Vietnamese|English


Lược Giảng Kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-La-Mật 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

tại Phật Giáo Giảng Ðường, San Francisco từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 4 năm 1969.

(tiếp theo)

 

PHẦN SÁU:

CHÁNH TÍN HY HỮU

Tu Bồ Ðề bạch Phật ngôn: Thế Tôn! Phả hữu chúng sanh, đắc văn như thị ngôn thuyết chương cú, sanh thật tín phủ? Phật cáo Tu Bồ Ðề: Mạc tắc thị thuyết. Như Lai diệt hậu, hậu ngũ bách tuế, hữu trì giới tu phúc giả, ư thử chương cú năng sinh tín tâm, dĩ thử vi thật, đương tri thị nhân bất ư nhất Phật, nhị Phật, tam tứ ngũ Phật nhi chủng thiện căn, dĩ ư vô lượng thiên vạn Phật sở, chủng chư thiện căn. Văn thị chương cú, nãi chí nhất niệm sinh tịnh tín giả, Tu Bồ Ðề, Như Lai tất tri, tất kiến, thị chư chúng sanh đắc như thị vô lượng phúc đức. Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh vô phục ngã tướng, nhân tướng, chúng sanh tướng, thọ giả tướng, vô pháp tướng diệc vô phi pháp tướng. Hà dĩ cố? Thị chư chúng sanh, nhược tâm thủ tướng tắc vi trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Nhược thủ pháp tướng tức trước ngã, nhơn chúng sanh thọ giả. Hà dĩ cố? Nhược thủ phi pháp tướng tức trước ngã nhơn chúng sanh thọ giả. Thị cố, bất ưng thủ pháp, bất ưng thủ phi pháp. Dĩ thị nghĩa cố, Như Lai thường thuyết: Như đẳng Tỳ Khưu tri ngã thyết pháp như phiệt dụ giả, pháp thượng ưng xả, hà huống phi pháp.

Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Thế-tôn! Như có chúng sanh nào khi nghe được lời lẽ chương cú như thế, sanh lòng tin chân thật chăng?

Phật bảo Tu-bồ-đề: Chớ nói như vậy!

Sau khi Như-lai diệt độ, khoảng năm trăm năm sau cùng, có ai trì giới, tu phước, đối với những chương cú này có thể sanh lòng tin, cho đây là thật, thì nên biết những người ấy không phải ở nơi một Ðức Phật, hai Ðức Phật, ba, bốn năm Ðức Phật gieo trồng căn lành, mà đã ở chỗ vô lượng ngàn vạn Ðức Phật gieo trồng căn lành.

Những người nghe chương cú này, thậm chí chỉ một niệm sanh tín tâm, này Tu-bồ-đề! Như-lai đều biết hết, đều thấy hết.

Các chúng sanh này được vô lượng phước đức như thế. Tại vì sao? Vì các chúng sanh ấy không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

Không có tướng pháp, cũng không có tướng phi pháp. Vì sao?

Vì nếu các chúng sanh ấy, tâm còn chấp tướng, là còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu còn chấp tướng của Pháp tức còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Vì sao? Vì nếu còn chấp tướng phi pháp tức còn chấp tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

Bởi vậy, không nên chấp pháp, không nên chấp phi pháp. Vì ý nghĩa đó nên Như-lai thường nói: Các ông tỳ kheo! Nên biết pháp của ta ví như thuyền bè, đến pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp.

Lược giải:

Tu-bồ-đề bạch Phật rằng: Thế-tôn! Như có chúng sanh nào khi nghe được lời lẽ chương cú như thế, sanh lòng tin chân thật chăng?

Phật bảo Tu-bồ-đề: Chớ nói như vậy!

"Tu-bồ-đề bạch Phật rằng," là do Ngài A Nan thêm vào khi kiết tập kinh điển

"Như có chúng sanh," tức trưởng lão Tu-bồ-đề có sự hoài nghi, hoặc giả, khi nghe được lời trong mấy chương cú đóỞtức là kinhỞkhông biết người ta có thể tin một cách chân thành chăng? Trưởng lão Tu-bồ-đề hỏi Phật như vậy thì Phật bảo rằng: "Ông không nên nói cách đó, không nên nói như vậy!" Vì sao?

Sau khi Như-lai diệt độ, khoảng năm trăm năm sau cùng, có ai trì giới, tu phước, đối với chương cú này có thể sanh lòng tin, cho đây là thật, thì nên biết những người ấy không phải ở nơi một Ðức Phật, hai Ðức Phật, ba, bốn, năm Ðức Phật gieo trồng căn lành, mà đã ở chỗ vô lượng ngàn vạn Ðức Phật gieo trồng căn lành.

Thời gian năm trăm năm đầu, bao gồm thời gian khi Ðức Phật còn tại thế, gọi là thời "thiền định kiên cố," cũng là khoảng thời gian có nhiều người tu hành được chứng quả. Thời kỳ tiếp, năm trăm năm, gọi là thời "đa văn kiên cố," và trong khoảng thời gian này mọi người đều nghiên cứu kinh điển. Kế đó, năm trăm năm, gọi là thời kỳ "tự miếu kiên cố." Sau đó là thời mạt pháp, gọi là thời "đấu tranh kiên cố," tức là thời bây giờ của chúng ta đây.

Ðức Phật nói: "Sau ngày ta diệt độ năm trăm năm, kẻ nào chuyên trì giới luật, tu phước, và đối với đoạn này trong Kinh Kim Cang, họ sanh lòng tin, coi ý nghĩa này của kinh là chân thật, không hư dối. Ông nên biết rằng kẻ đó đã từng gieo trồng căn lành, không phải chỉ trong một kiếp, hai kiếp, ba kiếp, bốn kiếp hoặc năm kiếp mà đã gieo trồng căn lành trong vô lượng, ngàn vạn kiếp."

Gieo trồng căn lành là thế nào? Căn lành là phải gieo trồng trước Tam-bảo. Cúng dường Tam-bảo là gieo căn lành, cung kính Tam-bảo là gieo căn lành, tin y vào Tam-bảo là gieo căn lành. Căn lành và căn ác là hai loại. Nếu ta không gieo căn lành, căn ác của ta sẽ tăng trưởng; nếu ta không tin y Tam-bảo, cũng khiến cho căn ác tăng trưởng; ta xa lánh Tam-bảo tức là ta xa lánh căn lành; ta thân cận với Tam-bảo, tức là ta làm tăng trưởng căn lành. Người ở châu Bắc-câu-lư không thấy Phật, không nghe Pháp, không thấy Tăng, nên căn lành của họ bị đoạn, do đó họ sanh ra ở châu Bắc-câu-lư, tuy được hưởng tuổi thọ dài lâu, nhưng cũng lâm vào một trong tám nạn (bát nạn, tam đồ). Quí vị muốn làm cho căn lành nẩy nở, tất phải cúng dường, cung kính, y tin Tam-bảo. Qui y Tam-bảo là sơ bộ gieo trồng căn lành, sau đó thọ năm giới, tám giới, Bồ-tát giới, mười giới, rồi thọ đến giới tỳ kheo, hai trăm năm mươi giới. Cái đó gọi là các nhân duyên để gieo trồng căn lành. Giữ năm giới, tu thập thiện, cũng đều là việc gieo trồng căn lành.

Căn lành là một cái gì, nhìn thì không thấy, lắng tai thì không nghe, ngửi không có mùi. Khi nào các vị đi gieo trồng căn lành, gieo xong, cũng không thấy một cảm giác gì, bởi vì nó là vô tướng. Ở phần trên, chúng ta chẳng nghe câu "phàm cái gì có tướng đều là hư vọng" hay sao? Có tướng là hư dối, không tướng chính là chân thật. Chúng ta chỉ biết có một chuyện là lo lắng cho tấm thân này, mà không lo gì cho căn lành. Căn lành là gì? Là trí huệ của ta, chính là pháp thân của ta, không khác, chỉ có tên gọi là khác mà thôi. Căn lành tức là cái gốc lành, cái cơ sở tốt, ta phải lo tu sửa. Nếu ta có cơ sở tốt, pháp thân của ta sẽ hiển hiện, trí huệ của ta sẽ tăng trưởng, cái công năng thực tướng bát nhã vốn có của ta sẽ vì thế mà được khôi phục.

Cho nên trồng căn lành, phải nên gieo trồng trước Tam-bảo, để một ngày kia quả Bồ-đề có thể kết thành trái, chẳng đến nỗi uổng phí công gieo trồng. Nếu lại gieo trồng căn lành tại chỗ ngoại đạo, thì trồng được bao nhiêu, thời gian bao lâu, cũng coi như hư dối, chẳng thật. Phàm trồng thiện căn, thì có thiện căn gì cũng nên gieo trồng, cho nên nói: "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành" (đừng làm các điều ác, làm các điều thiện).

Những người nghe chương cú này, thậm chí chỉ một niệm sanh tín tâm, ông Tu-bồ-đề! Như-lai đều biết, đều thấy hết cả.

Bởi vì người ta đã trồng căn lành ở chỗ vô lượng ngàn vạn vị Phật, nên một khi nghe Kinh Kim Cang, thì chỉ một niệm là đã sanh lòng tin, rất thanh tịnh và thuần khiết. Niềm tin đó là một loại tinh thuần, không vướng chút nào nghi hoặc, rất chân, rất thật. Phật bảo Tu-bồ-đề phải nên hiểu rằng Như-lai ắt biết và ắt thấy người đó.

Các chúng sanh này được vô lượng phước đức như thế. Tại làm sao? Các chúng sanh ấy không còn tướng ngã, tướng nhân, tướng chúng sanh, tướng thọ giả.

Phước đức của các chúng sanh này thật là vô lượng vô biên. Tại sao vậy? Bởi vì họ

không có tướng ngã, không có tướng nhân, không có tướng chúng sanh, không có tướng thọ giả. Thế nào là không có tướng ngã? Không có tướng ngã tức là không có ta, coi mình như không có. Thế nào gọi là không có tướng nhân? Tức là không có người. Ta cũng không, người cũng không, nhân ngã đều không có, cho nên chúng sanh cũng không có luôn. Chúng sanh là không thì tự nhiên không có thọ giả. Tướng thọ giả là niềm hy vọng sống mãi mãi, hễ luyến tiếc một cái gì, không muốn nó bị hư hỏng, gọi là tướng thọ giả.

Không có tướng pháp, cũng không có tướng phi pháp. Vì sao?

Nhân mà không, thì pháp cũng không, hết thảy mọi tướng của pháp cũng không, cũng như tướng của các thứ không phải pháp, cũng đều không luôn. Tại bản thể, không có gì là pháp, cũng như không có gì là chẳng phải pháp, nguyên do bởi đâu vậy?

Vì nếu các chúng sanh ấy, tâm còn chấp tướng, là còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Nếu còn giữ tướng Pháp tức còn chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả. Vì sao? Vì nếu còn chấp tướng phi pháp tức còn chấp tướng ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

Nếu trong tâm của chúng sanh còn có tướng, tức hãy còn chấp tướng, chấp có mình, có người, có chúng sanh, có thọ giả, thì không thể giải thoát được, không thể gọi là đã chân chánh buông xả. Nếu còn đeo lấy tướng pháp, pháp chẳng thể không, thì cũng là chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, bốn thứ tướng. Nếu giữ tướng phi pháp, thì cũng chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả, đâu có phá được chúng.

Bởi vậy, không nên chấp pháp, không nên chấp phi pháp. Vì ý nghĩa đó nên Như-lai thường nói: Các ông tỳ kheo! Nên biết pháp của ta ví như thuyền bè, đến pháp còn nên bỏ, huống là phi pháp.

Bởi thế cho nên, không thể giữ tướng của pháp, mà tướng của cái chẳng phải pháp cũng phải buông bỏ. Bởi do ý nghĩa ấy mà quí vị thường nghe Phật nói: "Các ông tỳ-kheo! mọi pháp tôi nói với các ông ví như một chiếc thuyền vậy." Cái thuyền đó để làm gì? Thuyền đó dùng để vượt cái bể khổ sanh tử, khi nào cái khổ sanh tử hết, thì phải bỏ cái thuyền đó đi. Còn như chưa hết sanh tử, thì phải cần thuyền để tu hành, cho nên có câu: "Qua sông rồi, không cần đò." Ta đã qua được sông rồi thì không cần vác theo cái đò để đi tiếp. Nếu quả quí vị đã qua tới bờ rồi mà còn nói rằng không biết để con đò ở đâu nên phải vác theo đi, thì mọi người sẽ coi quí vị là người điên khùng.

Cái pháp chân chánh mà còn phải buông bỏ nó, huống chi là cái không phải pháp, lẽ nào không bỏ nó đi? Pháp còn phải bỏ, chẳng phải pháp thì lại càng phải bỏ gấp!

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà | Về đầu trang