Phật Thuyết A Di Ðà Kinh Thiển Thích

Hòa Thượng Tuyên Hóa giảng tại chùa Kim Sơn San Francisco
từ tháng 10 đến tháng 12 năm 1969.

(tiếp theo)

Tên Chung: Kinh

Kinh được gọi là "Khế Kinh." Sao gọi là khế? Khế là khế hợp. Trên thì Kinh khế hợp với lý mầu của chư Phật và dưới thì khế hợp cơ duyên giáo hóa chúng sanh.

Trong phần giảng luận Kinh A Di Ðà này, tôi sẽ thảo luận năm ý nghĩa của Kinh:

  1. Pháp bổn: Kinh là gốc mọi pháp. Ðức Phật thông đạt cội nguồn mọi pháp nên Ngài thuyết giáo. Do vậy giáo là căn bổn của pháp. Ngài dùng bốn tất đàn (tứ tất-đàn) để diễn đạt căn bổn của pháp. Tất nghĩa là phổ biến, đến khắp; Ðàn nghĩa là bố thí. Tất-đàn nghĩa là bố thí đến khắp chúng sanh.

  1. Thế gian tất-đàn: Bố thí pháp thế gian.

  2. Ðối trị tất-đàn: Ðối trị, sữa đổi lỗi lầm của chúng sanh.

  3. Vị nhân tất-đàn: Vì chúng sinh mà thuyết pháp.

  4. Ðệ nhất nghĩa tất-đàn: ban truyền giáo lý rốt ráo (đệ nhất nghĩa) cho chúng sanh.

Nói cho cùng, thì Pháp không thể diễn bày; nhưng vì hành Bốn Loại Bố Thí Pháp ghi trên nên Ðức Phật có thể diễn đạt pháp. Vì vậy, chữ Kinh có nghĩa là Căn Bản Pháp.

  1. Vi Tế Pháp: Nếu các giáo lý thâm diệu nhiệm mầu không được Kinh làm sáng tỏ, không ai có thể hiểu được các pháp ấy.

  2. Suối Trào: Những giáo lý từ các Kinh bản tuôn trào ra như nước suối.

  3. Ðường chuẩn: Ðể vạch một đường chuẩn, thợ mộc và thợ nề dùng sợi dây dính mực đen, căng ra rồi búng xuống, làm thành một đường thẳng. Một Kinh bản giống như vậy và cũng tương tự như com-pa và thước vuông, dùng để hướng dẫn người.

  4. Một vòng hoa kết: Giáo lý được liên kết với nhau trong Kinh như hoa kết thành vòng.

Kinh cũng có thêm bốn nghĩa dưới đây:

  1. Quán xuyến hay xâu kết lại với nhau: Bao nhiêu ý nghĩa chủ yếu Phật dạy được xâu kết lại trong kinh.

  2. Nhiếp trì: Kinh văn nhiếp trì những chúng sanh nào cần được giáo hoá.

  3. Phương pháp: Kinh là phương pháp mà từ xưa tới nay người người đã dùng nó để tu hành.

  4. Thường còn: Kinh thì mãi mãi thường còn và không thay đổi; không thể thêm hay bớt một chữ trong Kinh. Kinh là thứ mà ngay cả thiên ma ngoại đạo cũng không sao phá hoại được.

Kinh còn có nghĩa là một con đường. Thí dụ các bạn muốn đi Nữu Ước nhưng không biết đường, các bạn có thể đi về hướng Tây thay vì về hướng Ðông. Các bạn có thể đi suốt đời cũng không đến Nữu Ước. Tu hành cũng như vậy, nếu chẳng biết đường, các bạn có thể tu mãi mà không thành Phật.

Kinh cũng là điển tịch, kinh sách, cẩm nang tiêu chuẩn để dựa vào mà tu hành. Có Kinh giải thích pháp thế gian. Kinh cũng có thể là một bộ đại tự điển, trong đó các bạn có thể tìm thấy bất luận học thuyết, chủ nghĩa nào.

Kinh cũng là cái khí cần yếu để làm ta sống. Thiếu khí ấy, ta sẽ gần kề với cái chết. Do đó có thể ví Kinh như là không khí; học hỏi kinh điển tức là hít thở không khí đó vậy. Không ai có thể sống tách rời với không khí.

Có bạn hỏi: Con không học Phật pháp hay học kinh gì cả, phải chăng con không thể hít thở được cái khí này?

Nên biết, không khí thường có trong hư không, bạn học hay chẳng học Phật Pháp, khí ấy vẫn tồn tại. Người người tiếp xúc, hỗ tương trao đổi khí ấy. Kẻ học Phật pháp thì hít thở khí tươi mát, khiến cho kẻ khác cũng chịu ảnh hưởng tốt một cách gián tiếp.

Kinh cũng là thức ăn tinh thần. Khi các bạn buồn phiền, chán nản, mà đọc Kinh thì tinh thần của bạn sẽ trở lại thoải mái, tiêu tan mọi u sầu, tâm tình cởi mở, thông đạt vô ngại.

Kinh là tên gọi chung. A Di Ðà là tên riêng của Kinh, mà không có kinh nào khác có. Kinh là di sản của Phật để lại, tuy có vô lượng vô số bộ Kinh với nhiều tên khác nhau, song nếu xét về cách đặt tên thì chẳng ngoài bảy cách đặt tên.

 

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà