Hoa Nghiêm: Thế nào là ma nghiệp?

 

Hoa Nghiêm: Thế nào là ma nghiệp?

Ma nghiệp là những hành vi, tập quán, lời nói, suy nghĩ hay thái độ chướng ngại sự khai phát chân tánh, phát triển trí huệ và sự giải thoát Niết Bàn. Ma nghiệp cũng có nghĩa là nghiệp khiến ta làm ma hay quyến thuộc của ma; vì thế ma nghiệp cũng tức là nghiệp của loài ma. Khi tu hành, ta phải hiểu rõ những nghiệp ấy để tránh, đừng tạo nghiệp. Ma nghiệp tuy vô vàn, song Kinh Hoa Nghiêm tóm tắt chúng trong mười phạm vi như sau:

1. Vong thất Bồ Ðề Tâm, tu chư thiện pháp, thị vi ma nghiệp.

(Quên mất tâm bồ đề khi tu pháp lành: đó là ma nghiệp).

Tâm Bồ Ðề là tâm giác ngộ, tâm hướng về giác ngộ và cứu độ chúng sinh. Quên mất tâm Bồ Ðề là quên mất phương hướng tu hành; quên mất bản thể đường tu; quên rằng tu để ngộ thể tánh bất sinh bất diệt sẳn có trong tự tâm mình. Bởi vậy cho nên lòng hướng ngoại truy cầu; quên rằng tu không phải để thành đạt bất kỳ thứ gì ngoài tâm. Vì thế quên gốc bồ đề tự tánh nên người tu phóng tâm truy đuổi những thành tựu bên ngoài ( như phước đức, quả báo, thiền định, thần thông, biện tài...). Chẳng phát triển tâm bồ đề, đủ pháp lành, chỉ gặt phước báo, song không thành chánh giác đặng. Ðó chính là ma đạo.

2. Ác tâm bố thí, sân tâm trì giới, xả ác tánh nhân, viễn giải đãi nhân, khinh mạn loạn ý, cơ hiềm ác huệ, thị vi ma nghiệp.

(Bố thí với lòng ác ý, trì giới với lòng sân hận, bỏ rơi kẻ có tánh xấu, xa rời người hay lười biếng, khinh khi kẻ tâm tán loạn, hiềm ghét người có ác kiến).

Ðây là dạy ta thái độ đúng đắn khi tu lục ba la mật. Cốt yếu là giữ tâm trung đạo, giữ trạng thái quân bằng về tâm lý cũng như thể xác. Hễ khi ta cống cao ngã mạn, ích kỷ nhỏ nhen, lòng thiếu từ bi bao dung thì sự quân bằng, trung đạo sẽ bị phá tan.

a. Ác tâm bố thí:

Bố thí cốt để bỏ tánh bỏn xẻn, trừ chấp ngã, phá tham trước đồ sở hữu. Khi Bố thí ta cần thành tâm, vui lòng, chân chính quên mình vì người, chẳng hối hận, tiếc rẽ gì cả. Ðó là chính đạo. Thí nhưng có tâm mong cầu tính toán: vì muốn đổi chác, "mình cho họ cái này, sau này họ giúp mình chuyện kia"; vì muốn quả báo, "bố thí sẽ đặng giàu sang" đều là tà. Bố thí vì có ác ý làm người nhận tức giận hay đau khổ thì tức là ma nghiệp. Hoặc giả bố thí với thái độ khinh khi, khó chịu, dằn vặt người nhận cũng là ma nghiệp. Ví như, biết người ta không thích không ưa đồ gì, song cứ bố thí cho họ đồ ấy để chọc giận họ: đó cũng là ma nghiệp. Tóm lại: nếu động cơ, thái độ và mục đích của ta là ích kỷ, nhỏ nhen, ác độc thì thay vì tạo công đức, mình chỉ gây tội nghiệp, lạc đường ma.

b. Sân tâm trì giới:

Phật dạy ta trì giới để tam nghiệp thanh tịnh, không làm ác. Gốc của giới là thanh tịnh vô nhiễm. Kinh Lăng Nghiêm gọi trì giới tức là nhiếp tâm: thu nhiếp tâm, chẳng để tâm phóng dật buông lung. Trì giới mà khởi lòng giận dữ thì tâm chẳng thanh tịnh. Dùng lòng tức giận ghen tuông oán thù để trì giới thì càng sai lầm. Luận Ðại Trí Ðộ thuật lại chuyện vị Sa di đắm nhiễm nhan sắc các cô Long nữ. Sa di khởi lòng muốn chiếm đoạt các Long nữ, nên sinh ghen ghét với Long vương. Về lại chùa Sa di quyết chí tinh tấn trì giới tu thiền. Chẳng bao lâu hoạch thần thông, biết quả báo đã tới, xuống Long cung, giết Long vương, đoạt ngai vàng, chiếm Long nữ. Ðây là ví dụ về động cơ trì giới tu hành vừa tham lam vừa sân hận. Hòa Thượng Tuyên Hóa thường dạy rằng khi tu đạo, ta chớ khởi lòng hiếu thắng, tranh giành "bậc nhất, giỏi nhất." Ðừng cạnh tranh, ganh đua với sự tu hành của kẽ khác. Nói tóm: động cơ và thái độ khi trì giới phải hoàn toàn chẳng có lòng sân hận, ghen ghét.

c. Xả ác tánh nhân:

Ðây nói về hạnh nhẫn nhục. Khi bị hủy báng, xỉ vả, ngược đãi mà nội tâm tức giận, song ngoài mặt phớt tỉnh, thì đó chưa phải là nhẫn nhục ba la mật. Nhẫn nhục là hạnh chấp nhận vô điều kiện ở nội tâm, mặc cho chuyện gì bên ngoài xảy tới, mà lòng chẳng hề sinh phiền não, phản kháng, tức giận. Nếu hoàn cảnh khiến ta phải giao thiệp tiếp xúc với kẻ ác, tánh nết xấu xa, mình phải tu nhẫn. Hãy học hỏi phương tiện thiện xão để giúp mình tu hạnh từ bi nhẫn nại.

Nhẫn một chút, gió im sóng lặng
Lùi một bước, biển rộng trời trong

Ðối với bậc thầy hay kẻ đã an trụ trong lý đạo, nếu bạn không dạy dỗ cảm hóa kẻ xấu ác thì ai dạy dỗ cảm hóa họ? Bởi vậy đã là kẻ hiểu đạo, bạn càng phải phát đại nguyện để cảm hóa kẻ xấu ác. Cảm hóa họ là đường Bồ tát, xả bỏ hất hủi họ là đường ma tà.

d. Viễn giải đãi nhân:

Ðây là nói về hạnh tinh tấn. Thông thường mình hay nghĩ: "Ðường ai nấy đi; Ai tu nấy hưởng," Song tu hạnh Bồ tát, là phải làm sao cho kẻ khác cùng tu như mình. Mình tu tinh tấn để làm gương cho kẻ khác, cổ võ kẻ khác cùng tu. Ðừng nên kiêu ngạo, tự đại khi tinh tấn tu hành, cho rằng mình tu hay hơn người. Nên sinh tâm từ bi bình đẳng, đừng chê bai bỏ rơi kẻ lười biếng, và tìm cách giúp họ tinh tấn. Bạn hãy suy nghĩ, xét nghiệm lại động cơ làm cho mình tinh tấn tu đạo: Phải chăng bạn muốn thành đạt cái gì? Phải chăng bạn có sở cầu? Phải chăng xưa nay bạn chỉ biết đến sự tu hành của cá nhân mình. Hãy sửa đổi động cơ sai lầm, mở rộng quan niệm tu hành: Tu là tu với chúng sinh, chẳng phải tu chỉ riêng mình.

e. Khinh mạn loạn ý:

Ðây nói về thiền định. Bịnh thông thường của kẻ mới tập thiền, đắc được chút cảnh giới là cho mình đặc biệt khác người. Tu đắc đến cảnh giới cao siêu, trụ thiền nhập định, chứng thần thông gì đi nữa, hễ hành giả khởi một ý niệm nhỏ như đầu lông rằng: ta đắc, ta chứng, ta hay, ta giỏi, hành giả lập tức lạc vào đường tà. Tu thì phải vô ngã, không còn cái ta. Sinh tâm khi dễ, chê bai, dù là một ý niệm. Cho rằng "ta tu giỏi, bọn họ tu kém"- ý niệm so sánh nhân ngã- thì mình đi vào đường ngã mạn, bạn bè với ma vương. Do đó phải tập tu thái độ bình đẳng khiêm nhường, đừng cho mình là đặc biệt. Ðừng xem thường kẻ chưa tu, không tu hay kẻ tán loạn. Thử hỏi mình đã làm gì để giúp họ.

f. Cơ hiềm ác huệ:

Ðây là nói về hạnh bát nhã. Kẻ ác huệ là kẻ có tà kiến điên đảo, hủy báng Tam bảo, không tin nhân quả. Không biết lấy tâm phục thiện, ngoan cố chấp trước vào kiến giải, học thức của mình. Ðối với những người có tà kiến như vậy, đức Phật dạy ta đừng đấu lý với họ, đừng tranh chấp hơn thua với họ. Cũng chớ sinh thù oán, hiềm khích. Trí bát nhã thì an trú nơi cõi lòng trong suốt, tỏ lý và biểu hiện nơi đạo đức vị tha. Trí Bát Nhã không hiện hữu nơi ngôn từ tranh chấp, nơi lời lẽ thị phi tranh đấu, hay nơi lý luận xa vời. Tu trí bát nhã là tu tinh thần vô ngại: thẩm thấu chân lý, xuyên suốt mọi kiến giải. Do đó sẳn lòng bao dung mọi lý lẽ, mọi kẻ dị kiến hay ác kiến. Nếu chẳng đạt vô ngại thì lúc nào cũng cho mình đúng, họ sai; mình chính, họ tà; mình tốt, họ xấu. Vĩnh viễn tranh chấp. Nên kinh dạy: đừng hiềm ghét kẻ ác kiến.

3. Ư thậm thâm pháp tâm sinh xan lẫn, hữu kham hóa giải nhi bất vì thuyết. Nhược đắc tài lợi cung kính cúng dường, tuy phi pháp khí nhi cưỡng vì thuyết. Thị vi ma nghiệp.

(Nếu bạn sinh lòng bỏn xẻn đối với pháp thâm sâu, Không chịu thuyết cho kẻ có khả năng thọ nhận; Lại miễn cưỡng thuyết cho kẻ cúng dường tài lợi cho bạn dù họ không phải là kẻ pháp khí: Ðó là nghiệp ma).

Ðây là nói tới thái độ ích kỷ tự lợi khi thuyết pháp. Thuyết pháp độ sinh thì phải vô tư, không thiên vị. Ai đáng được dạy thì dạy, ai đáng độ thì độ. Ðó gọi là đối cơ. Kẻ chưa đủ nhân duyên, chưa có khả năng lảnh hội mà ta cưỡng thuyết, e chẳng làm lợi cho họ. Nếu ta sinh tâm tham lam ích kỷ chỉ dạy pháp cho kẻ cúng dường thì há chẳng phải mình đem Phật pháp trao đổi như một món hàng? Pháp là chân lý tồn tại trong mọi thời ở trong tâm mọi chúng sinh. Pháp không phải là vật, là món hàng mình có thể sở hữu. Nhiệm vụ vị Pháp sư là chỉ điểm chân lý sẳn có ấy. Hễ ta sinh lòng bỏn xẻn, sinh tâm đổi chác thì sai lầm. Không xem pháp là chân lý cộng hữu, và mình là phương tiện truyền đạt vô tư thì sớm muộn gì cũng rơi vào ma đạo.

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà