộ được nguyên nhân căn bản của khổ đau là vô minh. Do vô minh mà dục vọng tức là sự ham muốn cho mình phát khởi. Vô minh và dục vọng kết cấu với nhau làm cho mù quáng và ngăn cản khả năng thực chứng tự tánh sẵn có. Bị đảo điên và mê lầm, thấy "mắt cá mà tưởng là hạt châu," lầm lẫn những sự vật vô thường đổi thay mà cho đó là chân tánh.

Ông đã đánh mất cái kho báu cơ bản của ông: đó là tâm tròn sáng, vi diệu của ông (bản minh). Tuy ở ngay trong tánh giác trong suốt (bản minh) của ông, do vô minh và lậu hoặc, ông lầm tưởng cái giả cho là cái thật
(Kinh Thủ Lăng Nghiêm).

Những tướng giả dối tiền trần làm mê lầm chân tính của ông, và vì vậy, từ vô thủy cho đến nay, ông nhận kẻ cắp làm con, bỏ mất tính bản lai thường trụ nên phải quay cuồng trong bánh xe luân hồi sanh tử
(Kinh Thủ Lăng Nghiêm).

Vì vô minh, chúng sanh tạo nghiệp. Chữ "nghiệp" có nghĩa là "hành động." Nói một cách chính xác hơn, nghiệp là những hành động mà chúng ta cứ lập đi lập lại mãi, những hành động mà nguồn gốc là dục vọng, bị chi phối bởi luật nhân quả. Luật này đơn giản có nghĩa là bất cứ hành động thiện hay ác nào của thân, khẩu, ý, đều phát sinh một quả thiện hay ác tương ưng. Gieo nhân thì gặt quả, mà quả báo thì nặng nhẹ và nhanh chậm tùy theo từng trường hợp.

Ví dụ có người nhiếc móc chúng ta, và chúng ta mắng trả. Sự nhiếc móc của người kia là quả của nghiệp quá khứ nay đang trổ. Khi chúng ta mắng trả, chúng ta đã tạo nghiệp mới, đưa đến quả xấu trong tương lai. Tất cả những điều chúng ta làm từ thân, khẩu, ý phát sinh ra là nhân. Và tất cả những điều xảy đến cho chúng ta là quả. Cho nên hiện tại vừa là quả của quá khứ vừa là nhân của tương lai. Hiện chúng ta ra sao là kết quả của những gì chúng ta đã làm trong quá khứ, và những gì chúng ta đang làm bây giờ là nhân của những gì chúng ta sẽ nhận chịu trong tương lai.

Tuy nhiên, nghiệp không có nghĩa là "số phận" hay là "định mệnh." Nghiệp không cố định mà cũng không phải là không thay đổi được. Chỉ có cái "lý," hay cái "luật" của nghiệp báo là bất di bất dịch: gieo nhân nào thì gặt quả đó. Mỗi hành động đều do ý muốn và sự lựa chọn của người làm ra nó. Người đó tự do lựa chọn, nhưng không có tự do trốn thoát hậu quả về sự lựa chọn của mình. Khi hành động cố ý, thì quả chắc chắn xảy ra không thể nào ngăn được. Con người không thể thoát được định luật bất biến này, nhưng con người có thể hiểu nó, làm chủ được sự vận hành của nó, nên do đó thoát khỏi vòng sanh tử vô tận.

Do đó, một trong những mục tiêu của sự tu hành trong Phật giáo là đạt được tâm thanh tịnh và trong sáng, giúp cho hành giả có những sự lựa chọn sáng suốt, tránh lầm lẫn về nhân quả. Ngay cả các vị Thánh Hiền, kể cả chư Phật và chư Bồ Tát, cũng không ở ngoài định luật nhân quả; các Ngài không bao giờ lầm lẫn về nhân quả. Bởi định luật nghiệp báo này nên sự nhấn mạnh về giữ gìn giới luật trong Phật giáo là một điều dễ hiểu. Giới luật và chánh niệm giúp chúng ta luôn luôn tỉnh thức trong mọi hành động, nhất là tác ý của những hành động ấy. Những hành vi mà động lực là dục vọng ích kỷ và vô minh chắc chắn kéo theo ác nghiệp, không thể tránh được. Ngược lại, những hành vi không do dục vọng và lậu hoặc bao giờ cũng đem lại hậu quả tốt là thiện nghiệp và sự tự do thực sự. Phân biệt được thiện và ác, lành và dữ, tự do và ràng buộc, là dấu hiệu của trí tuệ, một trong hai đức tính lớn nhất trong Phật giáo.

Từ bi là đức tính thứ hai, trọng tâm khác của sự hành trì Phật giáo, cũng phát xuất từ sự hiểu biết rõ ràng về nghiệp báo. Giáo lý nghiệp báo xác nhận sự quan hệ sâu xa giữa mọi chúng sinh và mọi vật. Sự tương quan giữa mọi vật có nghĩa là cái gì "chạm" đến một, tức "chạm" đến tất cả. Ðây là một chân lý mà chư Phật và chư Bồ Tát đã giác ngộ được. Những chia cắt giữa ta và người, giữa thân và tâm, giữa người và cảnh đều là ngụy tạo và hư dối. Cho nên lời dạy của người xưa, 'kỷ sở bất dục, vật thi ư nhân' (những gì mà ta không muốn thì đừng làm cho người khác) thật sự có một ý nghĩa sâu xa có thể dùng làm khuôn vàng thước ngọc.

Tuy nhiên, đức từ bi vượt hẳn trên lòng tốt thường tình. Lòng tốt thường tình chỉ là đối xử tử tế với người khác để mong họ đối xử tử tế lại với mình, còn đức từ bi là xem 'mình với tất cả mọi người là một'. Ðó là một cách nhìn và lối sống, đặt mình đồng một thể với muôn loài, chứ không phải chỉ là một thái độ hay là một lối suy nghĩ. Mọi sự mọi vật thực sự như vậy và phải như vậy, tất cả đồng một thể. Với cái nhìn và lối sống ấy thì mọi xung đột và rối loạn của nhân loại sẽ được giải quyết.

Thế nên hiểu rõ lý nghiệp báo là then chốt cho sự thấu suốt Phật pháp, giáo lý của trí tuệ và từ bi. Nghiệp xấu đưa chúng ta triền miên trong cái vòng huyển hóa của sinh tử luân hồi. Nhưng khi hiểu rõ và làm chủ được, thì chúng ta có thể tạo nghiệp tốt dẫn chúng ta thoát khỏi cái vòng bất hạnh này, và phát triển được từ bi và trí tuệ để thật sự đem lại lợi ích cho nhân loại. Ðức Phật đã so sánh những người còn kẹt trong vòng nghiệp báo như sau:

Ác nghiệp của người tạo như sữa trong bình: nó không đông ngay; nhưng nó lên men và theo sát kẻ khờ dại như lửa nóng vùi dưới lớp tro.
(Kinh Pháp Cú, Câu 71)

Gia đình, hoàn cảnh xã hội và ngay cả thân ta đều là quả của nghiệp quá khứ. Mọi sự mọi vật trên thế giới cũng vậy, là biểu hiện của cộng nghiệp.

Chúng sanh nghiệp sai khác
Thế giới nhiều vô lượng
Trong đó sanh thủ trước
Thọ khổ vui chẳng đồng.
(Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm thứ 5: Hoa Tạng Thế Giới)

Chúng ta gặp phải những việc dường như bất công, nhưng thật ra những gì chúng ta nhận lãnh đều là quả của những "hạt giống" đã gieo trong quá khứ. Chính chúng ta có trách nhiệm về mọi điều xảy đến vì nghiệp rất công bằng, không thiên vị và không bao giờ sai lầm.

Tất cả những gì các người gây ra cho kẻ khác sẽ trở lại để cho chính các người nhận lãnh.

Nếu các người muốn biết những nhân đã gieo trong các kiếp quá khứ,

Hãy nhìn sự báo ứng mà các người đang gặt hôm nay.

Nếu các người muốn rõ kiếp tương lai,

Chỉ cần nhìn những gì các người đang làm hôm nay.

Mọi người nam nữ trên thế gian, nghèo hèn hạ tiện hay giàu sang quyền quý, đang chịu vô lượng khổ hay hưởng bất tận lạc, tất cả đều đang gặt quả của nhân quá khứ.

Nhiều người có đầy đủ của cải

Nguyên do quả thật công bằng:

Trong quá khứ, chính những người ấy

Ðã rộng lượng bố thí thức ăn cho kẻ nghèo.

Những người có song thân dài tuổi thọ

Sống lâu, hạnh phúc, an nhàn

Lý do vì sao ai biết?

Chính là vì trong quá khứ,

Họ đã nuôi nấng trẻ mồ côi,

Và chăm sóc người già như chính cha mẹ họ.

(Kinh Nhân Quả Tam Thế)

Bồ Tát Ðịa Tạng, nếu gặp kẻ sát sinh, thì dạy cho biết, vì mầm vạ ấy mà chịu báo chết non.

Nếu gặp kẻ trộm cắp, thì dạy cho biết, vì thế bị quả báo nghèo cùng khổ sở.

Nếu gặp kẻ ác khẩu, thì dạy cho biết, vì thế bị quả báo họ hàng cãi nhau.

Nếu gặp kẻ hay dèm chê, thì dạy cho biết, vì thế bị quả báo thiếu lưỡi và lở mồm.

Nếu gặp kẻ hay giận dữ, thì dạy cho biết, vì thế bị quả báo xấu xa tàn tật.

(Kinh Ðịa Tạng Bồ Tát Bổn Nguyện)

Tập Ðế chỉ rõ căn nguyên của khổ là vô minh. Vì vô minh, chúng ta hiểu lầm rằng cái "ngã" của chúng ta là một cái gì sanh diệt. Mê lầm về điều căn bản này, chúng ta sẽ tham sống sợ chết, và do đó tạo ra vô lượng ác nghiệp. Thật ra, chân tánh của chúng ta chưa hề bao giờ sanh và chưa từng bao giờ diệt. Cái "ta" sanh diệt chỉ là một ảo tưởng, một huyển ảnh của tâm thức tạo ra bởi vô minh.

Rồi Ðức Thế Tôn giải thích về tính không có thực của cái ngã.

'Bất luận cái gì có sanh đều sẽ tàn hoại. Tất cả những ưu tư về cái ta đều vô bổ; cái ta như một ảo ảnh, những ưu phiền khổ não đến với nó sẽ qua đi. Chúng nó tan biến đi như một giấc mộng khi kẻ nằm mơ thức giấc. Người tỉnh thức được thoát ra khỏi sự sợ hãi; người ấy đã thành Phật và người ấy biết rằng tất cả những lo lắng, những tham vọng, và cả những khổ đau đều là phù phiếm. Người kia xuống tắm nơi một giòng nước, đạp phải một sợi dây và tưởng rằng đó là một con rắn. Anh ta kinh hãi, run lên vì sợ, và tâm anh ta liên tưởng đến những đau đớn cực độ do nọc độc con rắn gây ra. Khi anh ấy thấy rằng đó chỉ là một sợi dây thì anh ta thở phào một cách nhẹ nhõm biết chừng nào!'

"Nguyên nhân của sự khiếp đảm của anh ta là sự lầm lẫn, sự thiếu hiểu biết, và ảo tưởng của anh ta. Khi thấy con rắn tưởng tượng chỉ là sợi dây, thì tâm anh ta bình thản trở lại; anh ta cảm thấy nhẹ nhàng, vui mừng và hạnh phúc. Ðó là tâm trạng của người thấy rằng không có cái ta thật sự, rằng nguyên nhân của tất cả những phiền toái, lo âu, và phù phiếm chỉ là một ảo ảnh, một cái bóng, một giấc mộng."

(Tạng Pali)

Ðức Phật đã dùng một tỉ dụ khác để mô tả vô minh thì không có nhân. Ðó là đoạn nói về Diễn Nhã Ðạt Ða trong kinh Lăng Nghiêm. Một ngày nọ Diễn Nhã Ðạt Ða nhìn vào gương và thích cái mặt trong gương. Vô cớ nghĩ rằng mình không có đầu, và cái đầu trong gương là của người khác. Bỗng nhiên anh ta trở nên điên dại, vừa chạy vừa la, "Cái đầu của tôi đâu! Cái đầu của tôi đâu!"

Ðức Phật dạy: "Có lý do nào mà Diễn Nhã Ðạt Ða sợ hãi mất đầu đến nỗi điên loạn? Nếu sự điên loạn bỗng nhiên chấm dứt, thì không phải là vì anh ta lấy lại được cái đầu ở một chỗ nào bên ngoài. Cho nên trước khi sự điên loạn của anh ta dứt, làm sao mà cái đầu của anh ta mất được?..."
(Kinh Thủ Lăng Nghiêm).

"Khi sự điên loạn kiểu Diễn Nhã Ðạt Ða trong tâm của các vị chấm dứt, thì chính sự chấm dứt ấy là Giác ngộ. Cái tâm trong sáng, thanh tịnh tột đỉnh nguyên lai thẩm thấu tất cả thực tại. Cái tâm đó không phải do ai khác cho mình."
(Kinh Thủ Lăng Nghiêm).

Tự tâm trở chấp lấy tự tâm,
Không phải huyễn thành ra pháp huyễn.
Không chấp trước, không gì phi huyễn
Cả cái phi huyễn còn không sinh,
Pháp huyễn làm sao thành lập được?
Danh gọi là Diệu Liên Hoa,
Kim Cang Vương Bảo Giác."
(Kinh Thủ Lăng Nghiêm)

***

Trở về trang nhà | Về đầu trang