Sơ Lược về Phật Giáo
Ban Giảng Huấn Trường Trung Học Bồi Ðức, Vạn Phật Thành

 

(tiếp theo)

Chương Ba

CON ÐƯỜNG CHẤM DỨT KHỔ ÐAU: HÀNH PHÁP

 

Nguyện thứ ba trong Tứ Hoằng Thệ Nguyện của Bồ Tát: Pháp môn vô lượng thệ nguyện học.

Tự tại dùng pháp môn vô lượng
Ðiều phục chúng sanh trong mười phương
Thoát vòng khổ đau khôn kể xiết
Bồ tát vô chấp, vô phân biệt.

(Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Thế Chủ Diệu Nghiêm)

Nguyện thứ ba tương ưng với Diệt Ðế: Con đường dẫn đến sự diệt khổ.

Này các tỳ kheo! Diệu Ðế, con đường dẫn đến sự diệt khổ là gì? Con đường ấy chỉ là Bát Chánh Ðạo: Chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định. Con đường ấy phải được hành trì.
(Pháp môn hay là phương pháp hành trì của Bồ Tát là Lục Ðộ: bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, và trí tuệ.)
(Kinh Chuyển Pháp Luân)

Từ ngữ "Pháp" có nghĩa là giáo lý Ðức Phật dạy. Như đã nói trước, Pháp đúng theo nguyên văn chỉ những luật lệ hay chân lý chi phối thực tại. Trong Phật giáo, Pháp liên quan đến những phương pháp hành trì mà Phật đã từ bi đặt ra để dẫn dắt chúng sanh ra khỏi rừng rậm vô minh của họ để thấy được ánh sáng của thật tánh. Pháp cung ứng một sự phân tách thâm sâu vấn đề khổ đau, đồng thời cung ứng vừa một kiến giải siêu việt khổ đau (giác ngộ), vừa một số những phương pháp mà chúng ta thực sự cần để thực hiện giác ngộ.

Nói một cách đơn giản, Pháp là:

Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo

Dịch là:

Tránh các điều dữ
Làm những việc lành
Thanh tịnh tâm ý
Ðó là lời chư Phật dạy.

(Kinh Pháp Cú)

Pháp hành quan yếu gồm có giới, định, huệ.

Do giới sanh định, do định sanh huệ.

(Kinh Lăng Nghiêm)

GIỚI:

Không có một căn bản vững vàng về đạo đức thì không thể phát triển công phu thiền tập và đắc định để phát huệ. Phật đã chế ra ngũ giới như là những đức tính căn bản cho đời sống con người. Ngũ giới, tinh hoa của việc tu tâm, gồm có:

  1. Không giết hại: Chúng ta không được cố ý giết hại bất cứ sinh vật nào bằng cách tự mình giết, bảo người giết, tham gia việc giết hay ưng thuận việc giết. Người tu có thể tránh sự giết gián tiếp bằng cách chỉ ăn những thức ăn chay. Lòng từ bi, sự kính trọng sự sống, và suy nghĩ rằng mình là một với tất cả sinh vật là những lý do giữ giới này.

  2. Không trộm cắp: Ta không được lấy bất cứ cái gì không cho ta và không phải là của ta. Giới này không những được áp dụng cho những vật đắt tiền như vàng bạc, mà ngay cả đến những vật nhỏ như cây kim ngọn cỏ. Giới này được giải thích như là sống một cách cần kiệm và không phung phí tài nguyên.

  3. Không tà dâm: Có quan hệ xác thịt với bất cứ ai không phải là vợ của mình đều gọi là tà dâm. Tà dâm hay loạn dâm tỉ như đồng tình luyến ái, dâm dật với súc vật, là những nhân dẫn đến sự tái sinh trong những cảnh giới khổ đau.

  4. Không nói dối: Có bốn loại vọng ngữ: nói dối, nói lời vô bổ (như bàn chuyện thị phi, nói lời chọc tức), nói lời độc ác (như mắng nhiếc thậm tệ người khác), và nói lưỡi đôi chiều (để gây chia rẽ nơi người khác).

  5. Không uống rượu và dùng các chất say. Rượu, ma túy, chất kích thích và ngay cả thuốc lá đều được coi là những chất say. Những thứ này làm hại thân thể, làm cho tâm u mê điên đảo, và là nhân của sự tái sanh như là những người đần độn.

Bây giờ ta sẽ mô tả các quy tắc về giới hạnh mà một người tại gia cần phải theo nếu người này muốn trở thành một đệ tử tốt. Tuy nhiên, cần biết rằng muốn làm tròn bổn phận của một tỳ kheo, người xuất gia không nên có phong thái như một người tại gia.

Người này không được giết hại, bảo người khác giết, hay ưng thuận sự giết. Người này phải tự chế, không được áp bức tất cả sinh vật trên thế gian, dù mạnh, dù yếu.

Vì đệ tử biết rằng vật ấy thuộc về kẻ khác, người này tránh việc trộm cắp dù ở đâu. Người này không được trộm cắp, hay bảo người khác trộm cắp. Tất cả sự trộm cắp đều phải tránh.

Kẻ khôn ngoan phải tránh sự gian dâm như là tránh một hố lửa đang cháy. Nếu người ấy không thể sống độc thân, thì y không được mơ tưởng đến vợ người khác.

Tại một chỗ đông người hay tại một nơi công cộng, người này không được nói dối với người khác. Người này không được bảo người khác nói dối hay ưng thuận sự nói dối.

Biết rằng những chất say làm cho mình mất khả năng tự chế, người tại gia thích tự chế không dùng chất say, không được bảo người khác dùng, hay ưng thuận việc người khác dùng chất say.

(Kinh Dammika)

Giới là nền tảng của sự giác ngộ.

(Phẩm Bồ Tát Vấn Minh Kinh Hoa Nghiêm)

Sự tự trọng (nhất là sự trân quý cái tự tánh của mình) và sự tôn trọng kẻ khác là gốc của giới luật Phật giáo. Hai đức tính này được phát triển từ mối quan hệ căn bản đầu tiên của con người: đó là quan hệ giữa cha mẹ và con cái. Ðức từ bi, quảng đại và tha thứ cũng như sự tự trọng được nảy mầm và vun xén từ mối tương quan này. Vì vậy, trong Kinh Phạm Võng, Ðức Phật đã dạy:

Hiếu thuận là một pháp của đạo tối thượng. Hiếu thuận cũng được hiểu như là giới luật. Ðức này cũng được gọi là giá giới.

Ðạo căn bản làm người là tôn kính cha mẹ. Phật cho rằng hiếu đạo là một đức tính tối thiết cho đời sống đạo đức.

Này các tỳ kheo! Có hai người mà các thầy không bao giờ báo đền đủ ân đức: Ðó là cha và mẹ của các thầy. Dầu cho các thầy có mang cha mẹ lên vai, mẹ trên vai này và cha trên vai kia trong suốt một trăm năm, và trong lúc ấy cha mẹ phóng uế trên vai các thầy; rồi các thầy phải rửa ráy, xoa dầu, tắm rửa, rồi xoa bóp cho cha mẹ, ngần ấy công việc cũng vẫn chưa đủ để báo đáp.

Ví thử các thầy có thể tôn cha mẹ lên ngôi vị tột đỉnh làm thế chủ trên quả đất này, làm cho các vị có đủ thất bảo (vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xích châu, xà cừ, mã não), từng ấy cũng chưa đủ để đền đáp ơn sâu của cha mẹ các thầy. Tại sao vậy? Này các tỳ kheo! Cha mẹ cúc cung tận tụy cho các con. Các vị nuôi dưỡng, và dìu dắt con cái trên thế gian này.

(Kinh Tăng Nhất A Hàm)

Và trong đoạn dưới đây của Kinh Phụ Mẫu Trọng Ân Nan Báo, Phật đã mô tả một cách vô cùng cảm động những điều cha mẹ làm cho con cái:

Trong mười tháng (âm lịch) mẹ mang thai, mỗi lần đứng dậy, mẹ cảm thấy khó chịu tựa như phải mang một vật nặng. Như một người tàn tật kinh niên, mẹ nuốt miếng cơm, uống ngụm nước không vô. Khi mười tháng qua đi và thời kỳ sinh nở tới, mẹ chịu nhiều đau đớn để cho con được sinh nở vuông tròn. Trong lúc lâm bồn, mẹ sợ mình chết đi không sinh con được tựa như một con lợn hay một con cừu đang chờ chết tại nhà tế sinh. Rồi thì máu tuôn ra đầy mặt đất...Ðó là những đau đớn mà mẹ chịu.

Khi bé đã sinh, mẹ dành ngọt bùi cho con và nuốt những đắng cay. Mẹ bồng con, cho con bú, giặt rửa những cái dơ bẩn của con. Vì con, không có khó khăn nào, không có nặng nhọc nào mà mẹ từ nan. Mẹ chịu lạnh buốt xương, nóng cháy thịt mà chẳng hề than vãn. Bên ướt mẹ nằm, bên ráo con lăn. Trong ba năm dài, mẹ nuôi con bằng sữa mẹ, từ trong máu mẹ mà ra.

Cha mẹ tận tâm giáo dục và dìu dắt con cái trên đường lễ nghĩa đạo đức từ khi con còn thơ cho đến lúc trưởng thành. Rồi thì cha mẹ lo cưới hỏi cho con, từ mẫn ban cho những đồ vật quý giá nhất cũng như những lời khuyên để con tạo cho mình một cuộc sống sung túc. Tất cả những công lao này được làm cho con với nhiệt tình thương mến mà không bao giờ cần kể ơn.

Khi con bị đau ốm, cha mẹ lo lắng và sợ hãi như chính mình đau ốm. Săn sóc con bên giường bệnh không rời một phút giây, cha mẹ chỉ yên lòng và nụ cười chỉ nở lại trên môi khi con lành mạnh. Như thế đó, cha mẹ trân quý và nuôi nấng con thơ với hy vọng rằng con sẽ khôn lớn và trở thành những người hữu dụng.

Ðọc xong đoạn văn trên, có lẽ chúng ta bắt đầu nhận thức được công ơn thâm trọng của cha mẹ mà ta phải báo đền. Cũng trong Kinh nói trên, Phật đã gợi ý vài điều cho chúng ta đền đáp ơn cha nghĩa mẹ:

Này các người con Phật! Nếu các người muốn báo đáp ơn cha mẹ, hãy nhân danh cha mẹ mà chép lại kinh này! Hãy nhân danh cha mẹ mà tụng đọc kinh này! Hãy vì cha mẹ mà cúng dường Tam Bảo (Phật, Pháp, Tăng). Hãy vì cha mẹ mà trì giới tịnh thực (ăn chay). Hãy vì cha mẹ mà hành pháp bố thí và tu phước đức. Nếu các ngươi có thể làm những điều này, các ngươi là những người con hiếu thảo.

Trong Kinh Sigalaka Sutra, Phật dạy cư sĩ Sigalaka làm thế nào để sống thiện lương và hạnh phúc. Phật đã tóm lược những bổn phận và trách nhiệm mà con phải làm để đền đáp công ơn cha mẹ, ơn thầy, ơn bạn, ơn vợ chồng, ơn những người lao tác, và ơn những nhà tu hành. Ðoạn dưới đây la lời dạy về bạn tốt và cách quản lý tài sản cá nhân.

Ðây là một người bạn hay giúp đỡ mình, kia là một người bạn khi nghèo hèn cũng như lúc giàu sang, này là một người bạn chỉ con đường chính, nọ là một người bạn tình thân thắm thiết: một kẻ khôn ngoan biết rõ giá trị của bốn loại bạn trên và trân quý họ như một người mẹ trân quý đứa con thương yêu nhất.

Người trí được giáo dục và kỷ luật rèn đúc thì người ấy sáng ngời như một ngọn hải đăng; ông ta vì cần mẫn lương thiện mà làm giàu như ong lấy mật hay kiến xây tổ. Với của cải mồ hôi nước mắt, ông ta làm lợi cho người. Người ta nên chia của cải mình làm ra thành bốn phần: Một phần có thể xử dụng để hưởng thụ theo cách mình muốn. Hai phần có thể dùng để đầu tư và một phần dành ra như là dự trữ cho những lúc cần thiết.

Ðối với một cư sĩ, một tỳ kheo hay một tỳ kheo ni, giới là nền móng thiết yếu cho mọi sự hiểu biết và kinh nghiệm tâm linh chân thật. Mặc dầu các giới điều khác nhau giữa những người xuất gia và cư sĩ, giữa nam và nữ tu sĩ, mục đích cần đạt và tinh thần cần vun bồi đều giống nhau: Ðó là sự nuôi dưỡng những đức tính khiến cho định lực nẩy nở và trí huệ phát huy.

(còn tiếp)

***

Trở về trang nhà | Về đầu trang