Vietnamese|English

Vĩnh Gia Ðại Sư Chứng Ðạo Ca Thiển Thích

(H.T. Tuyên Hóa giảng tại chùa Kim Luân, Los Angeles tháng 2, 1985)

(tiếp theo)

Quân bất kiến,
Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân
Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân
Vô minh thực tánh tức Phật tánh
Huyễn hóa không thân thị pháp thân.

Dịch :

Anh thấy chăng :
Dứt học, vô vi, nhàn đạo nhân,
Không trừ vọng tưởng, chẳng cầu chân ?
Tánh thực vô minh là Phật tánh,
Thân chẳng huyễn hóa tức pháp thân.

Quân bất kiến: Chữ quân chỉ người đối thoại, một lối xưng hô lịch sự, cũng giống như chữ tiên sinh, Trương tiên sinh, Lý tiên sinh. Bất kiến nghĩa là anh có thấy hay không ? Ðây là một lời ướm hỏi. Thấy hay không thấy chuyện gì đây?

Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân: Tuyệt học có nghĩa là vô học, tức đạt tới quả vị vô học. Tu Ðà Hoàn, Tư Ðà Hàm, và A Na Hàm đều là những quả vị hữu học, tức còn phải tu học. Quả vị thứ tư là A-la-hán, mới là quả vị vô học.

Tuyệt nghĩa là đoạn tuyệt, dứt bỏ con đường học tập. Vì sao dứt bỏ ? Vì đã chứng được trí huệ vô vi, không làm song chẳng có gì không làm. Trông bên ngoài thì người đó không có chuyện gì làm cả, nhưng thực ra ở bên trong ngài đương chuyển bánh xe pháp, giáo hóa chúng sanh. Chẳng qua ngài không chấp trước vào hình tướng, không muốn lưu vết tích khiến người hay biết, không muốn người ca tụng mình. Nhàn đạo nhân: Vì trông bề ngoài thanh nhàn, vô sự, tự tại như nhiên như kẻ chẳng vướng bận việc gì. Nhàn: Là nhàn nhã; tuy ngài nhàn nhã, nhưng là bậc đạt đạo. Ðạo: ngài đã đạt đạo, chẳng phải đang tu đạo. Ngài đắc đạo gì? Ðắc pháp môn tâm ấn của chư Phật; pháp môn mà lớn đến độ chẳng gì lớn hơn, nhỏ chẳng gì nhỏ bằng. Vì vậy ngài mới tự tại. Nhàn đạo nhân hàm ý vừa tự tại, vừa vui sướng, gồm đủ hai nghĩa bình an và tịch tĩnh. Nhìn ngài ta thấy ngài dường như vô sự, chẳng vội vàng áy náy, cũng chẳng ưu tư phiền não. Lúc nào cũng khoan thai, ung dung, phiêu nhiên tự tại, thật là :

Ðạo thông thiên địa, hữu hình ngoại
Tư nhập phong vân, biến thái trung.

Dịch là:

Ðạo thông trời đất, hiện ra mặt,
Trí nhập mây gió, tỏa hành vi.

Ðạo thông thiên địa hữu hình ngoại, chính là nghĩa của "lớn đến độ chẳng gì ngoài nó." Tư nhập phong vân biến thái trung, chính là nghĩa của "nhỏ đến độ không gì nhỏ hơn." Cảnh giới này chẳng phải là chỗ mình, những kẻ phàm phu tục tử có thể thấu đặng. Ðó là cảnh giới của bậc nhàn đạo nhân. Ý nghĩa này cũng có thể nói lên như sau :

Vạn vật tĩnh quán giai tự đắc
Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng.

Vạn vật tĩnh quán giai tự đắc: Nghĩa là ngài nhìn vạn vật rõ ràng, chẳng gì không thấu suốt, cũng chẳng cần suy nghĩ mới hiểu. Tứ thời giai hứng dữ nhân đồng: nghĩa là trong suốt bốn mùa xuân, hạ, thu, đông, ngài hòa điệu với mọi người, chẳng chút khác biệt; do đó ngài là nhàn đạo nhân.

Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân: Bởi một khi ngài đắc đạo, thì còn đâu vọng tưởng để tiêu trừ, cũng sao có cái chân để chứng đắc. Vọng hết, chân hiện, do đó khỏi phải trừ diệt vọng tưởng, chớ không phải còn vọng tưởng mà không chịu khử trừ. Chẳng có chân để cầu chứng đắc, bởi đã chứng đắc tới chỗ cực điểm rồi, nên chẳng còn phải mong cầu cái chân.

Vô minh thực tánh tức Phật tánh : Trước khi chứng đạo thì ngài cũng như mọi người, cũng vô minh, đầy phiền não, nhưng nay thì ngài đã hiển lộ Phật tánh, trở về gốc nguồn, bỏ mê về giác, dứt tuyệt vấn đề căn bản sanh tử. Tánh chân thật của vô minh cũng chính là Phật tánh vậy.

Huyễn hóa không thân thị pháp thân : Trước thì thân thể này là hư huyễn, nay thì chứng đắc được lý thể của pháp thân.

Pháp thân giác liễu vô nhất vật,
Bổn nguyên tự tánh thiên chân Phật.
Ngũ uẩn phù vân không khứ lai,
Tam độc thủy bào hư xuất một.

Dịch :

Pháp thân giác rồi không một vật
Bổn nguồn tự tánh thiên chân Phật.
Năm ấm: mây trôi, chẳng đến đi,
Ba độc: bọt bào, giả còn mất.

Pháp thân giác liễu vô nhất vật: Pháp thân là gì ? Ðó là tướng chân thật, song vô hình, vô tướng. Giác nghĩa là sáng tỏ. Vô nhất vật, vì ngài chẳng chấp trước gì cả. Chẳng có cảnh giới nào làm ngài mê muội, nên nói một vật cũng chẳng có.

Bổn nguyên tự tánh thiên chân Phật: Vị này đã chứng được cảnh giới nào ? Ðã đạt được trình độ nào ? Chính là đạt được căn bổn, nguồn gốc, tức là Phật tánh. Vì vậy, bổn nguyên tự tánh chính là Phật tánh có sẳn trong ta. Thiên chân Phật, là chỉ Phật bản hữu sẳn có. Do đó, ngài mới là bậc nhàn đạo nhân, dứt học và vô vi.

Ngũ uẩn phù vân không khứ lai: Ngũ uẩn là sắc, thọ, tưởng, hành, thức, còn gọi là ngũ cái, hay ngũ ấm. Tại sao gọi là ngũ uẩn? Uẩn là tích chứa lại. Tại sao gọi là ngũ cái? Bởi vì nó che khuất tự tánh không để cho tự tánh hiển lộ sáng sủa (chữ cái nghĩa là che lấp). Tại sao gọi là ngũ ấm? Bởi nó thuộc âm, có tính cách ẩn sâu, dấu kín. Sắc là chỉ tất cả những gì có hình; thọ, tức là thọ lãnh; tưởng, nghĩa là suy tưởng; hành, có nghĩa là niệm niệm nối tiếp không ngưng nghỉ, niệm niệm lưu hành; thức, nghĩa là phân biệt, nhận thức rõ. Năm uẩn, sắc, thọ, tưởng, hành, thức này, cái nào cũng che lấp tự tánh của chúng ta, và ánh sáng tự tánh bị che, do đó trí huệ của chúng ta cũng bị lu mờ. Năm loại uẩn đó thật là lợi hại vô cùng, cho nên trong tám loại khổ thì có một khổ thuộc về ngũ ấm (ngũ ấm xí thịnh khổ). Người ta ví nó như ngọn lửa, thiêu đốt con người, đốt chết cả tự tánh. Tuy nhiên, thể tánh của nó là hư huyễn, cho nên nói ngũ ấm phù vân không khứ lai, tức như mây nổi, bay qua bay lại trên không trung, chẳng có thể chất thực.

Ví như năm mầu xanh, vàng, đỏ, trắng, đen chẳng hạn. Chúng chỉ là những mầu sắc mà không có thực thể, chúng phải dựa vào vật chất để hiện ra từng mầu, còn chính chúng chẳng có gì là thực. Nói cho rõ hơn, ý niệm sắc - trong ngũ uẩn - tự thể là những vi trần, tức là những hạt bụi nhỏ kết hợp lại mà thành. Biết bao nhiêu bụi nhỏ đó tụ tập lại mới có thể hiện ra thành hình tướng để chúng ta trông thấy! Nếu những hạt bụi mà đứng riêng rẽ, chúng ta nhận ra chúng chẳng phải là điều dễ dàng. Năm mầu cùng tụ tập lại, ta thấy được rõ ràng là xanh, vàng, đỏ, trắng, đen; nhưng nếu riêng biệt từng mầu một, ta sẽ không thấy rõ; chỉ một mầu vàng, to cỡ bằng hạt bụi, ta không nhận ra, các mầu khác như đỏ, trắng, đen, đứng riêng biệt thì cũng như vậy. Ngược lại nếu chúng tụ hội với nhau, chúng sẽ hiển hiện rõ; ngũ uẩn cũng đồng một ý nghĩa như vậy.

Thọ, nghĩa là lãnh thọ; bởi có sắc nên mới có sự lãnh thọ; có lãnh thọ, nên mới có tưởng; tưởng, thì mang ý nghĩa nhanh chóng, ví như con ngựa chạy lung tung, vọng tưởng thì đi cùng khắp thiên địa; hành có nghĩa là hành động, là di chuyển; thức, chính là sự phân biệt. Cả năm uẩn này đều chẳng có thực thể, bên trong chẳng có gì là chân thực. Cho nên ngũ uẩn có thể ví như đám mây nổi trôi trên bầu trời, như màn sương, phút chốc tụ lại, phút chốc tan đi, tụ lại thì thành hình, tan đi thì mất dạng, tụ lại thời có, tan đi thời không, ở trong hư không tự do qua lại, muốn nắm bắt lấy cũng không bắt được.

Tam độc thủy bào hư xuất một: Tam độc là tham, sân, si. Ba thứ này gọi là độc, vì chúng đầu độc chúng ta, khiến cho huệ mạng pháp thân bị hôn mê bất tỉnh.

Tham, là lòng tham, lòng tham vô đáy, rất khó hàng phục, nhất là tham tài, tham sắc, tham danh, tham ăn, tham ngủ. Hãy nghĩ lại coi, nếu anh không tham tài, thì lại tham sắc; anh chẳng tham sắc, thì lại tham danh; Nếu tài, sắc, danh chẳng tham, thì lại vướng phải tánh tham ăn, thích ăn cho ngon; ăn chẳng ham nhưng bỏ ngủ thì chẳng được. Kẻ ham ngủ thì khi ngủ chẳng còn ham thứ gì khác. Giả thử tặng cho y cả triệu đồng, bảo y tỉnh dậy, y vẫn không tin. Cớ sao vậy? Y đương trong cơn mê ngủ! Chẳng phải sự thật, nên y lại ngủ nữa. Bất luận chuyện gì xẩy ra cũng không lay nổi người ngủ say. Người tu Phật không nên ngủ nhiều. Thí dụ như bảo tới đạo tràng để lễ Phật, thì lại nói rằng tôi ngủ chưa đủ giấc; bảo lên khóa tụng buổi sáng, thì lại nói mắt tôi không mở được, làm sao có thể tụng kinh? Vậy là ham ngủ, bỏ ngủ không nổi, đó chính là tham.

Sân, do lòng tham ngũ dục không toại nguyện mà sanh ra, hoặc bị người khác tranh của mình mà sanh tâm tức giận.

Si, như người có tâm sân hận, không có gì là không dám làm, nên hành động một cách ngu si. Bởi lý do đó nên tham, sân, si gọi là ba độc.

Ba yếu tố này đã đầu độc huệ mạng pháp thân khiến chúng ta không được giác ngộ. Tuy nhiên, dầu ba độc lợi hại như vậy, chúng cũng chỉ là những bọt nổi trên mặt nước, tự sanh ra rồi tự diệt, nếu chúng ta không để cho chúng lôi cuốn theo, chúng cũng không có cách gì để hại ta được. Chúng chỉ là bọt nước, hiện ra thành hình mà không có thực chất, cũng giống như mây mù che lấp, bởi vậy mới nói ba độc giống như bọt nước hư huyễn, khi còn khi mất, sanh ra rồi diệt.

(còn tiếp)


Trở về trang nhà | Về đầu trang