Vietnamese|English


Lược Giảng Kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-La-Mật 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

tại Phật Giáo Giảng Ðường, San Francisco từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 4 năm 1969.

 

(tiếp theo)

Bây giờ giảng tới chữ KINH.

Kinh cùng nghĩa với chữ kính, tức là đường thẳng, một lối đi cho người tu, dẫn từ nẻo sinh tử đến nẻo dứt sinh tử, cũng là dẫn từ địa vị phàm phu đến cảnh giới Thánh hay Phật.

Chữ Kinh có một nghĩa gọi là 'xuất sinh;' 'xuất' tức là đi ra, ý nói pháp từ miệng Phật phát ra, nên xưng là 'Kinh.'

Kinh cũng có nghĩa khác nữa là biển diệu, vì Kinh điển chiếu sáng khắp thế gian.

Kinh còn có nghĩa là thường; từ xưa tới nay, lúc nào đạo lý trong kinh điển cũng không thay đổi, không thêm một chữ, không bớt một chữ, chẳng tăng chẳng giảm; cổ kim bất biến gọi là 'Kinh.'

Một nghĩa khác của Kinh là quán xuyên, tức xuyên suốt nối liền. Từng hàng từng hàng trong kinh văn, từ đầu đến cuối, nghĩa lý đều nối liền thông suốt viên mãn.

Kinh cũng có nghĩa là nhiếp, tức là thâu nhiếp. Giống như đá nam châm hút kim loại, Kinh 'hút' chúng sanh có cơ duyên được hóa độ, giúp họ hiểu rõ Phật pháp.

Kinh có nghĩa là pháp, tức phương pháp để mọi người y theo mà tu hành, một phép tắc chung cho cả ba đời, quá khứ, hiện tại và vị lai.

Ngoài ra Kinh còn một số các nghĩa khác như gốc của mọi sự (pháp bổn), pháp vi diệu (vi pháp), suối phun (dũng tuyền), dây mực (thằng mặc), vòng hoa kết (kết man). Ðây chỉ là giải thích một cách đơn giản ý nghĩa của chữ Kinh.

 

Chương Hai: DỊCH GIẢ

Bộ kinh này là do Pháp sư Cưu-ma-la-thập (Kumarajiva) phiên dịch vào thời Diêu Tần. Ngoài ra, Kinh còn có năm bản dịch khác được lưu hành, do năm vị Pháp sư khác dịch vào những thời điểm khác nhau.

Bản dịch của pháp sư Cưu-ma-la-thập lấy tên là Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh.

Vị thứ hai phiên dịch kinh này là ngài Bồ-đề-lưu-chi (Bodhiruci) vào thời Nguyên Ngụy.

Vị thứ ba là ngài Chân-đế (Paramartha) dịch vào thời kỳ Nam-Bắc triều. Cả ba cùng đề chung một danh xưng là Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh.

Vào triều đại nhà Tùy, Pháp sư Cấp-đa (Upagupta) dịch, rồi đề danh xưng là Năng Ðoạn Kim Cang Bát-nhã Ba-la-mật Kinh, tức là thêm hai chữ Năng Ðoạn vào tên của kinh.

Vị thứ năm là Ngài Huyền-trang, bắt đầu phiên dịch từ năm Trinh-quán thứ 19, đời Ðường. Danh xưng của kinh cũng khác, lấy tên là Kim Cang Năng Ðoạn Bát-nhã Ba-la-mật Kinh. Ngài là một vị đại đức cao tăng của Trung-hoa, đã lưu học tại Ấn-độ trong 14 năm, sau trở về nước phiên dịch rất nhiều kinh Phật.

Vị thứ sáu là Pháp sư Nghĩa Tịnh. Ngài cũng qua Ấn-độ lưu học rồi trở về nước vào thời hoàng hậu Võ Tắc Thiên. Ðể biểu hiện lòng mộ đạo, ham học Phật pháp, bà Võ Tắc Thiên thỉnh mời Pháp sư Nghĩa Tịnh phiên dịch kinh điển. Bản dịch này cũng lấy tên là Kim Cang Năng Ðoạn Bát-nhã Ba-la-mật Kinh như bản dịch của ngài Huyền-trang.

Trong sáu bản dịch trên, bản của Ngài Cưu-ma-la-thập thông dụng hơn cả. Ða số ai cũng thích bản dịch của ngài. Tại sao vậy? Câu chuyện sau đây giải thích vì sao:

Ðời nhà Ðường, có Luật sư Ðạo Tuyên, chuyên trì giới luật. Ngài giữ gìn nghiêm cẩn bốn tướng oai nghi, đi, đứng, nằm, ngồi, như Kinh Lăng-nghiêm dạy: 'oai nghi nghiêm cẩn, trai pháp cung kính.' Tại sao phải giữ nghiêm chỉnh các oai nghi? Bởi vì, nếu mình có oai nghi, thì chẳng riêng người và trời đều phải cúng dường, mà quỷ thần cũng phải cung kính, sùng bái. Luật sư Ðạo Tuyên tinh trì giới luật, bốn tướng oai nghi hết sức nghiêm trang. Ðứng giữ tướng đứng, ngồi giữ tướng ngồi, nằm giữ tướng nằm, đi giữ tướng đi. Bởi Ngài giữ được mẫu mực như vậy, nên mọi người mới noi gương, học tập. Có câu nói: Ði nhẹ như gió thoảng, đứng thẳng như cây tùng, ngồi vững như chuông úp , nằm gọn như cánh cung. Ðó chính là khuôn mẫu căn bản của bốn oai nghi.

Nói đi nhẹ như gió thoảng không phải là nói tới trận gió lớn, đổ nhà trốc cây, mà là nói về làn gió nhẹ, nhu hòa như trong câu: 'Hiu hiu gió thoảng, sóng lặng như tờ (Xích-bích phú), khiến mọi người đều cảm thấy hoan hỷ.' Ðứng thẳng như cây tùng là ý nói đứng chẳng dựa vào đâu, ngay ngắn và thẳng đứng. Ngồi vững như chuông úp nghĩa là khi ngồi thì vững vàng như một cái chuông úp xuống, chớ không phải như một cái chuông giao động, kêu đinh, đinh! đang, đang! Chuông đúc thời xưa nặng nề, vững vàng không lay động. Mình cũng phải ngồi như thế thì mới có định lực. Nằm gọn như cánh cung nghĩa là nằm ngay ngắn như hình cái cung, gọi là nằm theo thế cát tường. Khi nhập Niết-bàn, đức Thích-ca Mâu-ni cũng nằm trong tư thế đó. Nằm theo thế cát tường thì bàn tay mặt gác dưới má, bàn tay trái để trên đùi. Nói chung, nếu phân tách chia chẻ thì bốn đại oai nghi lại gồm có ba ngàn oai nghi nhỏ và tám vạn tế hạnh. Vì ngài Ðạo Tuyên giữ gìn nghiêm mật oai nghi, nên sinh cảm ứng, khiến trời người đều tìm đến cúng dường, cung hiến thực phẩm. Các bạn ai muốn thành cao tăng, trước hết phải giữ giới: Thọ trì giới luật nào thì phải giữ gìn chúng thật nghiêm cẩn. Giữ được giới thì chư thần hộ pháp đều hộ trì mình; nếu phạm giới thì họ không hộ trì nữa. Bởi vậy người tu phải giữ giới.

Ngài Ðạo Tuyên giữ giới rất thanh tịnh, hệt như Kinh Lăng-nghiêm dạy: Nghiêm tịnh tỳ-ni, hoằng phạm tam giới. Tỳ-ni (vinaya) nghĩa là giới luật; hoằng phạm tam giới nghĩa là làm gương mẫu cho cả ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Do đó ngài Ðạo Tuyên được cả trời và người cung hiến thức ăn.

Một hôm, Ngài hỏi một vị trời vì lẽ gì người đời nay lại thích đọc bản dịch của pháp sư Cưu-ma-la-thập. Vị trời đó nói rằng: 'Pháp sư Cưu-ma-la-thập đã từng là vị sư chuyên dịch kinh trong bảy vị Phật đời quá khứ. Các kinh điển do Ngài dịch rất đúng ý Phật. Cho nên ai cũng thích đọc bản dịch của Ngài.'

Khi lâm chung, Pháp sư Cưu-ma-la-thập có dặn rằng: 'Sau khi tôi mệnh chung, hãy hỏa táng nhục thể của tôi. Nếu quả thực các kinh điển tôi dịch không có sai lầm, thì lưỡi của tôi không bị hủy hoại. Còn như nếu là sai với tâm ý của Phật thì lưỡi của tôi ắt hẳn sẽ bị đốt tan!' Khi thiêu xong, người ta thấy lưỡi của pháp sư vẫn còn giữ tươi nhuận, không hề bị cháy. Ðiều này chứng minh bản dịch của pháp sư Cưu-ma-la-thập hoàn toàn chính xác.

 

Tam Tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập
đời Diêu Tần
.

Diêu Tần là tên hiệu của triều đại (từ 344 đến 413 sau công nguyên), khác với đời Doanh Tần hay Phù Tần. Vua đầu tiên của triều đại Diêu Tần là Diêu Trưởng. Khi Diêu Trưởng mất thì Diêu Hưng kế vị. Trước đó, là triều đại Phù Tần, vua là Phù Kiên, nhưng Phù Kiên bị Diêu Trưởng giết chết nên đổi tên hiệu thành Diêu Tần. Còn chữ Doanh Tần dùng để chỉ triều đại của Tần Thủy Hoàng. Bởi vậy ngày nay người ta ghi chú rõ thời đại là Diêu Tần.

Chữ Tam Tạng (Tripitaka) là chỉ ba tạng: Kinh, Luật và Luận. Tạng kinh thuộc về định học, tạng luật thuộc về giới học, tạng luận thuộc về huệ học. Vậy là kinh, luật, luận bao gồm cả tam vô lậu học: Giới, định, huệ.

Thế nào là Pháp sư? Pháp sư là vị 1) đem Phật pháp bố thí người khác; 2) lấy Phật pháp làm thầy mình.

Có nhiều loại pháp sư: Như có vị chuyên đọc tụng kinh điển, (độc tụng pháp sư). Ðọc là nhìn vào văn bản mà xướng lên, tụng thì không cần phải nhìn vào văn bản cũng xướng lên được. Có khi đọc tụng cho riêng mình, có khi đọc tụng cho người khác. Có vị chuyên dùng bút sao lục kinh điển, (thư tả pháp sư). Có vị chuyên giảng giải nghĩa lý kinh điển cho người (giảng giải pháp sư). Còn có vị gọi là thọ trì pháp sư, chuyên thọ trì cho mình, không hồi hướng cho các chúng sanh, chỉ chuyên thâm nhập kinh tạng, theo ý trong kinh mà thọ trì, thực tập. Các vị vừa kể trên đều có tên là pháp sư; nếu lại thông đạt được cả ba tạng thì gọi là Tam Tạng Pháp sư.

Pháp sư Cưu-ma-la-thập được gọi là Ðồng Thọ, vì lẽ tuy hãy còn ít tuổi (đồng) nhưng Ngài đạo mạo như người lớn (thọ). Trong một ngày, Ngài có thể học thuộc một ngàn bài kệ. Mỗi bài kệ có 36 chữ, một ngàn bài kệ tức là 36 ngàn chữ, vậy mà Ngài học thuộc chỉ trong một ngày. Như bộ Kinh Pháp-hoa, Ngài chỉ cần một khoảng thời gian hai ngày là học thuộc lòng rồi tụng ra miệng. Tuy Ngài trong tuổi nhi đồng mà đức hạnh, đạo đức của Ngài chẳng khác gì các vị lão bối, bởi vậy Ngài mới có biệt hiệu là Ðồng Thọ.

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà | Về đầu trang