Đại Bi Chú Cú Giải

Chú Ðại Bi bao gồm 84 câu và đã được Lão Hòa Thượng lược giải; chúng tôi sẽ lần lượt đăng lên báo với ước nguyện rằng nhiều người sẽ nhận chân Chú Ðại Bi. Hiện tại là thời kỳ "đấu tranh kiên cố", thế giới không an lành, đầy hiểm họa chiến tranh & tai ách, ngưỡng mong nhiều người hơn, nhất là những người con Phật, phát tâm trì tụng Chú Ðại Bi cầu nguyện cho thế giới được an lành, cho người người được an lạc. Ngưỡng nguyện chú lực sẽ vãn hồi kiếp vận và khai phát lòng từ bi sẳn có của mỗi chúng ta.

bdh

 

 

Chú Ðại Bi vốn có không có cách gì giảng giải. Vì Kinh văn thần chú nầy thuộc hệ mật ngôn bí ngữ. Nếu muốn biết ý nghĩa của chú này, trước hết tôi xin giảng ra một bài kệ tụng. Bài kệ này chính là thuyết minh về ý nghĩa thần chú này:

"Ðại bi đại chú thông thiên địa
Nhất bách nhất thiên thập Vương hoan
Ðại bi đại từ năng khử bệnh
Nghiệt kính nhất chiếu biển cao huyền"

Nghĩa là:

Ðại chú đại bi thấu đất trời
Niệm niệm ngàn ngày "Ðịa ngục" vơi
Ðại bi đại từ tiêu sạch bệnh
Ðài gương ghi tội hóa oai ngời.

"Ðại Bi Ðại chú Thông Thiên Ðịa": Ai niệm Thần chú này càn khôn chấn động, vạn hữu chuyển rung, thông thiên triệt địa, cảm thông đất trời, khắp cả đại ngàn, tán dương công đức.

"Nhất bách nhất thiên thập vương hoan": Người nào một ngày niệm 108 biến, niệm như vậy một ngàn ngày, một năm có 365 ngày, một ngàn ngày là ba năm. Nếu ai niệm trong ba năm, ngày nào cũng như ngày đó đừng bao giờ gián đoạn; hễ đến giờ niệm chú là bạn nhất định niệm, dù bận thế nào nữa cũng không xao lãng. Vả lại mỗi ngày bạn có thể niệm chú Ðại Bi ở bất kỳ lúc nào, niệm ở bất cứ lúc nào thì nhất định làm sao quên được, bạn cũng có thể niệm đến 108 lần.

Thập vương là mười ông vua cai quản trong Ðịa ngục, vua Diêm La ở điện thứ nhất, vua Diêm La ở điện thứ hai, cho đến ông vua thứ mười ở điện thứ mười. Niệm như vậy thì các ngài đều vui mừng, hoan hỷ, nên gọi là "Nhất bách nhất thiên thập vương hoan".

"Ðại Bi Ðại Từ năng khử bệnh": Vì sao gọi là Chú Ðại Bi? Là vì "Bi năng bạt khổ". Nghĩa là Bi có công năng làm cho tất cả khổ nạn của chúng sanh đều được tiêu trừ. Ðó là bớt khổ thêm vui (bạt khổ dư lạc), cho nên gọi là Ðại Bi chú. Bớt khổ thêm vui, chủ yếu là việc chữa lành bệnh tật, bất cứ là bệnh gì. Người nào niệm Chú Ðại Bi thì bệnh khổ đều có thể tiêu trừ. Có người nói "Tôi niệm Chú Ðại Bi, tại sao không lành bệnh?". Bởi vì bạn chưa nghiêng hết lòng thành. Nếu bạn một lòng thành khẩn thì Chú Ðại Bi nhất định sẽ có sự linh ứng.

"Nghiệt kính nhất chiếu biển cao huyền": Trong một ngày chúng ta có thể niệm 108 biến, niệm xong một ngàn ngày, tức là ba năm. Thập điện Diêm Vương đều vui mừng, bệnh gì cũng có thể chữa lành. Lúc nầy, bạn đã trồng rất nhiều công đức rồi. Bởi vì trong ba năm, mỗi ngày đều trì tụng Thần chú mà lại không hề tạo tác nghiệp nhân. Lại nữa ở trong Ðịa ngục có một "đài gương báo tội" (nghiệt kính đài). Nếu bạn tạo tác một nghiệp tội gì thì đài gương kia đều hiện ra đầy đủ, cũng giống như hình ảnh đang hiện rõ trên màn ảnh ti vi không khác. Chẳng hạn như một người trong đời gây ra tội sát nhân, thì trong gương báo tội sẽ hiện ra trạng cảnh người đó sát nhân. Nếu người đó đi ăn trộm, thì trong gương sẽ hiện ra cảnh người ấy đi ăn trộm. Nếu như một người đi đốt nhà người ta, trong gương ghi tội sẽ hiện ra rõ ràng hành động tạo tác ấy. Nếu bạn không có nghiệp tội gì thì sao? Nếu vậy thì trong gương cũng không có một mảy may cảnh giới báo ứng nào hiện ra cả. Vì vậy, nếu bạn trì tụng Thần chú này trong ba năm mà không hề uống rượu, ăn thịt, dùng ngũ vị tân, lúc gương nghiệp chiếu đến, tội báo của bạn đã được tẩy sạch; trong Ðịa ngục sẽ đeo cho bạn một tấm biển, tấm biển này nói rằng: "Người này trì tụng Chú Ðại Bi nên nghiệp tội đã được hóa giải. Tất cả quỷ thần ở trong Ðịa ngục lúc thấy người nầy đều nên cúi đầu lễ bái và cung kính như cung kính chư Phật vậy, đồng thời nên hộ trì người ấy, như hầu cận chư Phật vậy. Cũng nên báo cho các quỷ thần khác bảo cho họ biết, mỗi khi thấy người này không thể làm cho người này phiền toái". Cho nên, Thần lực của Chú Ðại Bi này là không thể nghĩ bàn.

 

BÂY GIỜ GIẢNG VÀO KINH VĂN

 

1. Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ða Ra Dạ Da.

Trong chúng ta ai cũng biết niệm "Nam Mô A Di Ðà Phật", "Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật", danh hiệu gì cũng đều biết niệm, nhưng rốt cuộc, nghĩa lý của hai chữ "Nam Mô" hiểu như thế nào? Rất ít người hiểu rõ. Mấy năm về trước, Tôi đã từng hỏi qua hai chữ "Nam Mô" giảng giải như thế nào? Thì không có người nào trả lời trọn vẹn hoặc là không biết.

"Nam Mô" là tiếng Phạn, Trung Hoa dịch là "Quy Y", cũng tức là "Quy mạng kính đầu". Quy mạng tức là đem sanh mạng của ta gởi trọn cho Pháp Thân Ðại Thể, giao trọn cho Phật, "cái ta" của chính mình không còn nữa, sự sống chết đều tuân theo pháp thể, Phật bảo sống ta sống, Phật bảo chết ta chết.

"Kính" là cung kính; "đầu" là nương nhờ, "kính đầu" là cung kính và nương tựa nơi chư Phật; thân, tâm đều nương về nơi Pháp Thân Phật.

"Hắc Ra Ðát Na Ðá Ra Dạ Da". Nghĩa là Tam bảo vô tận vô biên trong mười phương. Nói theo đồ hình thì chỉ cho bổn thân của Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát. Tuy nhiên, Bổn thân Ngài Quán Thế Âm Bồ Tát cũng tức là chỉ cho sự Quy Y mười phương chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai. Câu chú này niệm ra không những chỉ bảo chính mình Quy y mười phương vô lượng thường trú Tam Bảo, mà còn làm cho tất cả chúng sanh lúc nghe đến câu mật chú này cũng đều quay về kính lễ, nương tựa vào ba đời mười phương, vô lượng vô biên thường trú Tam Bảo. Tam Bảo là Phật Bảo, Pháp Bảo, Tăng Bảo. Các con nên biết, trên thế gian này cái cao quý nhất chính là Phật Bảo, điều cao thượng nhất là Pháp Bảo, sự cao quý nhất cũng chính là Tăng Bảo. Không có gì cao quý thiêng liêng hơn thế nữa, không những trên thế giới này mà còn nhiều thế giới khác, cho đến các cõi trời Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Cũng không thể cao quý hơn Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo. Vì vậy, trong mười pháp giới thì Pháp giới Phật là tối cao hơn cả. Vì Tam Bảo là tối cao hơn cả nên chúng ta cần phải cung kính phải quy y và tín thọ, không nên có tâm hoài nghi, dẫu là chỉ mảy may niệm khởi. Cho nên, phải phát khởi một tín tâm chắc thật, một sự tín thọ thâm sâu và kiên cố.

"Qui y Tam Bảo đem lại sự lợi ích gì?"

Tối thiểu,

- Qui y Phật thì đời đời kiếp kiếp không bao giờ còn rơi xuống địa ngục.

- Qui y Pháp thì đời đời kiếp kiếp không còn hóa kiếp ngạ quỷ.

- Qui y Tăng thì cũng ngàn đời vạn kiếp không còn vào chốn súc sanh.

Ðó là kết quả căn bản của đạo lý quy y Tam Bảo.

Nhưng nếu bạn quy y, bạn phải làm tất cả các việc lành mới xứng đáng gọi là quy y, mới được như thế. Nếu các bạn vẫn còn giữ nguyên tập khí ngày trước như: sát nhân, đốt phá, sát sanh, trộm cắp, tà dâm, vọng ngữ, rượu chè... không chịu đoạn trừ những điều như trên, thì tam đồ ác đạo sẽ chờ đón bạn. Bởi vì, ở trong Phật pháp không có chuyện khách sáo, cả nểá. Bạn khộng thể nói: "Tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng rồi! Quy y Phật không còn đọa địa ngục; quy y Pháp không còn rơi vào ngạ quỷ; quy y Tăng không còn đọa vào súc sanh. Thế nên, tôi có thể tùy tiện muốn làm gì thì làm". Tuyệt đối không phải như vậy! Bạn phải từ bỏ những điều xấu ác và quay về làm những điều lành, vĩnh viễn không còn làm điều sai trái nữa, như thế mới không còn lý do đọa vào ba đường ác. Nếu bạn còn tái phạm thì lập tức sẽ rơi vào ác đạo. Chứ không giống như giáo thuyết của ngoại đạo nói rằng: "Này các tín đồ, bạn chỉ cần tin chắc vào vị giáo chủ thì dẫu bạn tạo tác nghiệp gì cũng được lên thiên đàng. Còn nếu bạn không tin vào Ðấng Giáo Chủ thì dẫu bạn có làm nhiều công đức bạn cũng sẽ đọa vào địa ngục". Ðây là một giáo thuyết đầy lầm lỗi.

Ngược lại, nếu bạn có lòng tin Phật, nhưng bạn tạo ác nghiệp thì nhất định bạn sẽ đọa vào địa ngục không hơn. Thậm chí, bạn có thể không tin vào Ðức Phật, nhưng nếu bạn làm việc thiện bạn cũng được lên thiên đàng không khác. Phật Pháp luôn đưa con người đến chỗ Chánh tín, chứ không rơi vào mê tín như giáo thuyết ngoại đạo: "Các ngươi hãy tin Ta thì các ngươi có thể làm bất cứ điều gì có thể...". Ðiều tối kỵ nhất và tội lỗi nhất cũng là ở chỗ này vậy. Bạn phải hoàn toàn tín thọ Phật Pháp, đồng thời cần phải không tạo nghiệp thì mới có thể đến chỗ hoàn thiện. Nếu cứ tạo nghiệp thì nhất định sẽ đọa địa ngục.

"Ðằng nào cũng đọa địa ngục như nhau, tại sao lại nên quy y Tam Bảo?"

- Bởi vì quy y Tam Bảo nghĩa là bạn phải bỏ ác làm lành, bỏ điều sai quá khứ, làm việc thiện hiện tại và từ đây về sau chỉ làm việc lành, không làm điều sai quấy, như thế mới có thể gặt hái được lợi ích. Chính vì vậy, mà câu Thần chú này dạy chúng ta quy y Tam Bảo trong mười phương không cùng, tận.

Bạn niệm câu chú này cũng có thể tiêu trừ tai ách cho bạn. Lúc bạn có tai nạn gì, hãy thường niệm "Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ðá Ra Dạ Da" thì tai nạn của bạn sẽ được giải trừ. Nếu là tai nạn lớn thì sẽ biến thành nhỏ, nếu tai nạn nhỏ cũng có thể tiêu sạch. Vì vậy, mà gọi là "Tiêu Tai Pháp"*.

"Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ðá Ra Dạ Da" cũng còn gọi là "Tăng Ích Pháp". Tăng Ích Pháp có nghĩa là xưa nay bạn đã là người có thiện căn, lại còn niệm Thần chú này, thiện căn của bạn sẽ được tăng thêm bội phần, chỗ thắng ích của nó không sao kể hết. Vì vậy, mà gọi là Tăng Ích Pháp.

Bạn có thể niệm hết Chú Ðại Bi, hoặc chỉ niệm câu "Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ðá Ra Dạ Da" nầy, thì bất kể bạn muốn gì, hy vọng gì, thì sở cầu của bạn đều như ý; Sở nguyện đều tùy tâm, như thế là bạn đã có "Thành Tựu Pháp". Cũng ví như không có con trai mà muốn cầu sanh con trai, bạn hãy niệm "Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ðá Ra Dạ Da" thì sẽ sanh con trai. Không có bạn tốt, bạn muốn tìm một người bạn lành, bạn cũng niệm câu chú này thì sẽ gặp được bạn tốt, nhưng bạn cần phải thành tâm, không chỉ một hay hai ngày, mà ít nhất phải hằng niệm trong ba năm. Nếu bạn có thể niệm đọc toàn bài thì càng tốt, nếu không thì chỉ niệm một câu "Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ðá Ra Dạ Da" cũng đã thành tựu công đức bất khả tư nghì.

Câu chú này cũng tức là "Hàng Phục Pháp", có thể hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo. Tất cả thiên ma ngoại đạo, nghe đến câu chú này đều phải (hồi tâm phục mệnh), quên mạng bỏ chạy. Trái lại, đây không phải là "Câu Triệu Pháp", câu triệu pháp tức là niệm một câu chú đó thì yêu ma quỷ quái đều bị tóm bắt. Vì vậy, câu chú "Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ðá Ra Dạ Da" này, công năng của nó không thể nghĩ bàn, nếu mang ra mà giảng giải thì không thể nào cùng tận!

"Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ðá Ra Dạ Da":

"Nam Mô" là "quy mạng kính đầu", "Hắc Ra Ðát Na" là chữ Bảo, "Ðá Ra Dạ" tức là "Tam", "Da" là chữ "Lễ". Cho nên nghĩa của câu này là đem thân tâm và tính mạng của chúng ta quy y Tam Bảo trong mười phương ba đời vô tận vô biên, đồng thời phải hướng về Tam Bảo mà cúi đầu đảnh lễ.

Vì sao gọi là vô tận vô biên? Vì quá khứ chư Phật không cùng tận, hiện tại chư Phật không cùng tận, vị lai chư Phật cũng không cùng tận, cho nên gọi là vô tận vô biên Tam Bảo.

* Năm loại mật Pháp là:
1) Tiêu tai.2) Tăng ích. 3) Thành tựu. 4) Hàng phục và 5) Câu triệu.

 

(Còn tiếp)

Return to homepage | Top of page