Phương Pháp Tu Tập Ðể Tâm Ý Ðược
Nhu Hòa và Nhẫn Nại

 

Người tu càng chuyên chú vào đạo thì đạo hạnh mỗi ngày một sáng chói. Tâm càng hướng nội phản chiếu thì tánh càng ngày càng hóa. Do đó tu đạo mà thiếu công phu hàm dưỡng thì khó giữ đạo, tánh định, phát huệ. Cốt tủy của sự dưỡng đạo ấy nằm ở nơi chữ thăng bằng, nhu nhẫn. Theo Kinh Hoa Nghiêm, có mười thái độ mà chư Bồ tát thường hun đúc, hàm dưỡng để tâm ý thăng bằng, lòng trở nên nhu hoà, nhẫn nại. Ðó là:

  1. Không xả tâm bồ đề: Tâm chí lúc nào cũng hướng về đạo, chẳng vướng vào đời. Dù ở trong đời, cũng không chạy theo danh, lợi, quyền, thế, hưởng thụ. Do đó đạo phong tự nhiên cao thượng, tự tại.

  2. Xa rời thái độ và quan niệm nhỏ hẹp, hạn chế của hàng nhị thừa: tức là thái độ tu giải thoát cho chính mình, không lập đại nguyện, không thấy đường tu là vô tận và không thấy nhiệm vụ của mình đối với chúng sinh. Khi có quan niệm nhỏ hẹp hạn chế, người tu sẽ dễ tự gò bó, tự áp lực, tự đóng khung, rồi sinh ra phiền não, rối nhiễu thân tâm.

  3. Thường quan sát để làm ích cho chúng sinh: Chuyện gì cũng nghĩ tới chúng sinh trước. Phải sẳn sàng tha thứ cho lỗi lầm của kẻ khác, phải nghĩ đến lợi ích kẻ khác trước khi nghĩ đến mình. Ý nghĩ tha thứ là căn bản làm tâm nhu nhuyến, hòa dịu.

  4. Thường làm chúng sinh an trụ nơi Phật pháp: Tức là làm cho họ hiểu được chân lý đạo Phật hiển hiện trong đời sống hằng ngày. Khi thiếu chân lý sâu sắc để chỉ đạo và hiển bày thực chất của cuộc sống, mình sẽ khó đạt tới điểm thăng bằng trong tâm linh.

  5. Thường tu những hạnh mà chư Bồ Tát làm: Tức là thường suy nghĩ xem giả sử chư Bồ Tát đối diện với những khó khăn tương tự như mình gặp, thì các ngài sẽ nghĩ gì và làm gì để khắc phục nó? Các ngài làm sao tu lục độ trong đời sống hằng ngày? Do suy nghĩ theo chư thánh hiền mình sẽ vượt ra ngoài những cảnh giới điên đảo bế tắc do suy nghĩ, tà kiến và phiền não của mình tạo ra. Nhờ vậy, lòng sẽ trở nên nhu hòa, sáng suốt.

  6. Không có thái độ sở đắc đối với việc tu hành cũng như đối với mọi chuyện trên đời: tức là không nghĩ rằng mình tu hành thì phải đạt tới cái gì, đắc cái gì. Do đó không tự tạo áp lực với chính mình. Tâm sẽ thư thái tự tại tu hành, và nhờ đó trở nên nhu hoà, cân bằng.

  7. Khi có công đức hay căn lành gì thì mình đều hồi hướng cho chúng sinh hết.

  8. Không chấp trước vào bất kỳ thân tướng nào của chư Phật cả: Làm tất cả những công hạnh như lễ kính chư Phật, xưng tán Như Lai, thừa sự cúng dường, song mình không cầu cạnh, chấp trước vào thân tướng của Phật. Càng bớt chấp trước thì tâm càng bớt mong cầu; ít cầu thì thêm tự tại.

  9. Thường tư duy về mọi pháp, mọi sự để xa rời mọi sự thủ trước chấp chặt: Tư duy là nhìn theo chân lý, nghĩ theo lời Phật dạy. Có chân lý chiếu soi thì mình mới thấy suốt chân tướng vạn sự; có thấy suốt thì mới hết chấp trước đặng.

  10. Thường giữ gìn các giới luật: như ngũ giới, thập giới, bồ tát giới. Hễ phá giới thì tu gì cũng vô hiệu quả. Giữ giới và tu đức từ bi là hai việc làm không thể tách rời đặng. Do vậy, người tại gia, mới phát tâm học Phật, cần thiết nhất phải ăn chay để thể hiện lòng từ bi. Không trường chay nhưng mong đắc định, đắc đạo, hay vãng sinh Cực Lạc là chuyện tuyệt đối không thể có.

Kinh Bảo Vân và Kinh Vô Lượng Thọ cũng dạy về những cách nhu nhẫn như sau:

  1. Nội nhẫn: Khi gặp những thứ làm đau đớn thân xác hay bức bách tâm trí thì mình không sinh phiền não, bực bội.

  2. Ngoại nhẫn: Khi đối diện với những hoàn cảnh khổ não bên ngoài, mình không sinh lòng sân nhuế giận dữ.

  3. Pháp nhẫn: Khi nghe nói tới kinh điển sâu xa vi diệu, lòng không sợ hãi, mà lại tinh tấn siêng năng đọc tụng chúng.

  4. Tùy Phật giáo nhẫn: Khi tâm vừa móng khởi mảy lòng giận dữ hay phiền não thì lập tức tư duy suy nghĩ rằng: Thân ta do đâu mà an trụ? Mọi sự (pháp tướng) do đâu mà khởi dậy? Quan sát như vậy sẽ chẳng thấy gốc của lòng sân hận, chẳng thấy nó từ đâu sinh ra, duyên khởi nên có, do đó chấm dứt lòng giận dữ thịnh nộ.

  5. Vô phương sở nhẫn: Ở mọi thời điểm, mọi nơi chốn, lúc nào cũng giữ tâm thái thăng bằng, hàm dưỡng một sự mềm mại nhu hòa.

  6. Tu xứ xứ nhẫn: Hay còn gọi là bình đẳng nhẫn; tức là chẳng cần biết thân hay sơ, cao hay thấp, bạn hay thù, ai ai mình cũng đem lòng bình đẳng mà nhẫn thọ mọi chuyện.

  7. Phi sở vi nhẫn: Nghĩa là lòng nhẫn nại chẳng phải do một nhân duyên nào đó sinh ra, cũng chẳng vì lý do sợ sệt, hay vì lý do muốn thi ân, hay muốn thuận theo tình hình, hay vì hổ thẹn. Tức là cách tu tập sự nhẫn nại chẳng phải vì do một áp lực nào bên ngoài thúc đẩy.

  8. Bất bức não nhẫn: Hay còn gọi là vô nhuế nhẫn, tức là khi gặp nghịch cảnh phải chịu khuất, chịu nhục, mình vẫn nhẫn thọ đặng.

  9. Bi tâm nhẫn: Khi bị chúng sinh hủy nhục, chửi bới, làm xúc phạm triền nhiễu, nhưng lòng mình vẫn không tức giận. Ngược lại mình cần khởi lòng từ bi, thương xót, phát nguyện độ họ.

  10. Thệ nguyện nhẫn: Hay thành tựu thệ nguyện nhẫn; chư Bồ tát nhớ lại rằng: khi xưa mới tu mình từng phát nguyện cứu độ chúng sinh; ngày nay nếu mình sinh lòng tức giận não hại chúng sinh thì chẳng những không thể độ chính mình, mà lại chẳng đem lợi ích gì cho chúng sinh. Bồ tát tư duy như vậy nên không khởi lòng sân nhuế mà cam thọ nhẫn nhịn.

Bồ Ðề Hải

Trở về trang nhà | Về đầu trang