Vietnamese|English


Lược Giảng Kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-La-Mật 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

tại Phật Giáo Giảng Ðường, San Francisco từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 4 năm 1969.

 

(tiếp theo)

Vậy là nghĩa của hai chữ kim cang đã được lược giảng. Bây giờ giảng tới bát nhã.

Thế nào là bát-nhã ? 'Trúc biếc hoa vàng, không có gì là không bát nhã,' nghĩa là cành trúc xanh hay bông hoa vàng, cái gì cũng là bát nhã. Chữ bát nhã nguyên là tiếng Phạn, danh từ này được xếp vào loại có ý nghĩa hàm súc, nên không phiên dịch sang tiếng Trung-hoa, vì nếu dịch thì chỉ dịch được một ý và bỏ mất những ý nghĩa khác. Ðây là loại 'đa hàm bất phiên,' một trong những loại từ chỉ được ký âm mà không dịch nghĩa.

Kinh Bát Nhã có bao nhiêu bộ? Nguyên có tám bộ, nhưng phân tích kỷ lưỡng thì kinh được chia thành 10 bộ.

Thứ nhất là Kinh Ðại Bát-nhã, có sáu trăm quyển. Về kinh này, chúng ta đã chẳng nói qua rồi sao? Trong thời gian Ngài Huyền-Trang phiên dịch kinh đó, hoa đào trổ bông sáu lần trong một năm.

Hai, Kinh Phóng Quang Bát-nhã, có 30 quyển, nói về Phật phóng quang khi thuyết bát nhã.

Ba, Kinh Ma-ha Bát-nhã, có 30 quyển. Ma-ha nghĩa là 'đại', nhưng không cùng một danh xưng với kinh Ðại Bát-nhã.

Bốn, Kinh Quang Tán Bát-nhã, có nghĩa là Phật phóng quang khi tán thán bát nhã.

Năm, Kinh Ðạo Hạnh Bát-nhã.

Sáu, Tiểu Phẩm Bát-nhã. Mỗi bộ, Quang Tán, Ðạo Hạnh và Tiểu Phẩm đều gồm có 10 quyển. Tổng cộng, tính từ bộ kinh thứ nhất thì gồm 690 quyển.

Bảy, Kinh Thắng Thiên Vương Bát-nhã, gồm 7 quyển.

Tám, Kinh Nhân Vương Bát-nhã, tức Kinh Nhân Vương Hộ Quốc Bát-nhã , gồm 2 quyển.

Chín,Thực Tướng Bát-nhã, chỉ có 1 quyển.

Mười, Kinh Văn-thù Bát-nhã, cũng chỉ có 1 quyển. Tổng cộng toàn bộ là 701 quyển.

Phật nói kinh Bát-nhã tại 4 địa điểm, trong 16 lần pháp hội. Ðịa điểm thứ nhất là tại núi Linh-thứu, thành Vương Xá, phía đông-bắc thành Thất-la-phiệt; Phật nói cả thảy là bảy lần. Ðịa điểm thứ nhì, tại vườn Cấp-cô-độc, rừng cây của thái tử Kỳ-đà, Phật cũng thuyết bảy hội. Ðịa điểm thứ ba tại trời Tha Hóa Tự Tại, ở cung điện Ma-ni bảo tạng, Phật thuyết một hội. Nơi thứ tư là tại vườn Trúc Lâm, bên hồ Bách Lộc (vườn nai), Phật cũng chỉ thuyết một hội.

Kinh Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật này là quyển thứ 577 trong sáu trăm quyển thuộc bộ Ðại Bát-nhã do Phật thuyết nơi vườn Cấp-cô-độc, tức địa điểm thứ hai trong kỳ pháp hội thứ ba. Ðó là tóm tắt lai lịch của kinh này.

Bát-nhã có ba thứ: văn tự bát nhã, quán chiếu bát nhã và thực tướng bát nhã.

Bát nhã được dịch thành chữ trí huệ. Tuy nhiên, dịch như vậy chỉ được một ý mà không lột hết tất cả các nghĩa của nó.

Do văn tự bát-nhã mà ta khởi công quán chiếu bát-nhã ; do quán chiếu bát-nhã nên đạt tới thực tướng bát-nhã. Thế nào là văn tự bát nhã ? Ðó là văn tự trong kinh, nếu mình không có trí huệ quán chiếu thì kinh chỉ toàn là chữ, đọc đi đọc lại chẳng sao hiểu được. Nếu không hiểu thì không có bát nhã; không có bát-nhã thì không sanh trí huệ. Xưa nay, trí huệ này ai ai cũng có, chỉ vì bấy lâu mình không chăm sóc nên nó không xuất hiện. Bởi vậy, thiếu trí huệ quán chiếu, thì không có quán chiếu bát-nhã; do đó sẽ chẳng biết đặng thực tướng bát-nhã. Ðiều cần là phải có quán chiếu bát-nhã mới có thể tới được mục đích tức là thực tướng bát-nhã. Ðó là sơ lược về ý nghĩa của bát-nhã.

Về ba-la-mật, có người nói chữ đó nghĩa là ngọt như trái khóm (pineapple)*. Không sai! Ba-la-mật là ngọt. Chúng ta nếm vị ba-la-mật thì thấy ngọt thật! Song ba-la-mật này chẳng phải chỉ ngọt một cách đơn thuần, mà là thứ ngọt ở trong vị ngọt. Vì sao vậy? Vì nó làm ta lìa khổ được vui. Ba-la-mật, hay paramita, là tiếng Ấn-độ. Ở Ấn-độ, hễ có việc gì tốt đẹp nhất đều gọi là paramita. Nếu dịch sang tiếng Hoa thì thành ra từ 'đáo bỉ ngạn' (tới bờ bên kia). 'Ðáo bỉ ngạn' nghĩa là gì? Như mình hiện ở thành phố San Francisco mà muốn tới thành phố Berkeley thì phải đi xe qua cầu, hoặc dùng thuyền qua sông, mới tới được bờ bên kia. Tới được thì gọi là 'ba-la-mật' hay 'đáo bỉ ngạn.' Như học hết tiểu học, đậu bằng tốt nghiệp, đó là ba-la-mật. Học hết trung học, có chứng chỉ tốt nghiệp, cũng là ba-la-mật. Rồi lên đại học, học xong, cũng là ba-la-mật. Sau đó học nữa, đến thạc-sĩ, bác sĩ, học xong từng giai đoạn một, đều gọi là ba-la-mật.

Bây giờ chúng ta đương ở đâu mà hướng tới 'đáo bỉ ngạn' đây ? Chúng ta đương ở bờ sinh tử, cố lội qua giòng thác phiền não để tới được bờ niết bàn, đó gọi là ba-la-mật. Nói tới ba-la-mật, thì cái gì cũng có thể là ba-la-mật. Như hiện nay, chúng ta chưa khai ngộ, mới bắt đầu ngồi thiền. Tới khi khai ngộ, thì đó là ba-la-mật. Nói tóm lại phàm làm công việc gì mà tới được thành công viên mãn, đều có thể gọi là ba-la-mật. Chúng ta tu học Phật pháp, lúc đầu rất khó lãnh hội, do đó một số đông mới nghe qua một lần, thấy khó hiểu, liền mất hứng thú và không trở lại nữa. Người tu học Phật pháp, trước hết phải có căn lành, còn phải nhẫn nại, và xem Phật pháp hết sức trọng yếu, vượt trên mọi sự. Khi không hiểu thấu điều gì, thì nhất định phải tìm cách nghe pháp, đọc kinh để được thấu đáo; giống như người đói bụng, cần tìm quán ăn là việc cần thiết nhất. Phải có lòng vui thích nghe kinh như vậy. Khi nghe xong kinh cũng gọi là ba-la-mật.

* Ðây là cách chơi chữ. Ba-la-mật tiếng Quan thoại phát âm là bwo lwo mi, không khác với phát âm của chữ bwo lwo nghĩa là trái khóm (pineapple) và mi nghĩa là mật (honey). Bwo lwo mi (ngọt như khóm) và paramita thì đồng âm nhưng dị nghĩa.

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà | Về đầu trang