Vietnamese|English

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh
Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm

Hán dịch: Dao Tần, Tam Tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập.
Giảng Thuật: Tuyên Hóa thượng nhân, Vạn Phật Thánh Thành Mỹ Quốc

Hoài boãi của chư Phật, chư Bồ tát đều muốn tất cả chúng sanh được ly khổ đắc lạc, bỏ trần lao ô nhiễm hợp với giác ngộ thanh tịnh, và cứu cánh là thành Phật. Các ngài không có tí ti tính toán gì cho riêng mình mà chỉ vì lợi ích của tha nhân.

Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát thì:

"Thiên xứ kỳ cầu thiên xứ ứng
Khổ hải thường tác độ nhân châu."

Mong rằng mỗi chúng ta gia tâm trì niệm danh hiệu Ngài, cầu nguyện cho thế giới hòa bình, cho mọi người hết khổ. Hy vọng rằng mọi người đều sẽ là hóa thân của Ðức Bồ Tát Quán Thế Âm.

bdh

 

 

Phẩm này được gọi là Phổ Môn Phẩm, có rất nhiều ý nghĩa. Bây giờ, trước hết, gọi nó là "Dược Châu". Vì là Dược Châu nên gọi là Phổ Môn Phẩm.

Tại sao gọi là Dược? Dược đây chính là Dược Vương Thọ. Tại sao gọi là Châu? Châu đây chính là Như ý Châu. Sao còn gọi là Dược Vương Thọ? Cách đây thật lâu xa, có một người lên núi đốn củi về gánh bán ở chợ, gặp một người thầy thuốc, vị này nhìn thấy trong gánh củi của anh ta phát ra ánh sáng bèn mua hết gánh củi đó về. Về nhà, vị ấy dở củi ra xem thì thấy bên trong có một khúc Dược Vương Thọ. Sau khi vị thầy thuốc được Dược Vương Thọ rồi, gặp bất cứ bịnh gì, chỉ cần lấy Dược Vương Thọ gõ nhẹ trên người bịnh nhân, hoặc đánh nhẹ một cái thì bịnh liền hết ngay, cứu được không biết bao nhiêu người. Chính vì thế mà gọi là Dược Vương Thọ. Châu đây là Như ý bảo châu. Sao gọi là Như ý bảo châu? Như ý là vừa lòng toại ý, cũng chính là khiến cho bạn vui thích vừa ý, thỏa mãn sự yêu cầu của bạn, đáp ứng được dục vọng của bạn. Nếu bạn muốn ăn món chi thì Như ý Châu liền hiện ra món ngon ấy, bạn chẳng cần phải đi mua. Nếu bạn muốn mặc bộ đồ đẹp, chỉ cần đối với Như ý Châu mà nghĩ rằng: "Tôi muốn có một bộ đồ thật đẹp, ít có trên đời", bấy giờ Như ý Châu liền hiện ra một bộ đồ đúng như ý bạn mong muốn. Thậm chí bạn muốn có nhà ở, nó cũng có thể hiện ra được. Bạn nghĩ: "Tối nay tôi muốn ở một căn nhà thật sang trọng", thì bảo châu này liền hiện ra căn nhà như ý. Sau khi ở một đêm, sáng ngày thứ hai, căn nhà tự động trở về lại trong Như ý Châu. Bạn muốn ăn thứ gì, thức gì, Như ý Châu liền hiện ra thức ấy, lượng vừa đủ, không thừa không thiếu. Về y phục bạn mặc, cũng không cần phải sắm giá áo, chỉ cần bạn cởi ra thì y phục ấy tự động trở về trong Như ý Châu. Vì thế hạt châu ấy gọi là "Như ý". Như ý Châu bao lớn? Hạt châu này rất nhỏ, có thể tùy tiện đem theo mình; nó lại không nặng và không choán chỗ, nên gọi là Như ý Châu, toại lòng như ý, thật là mầu nhiệm. Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm cũng giống như Dược Vương Thọ, Như ý Châu, có thể làm cho mọi người toại lòng vừa ý. Chỉ cần bạn đọc tụng phẩm Phổ Môn thì cầu mong những việc chi cũng có thể mãn nguyện. Nhưng không phải là hôm nay tụng niệm ngày mai sẽ có hiệu quả. Cần phải trước tiên sửa soạn một cơ sở thật ổn định, giống như cất một cái nhà lầu, trước tiên phải làm nền móng cho thật chắc; nền móng không chắc thì nhà lầu cũng không có cách gì xây lên được. Phổ Môn Phẩm tuy linh cảm giống như Dược Vương Thọ và Như ý Châu, không thể nghĩ bàn như thế ấy, nhưng trước tiên bạn phải đọc tụng Phổ Môn Phẩm, mỗi ngày mỗi tụng niệm, tụng niệm đến chừng nào Bồ Tát Quán Thế Âm nhận cho là bạn hợp cách, nhận cho là bạn có thành tâm, sau đó bạn cầu điều chi đều được như ý mãn nguyện. Không thể nói lúc bình thường chưa tụng niệm, đến khi muốn cầu cảm ứng thì tức khắc có cảm ứng ngay. Thế thì nhất định bạn phải lúc bình thường dụng công tu hành, đến khi gặp Phổ Môn Phẩm giống như Dược Vương Thọ, Như ý Châu, thì sẽ có những vi diệu không thể nghĩ bàn, nhưng trước hết chính bạn phải tụng niệm mới được.

Có người nói: "Trong Phật giáo có quá nhiều điều phải học! Ðã tụng chú Lăng Nghiêm, đã tụng chú Ðại Bi, bây giờ giảng đến phẩm Phổ Môn lại phải tụng Phổ Môn Phẩm. Thế thì nhiều thời khóa quá, chúng tôi làm sao có đủ thời gian? Bạn không cần phải quá nhiều thời gian, chỉ cần mỗi ngày bạn ngủ ít đi một tiếng, bớt nói chuyện một tí, thì công tác này có thể làm được ngay. Nếu bạn không muốn toại lòng vừa ý mà nói rằng tôi không có mong cầu điều chi, tôi không có tâm tham sân, cũng không có tâm si, thế thì bạn rốt cuộc chẳng cần phải tụng niệm và cũng không có điều gì phải nói. Nếu như bạn cảm thấy trong tương lai, hoặc có thể gặp một sự cố nào đó, muốn cầu Quán Thế Âm Bồ Tát hoặc Phật giúp đỡ cho, thì bạn phải học nhiều Phật pháp một tí nữa. Phật pháp cũng như biển cả, mà bạn một giọt cũng chưa uống lại sợ nhiều, thì tương lai nước biển cả ấy nhất định không thể uống hết được. Nhưng chỉ cần bạn cố hết sức mình, cần bao nhiêu thì uống bấy nhiêu thôi. Phật pháp là kho vô tận, dùng hoài không hết, cho nên bạn cứ cố đem hết sức mình mà vận dụng Phật pháp. Do ý nghĩa "Dược Châu" ấy nên nói phẩm Phổ Môn này.

Còn có một nghĩa nữa gọi là "Hiển Mật". "Hiển" là hiển lộ rõ ràng, "Mật" là bí mật kín đáo. Việc này là do bạn tụng Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm có lúc được cảm ứng rõ ràng, có lúc thầm được cảm ứng.

Cảm ứng rõ ràng thì ai nấy có thể nhìn thấy, ai nấy đều biết được. Ví như Quán Thế Âm Bồ Tát cứu giúp chúng sanh, trong phẩm Phổ Môn có nói: "Dầu cho vào lửa lớn, lửa không thể đốt được". Ở Kinh Lăng Nghiêm, khi Quán Thế Âm Bồ Tát thuật về Nhĩ căn viên thông, nói: "Lửa không thể đốt vì tánh lửa là chơn không, tánh không là chơn hỏa". Ví như bạn đang ngồi trong phòng, nhất tâm nhất ý niệm Quán Thế Âm Bồ Tát mà vô ý gặp phải lửa, lúc ấy bạn chỉ cần thành tâm niệm Quán Thế Âm Bồ Tát, thế thì dù cho nhà bên có bị cháy, nhà của bạn cũng không thể cháy được. Nhưng đó phải là vô ý chứ không phải cố ý. Nếu bạn cố ý đi đốt lửa để thử xem nhà mình có thể cháy không, thì nhất định phải cháy rồi! Tại sao thế? Tại vì bạn luôn luôn có ý nghĩ thử nghiệm Quán Thế Âm Bồ Tát, bởi bạn không có lòng tin chắc chắn nên mới thử xem như thế. Giống như bạn có một người bạn, muốn biết người bạn ấy có thiệt tâm với mình không, có phải là người tốt "gặp vàng không sáng mắt" hay không, bèn đợi khi người bạn đến mới cố ý đánh rơi dưới đất 500 đô-la. Tôi không cần nhìn thấy người bạn ấy, anh ta nếu là người tốt thì không thể lấy số tiền kia. Tại sao bạn lại muốn thử nghiệm người bạn của mình? Nhân vì bạn không có nhận định đúng đắn về người bạn ấy, không biết anh ta có thật là người tốt không, cho nên mới thử nghiệm như vậy. Về Quán Thế Âm Bồ Tát, trong kinh có nói: "Dầu cho vào lửa lớn, lửa không thể đốt được". Về việc này bạn không tin chút nào, thì Quán Thế Âm Bồ Tát cũng không thể nào để ý đến những công việc vặt vãnh của bạn. Bạn muốn nhảy xuống biển tự sát, rồi nói: "Tôi nhảy vào trong biển lớn để xem có gặp chỗ cạn hay không?" Giả như bạn muốn thử nghiệm để xem thần thông diệu dụng của Quán Thế Âm Bồ Tát, việc đó chứng tỏ rằng bạn không có lòng tin đối với Bồ Tát. Nếu bạn đối với Bồ Tát không có lòng tin, Ngài cũng không muốn để ý đến những việc không đâu của bạn. Bạn nói: "Nếu không thử nghiệm, làm sao tôi biết được việc ấy là thật hay giả?" Bạn biết việc ấy là thật, thì thế nào? Bạn không biết việc ấy là thật thì thế nào? Bạn chỉ biết một ngày phải ăn cơm, mặc quần áo, mới có thể sống được, thế thì bạn cần gì phải biết thêm làm chi?

Hiển lộ rõ ràng là mọi người ai cũng biết, như nhà kế bên cháy mà nhà mình không cháy; đó không phải là rõ ràng sao? Ai nấy đều biết: "A! Người ấy niệm Quán Thế Âm Bồ Tát nên có cảm ứng đấy!" Họ tin Phật thật là có sự mầu nhiệm". Có cảm ứng chính là hiển lộ đấy.

Lại còn có sự bí mật nữa. Bí mật là bạn đáng lẽ có một tai nạn, hoặc là bạn đáng lẽ phải té xuống biển bị nước cuốn chết, nhưng trong vô hình, cảm ứng được Quán Thế Âm Bồ Tát, khiến cho bạn không thể gặp phải thứ nguy hiểm ấy; trong thầm kín Ngài làm cho tai nạn của bạn tiêu mất đi, đó gọi là bí mật. Người ấy đáng lẽ bị lửa đốt cháy, nhưng nhờ người ấy tin tưởng Quán Thế Âm Bồ Tát, Ngài bèn âm thầm giải trừ tai nạn cho người ấy. Ðó cũng là cảm ứng bí mật. Thậm chí bạn đang ngồi trên phi cơ, đáng lẽ phi cơ bị trục trặc - giao thông hiện nay tuy rất tiện lợi, nhưng số người tử vong cũng rất nhiều, có khi phi cơ bị trục trặc, xe lửa bị trục trặc, taxi bị trục trặc, rất nhiều người bị chết vì tai nạn, trước những tình hình đó, do nhờ tụng Phổ Môn Phẩm, do nhờ niệm chú Ðại Bi, do nhờ tin tưởng vào Quán Thế Âm Bồ Tát, Ngài bèn ở trong chỗ thầm kín, nói tóm lại, là chỗ người ta không biết được, làm cho bạn đổi nguy thành an. Ðó gọi là "gặp hung hóa kiết, đổi nạn thành an". Nhân vì có sự quan hệ "Hiển Mật" cho nên nói đến phẩm Phổ Môn này.

Phẩm Phổ Môn có "Hiển Mật viên thông", Hiển cũng viên thông mà Mật cũng viên thông, Hiển Mật đều viên thông cả, nên công đức của phẩm Phổ Môn là không thể nghĩ bàn. Phẩm Phổ Môn này có các thứ diệu dụng, chú Ðại Bi cũng có diệu dụng đó. Tôi nói một việc cảm ứng cho quý vị nghe:

Ở phía Ðông bắc làng tôi có một người nông dân rất giàu có. Mùa Thu năm ấy, ông chất nông phẩm lên xe đem ra chợ bán. Bán xong mang tiền về nhà, khi còn cách nhà độ ba dặm đường, gặp phải đám thổ phỉ chận đường đánh cướp. Vị tài chủ này thấy phía trước có cướp - phải làm sao đây? Chạy chốn ư? Bọn thổ phỉ nhìn thấy rồi, muốn trốn cũng không được; nếu không chạy trốn thì nhất định phải bị cướp. Ngay lúc ấy ông ta bèn niệm chú Ðại Bi, chiếc xe của ông ta cứ thẳng đường đi tới. Khi gần đến chỗ bọn thổ phỉ, bổng thấy từ trong đám thổ phỉ bước ra một người đi đến trước xe nói: "Ông đưa roi cho tôi để tôi đánh xe cho". Người ấy cũng đưa roi cho người kia đánh xe đi qua khỏi đám thổ phỉ mà bọn họ hình như không thấy không nghe gì cả, cho nên người nông dân ấy không bị đánh cướp. Ðợi tới chỗ bọn thổ phỉ không còn thấy nữa, người đánh xe gìum ấy trả lại con roi cho chủ và nói: "Bây giờ ông hãy đi đi, không có việc gì nữa đâu". Vị tài chủ ấy nhìn thấy người đánh xe cho mình từ trong đám thổ phỉ đi ra thì nhất định là thổ phỉ rồi, mới nói: "Thưa tiên sinh, hôm nay nhờ tiên sinh cứu giúp mà tôi khỏi bị nạn cướp, dám hỏi quý danh tiên sinh là chi? Hiện ở đâu? Tương lai tôi sẽ đến quý phủ hầu bái tạ". Người kia nói: "Tôi tên là A Thệ Dựng". Khi quý vị niệm chú Ðại Bi trong chú Ðại Bi không phải có một vị Hộ pháp tên là A Thệ Dựng sao? Trong đồ hình, vị Hộ pháp ở phía sau vai có hai cánh, tên là A Thệ Dựng. Nhưng mà đương lúc ấy vị tài chủ lại nghĩ: "A, ai tên A Thệ Dựng kìa! Ai vậy kìa?" Bấy giờ ông ta quên rằng "A Thệ Dựng" chính là một câu trong chú Ðại Bi, cũng là tên một vị Hộ pháp. Tới chừng vị A Thệ Dựng ấy đi rồi, không còn nhìn thấy nữa, ông ta mới sực nhớ ra rằng: "À, đây không phải là một vị Hộ pháp tên A Thệ Dựng trong chú Ðại Bi hay sao?" Khi nhớ ra "A Thệ Dựng" thì tìm không thấy ông ta nữa, cũng không biết ông ta đi về đâu? Cho nên đây là một thứ cảnh giới không thể nghĩ bàn của chú Ðại Bị. Giả như vị tài chủ ấy nghĩ rằng: "Ðể mình niệm chú Ðại Bi xem có linh nghiệm không", A Thệ Dựng cũng không thể nào đến cứu ông ta được. Bởi vì ông ta không có lòng thử nghiệm, mà chỉ một lòng tin tưởng: "Tôi niệm chú Ðại Bi thì sẽ có thể gặp hung hóa kiết, đổi nạn thành an". Quả nhiên ông ta được toại ý nguyện không bị thổ phỉ đánh cướp.

Bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa này gồm có bảy quyển chia thành 28 phẩm, phẩm Phổ Môn này là phẩm thứ 25, nhưng trong bản kinh văn xưa thì là thứ 24, vì trong đó thiếu một phẩm Ðề-bà-đạt-đa. Phẩm Phổ Môn này diễn bày công đức thần thông diệu dụng và cảnh giới không thể nghĩ bàn của Bồ Tát Quán Thế Âm.

Ở đoạn trước tôi nói về "Dược Châu", nay tôi sẽ nói về "Nhân Pháp". "Nhân chính là Bồ Tát Quán Thế Âm, "Pháp" chính là pháp môn Phổ Môn được thị hiện. Vị Bồ Tát Quán Thế Âm này cứu 7 nạn, giải 3 độc, ứng 2 điều cầu mong, cho nên là nhân vật không thể nghĩ bàn. Ngài lại nói pháp Phổ Môn thị hiện có cầu tất ứng, không cảm chẳng thông. Thứ "Pháp" này là một thứ pháp không thể nghĩ bàn, vì không thể nghĩ bàn nên gọi là Diệu pháp. Vì "Nhân" ấy cũng không thể nghĩ bàn, cho nên cũng có thể gọi là Diệu nhân. Ðã là Diệu nhân, Diệu pháp mới đáng gọi là Phổ Môn, mới có thể gọi là Thật tướng phù. Vì nhân duyên của "Nhân Pháp" nên Bồ Tát Quán Thế Âm mới nói "Phổ Môn Phẩm" này.

Nghĩa thứ hai là "Từ Bi". Do nhân duyên Từ Bi nên Bồ Tát Quán Thế Âm mới nói Phổ Môn Phẩm này. Sao gọi là "Từ"? - "Từ" hay cho vui. Sao gọi là "Bi"? - Bi hay cứu khổ. Bồ Tát Quán Thế Âm cứu 7 thứ nạn, giải 3 thứ độc và ứng 2 thứ cầu mong của chúng sanh. Bảy thứ nạn này trong kinh văn đã nói rất tỉ mỉ, tóm tắt là: Nạn nước, nạn lửa, nạn gió, nạn gông cùm, nạn gió xoáy... Giải 3 độc là 3 độc nào? Ðó là 3 độc tham, sân, si. Ứng 2 điều cầu mong là 2 điều cầu mong sanh trai và sanh gái. Chúng sanh đều có 3 độc tham, sân, si này. Nếu người nhiều tham, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát thì được lìa tham. Nếu ngưới nhiều sân, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát thì được lìa sân. Nếu người nhiều si, thường niệm cung kính Quán Thế Âm Bồ Tát thì được lìa si. Thứ tham này nói ra rất nhiều, sân nói ra cũng không ít, còn si đúng là không nhiều cũng không ít. Nói nó nhiều cũng không phải là nhiều, nói nó ít cũng không phải là ít. Tại sao gọi là si? Nói dễ hiểu là ngu si. Thế nào là ngu si? Là không có trí huệ, không rõ ràng, thấy không đúng lý nên gọi là ngu si. Thấy được lý luận ấy không chính xác, biết nó là thế mà không biết tại sao thế, căn cứ vào học thuyết của Vương Dương Minh ở Trung Quốc thì: Người ngu si là bởi người ấy chưa có thể "Tri hành hợp nhất". Theo Vương Dương Minh, tại sao người ấy không làm? Là bởi người ấy không biết nên mới không làm; nếu người ấy biết, sẽ làm ngay. Theo Vương Dương Minh, người ấy biết mà không chịu làm, là do chưa thật biết; nếu thật biết thì nhất định sẽ làm ngay. Vương Dương Minh là một vị học giả rất nổi tiếng ở Trung Quốc, học thuyết của ông là: "Tri hành hợp nhất": Nếu người thật biết thì nhất định sẽ thật hành; vì không biết, người ấy mới không làm. Ðiều này cũng chính là nói phải biết rõ đúng thì làm việc mới không ngu si nữa. Tại sao người ấy làm việc ngu si? Bởi vì người ấy không biết rõ. Cho nên tôi nói đây là thấy không đúng lý. Thử đưa ra một thí dụ, ví như người ngu si nói: "Hoa đẹp sáng sáng đều xinh tươi, trăng sáng ngại gì mỗi đêm tròn, đại địa có suối đều thành rượu, rừng già không cày chẳng lay tiền". Người tham hoa sanh tâm ngu si nói: "Tôi muốn đóa hoa này mãi mãi xanh tươi chẳng tàn phai, muốn đóa hoa này luôn luôn nở ra, sáng sáng đều đẹp như thế này". Người tham trăng tròn lại nói: "Trăng sáng nào ngại mỗi đêm tròn ư? Trăng tối hôm qua đã tròn, nếu trăng mỗi đêm đều tròn cả thì tốt biết bao! Mỗi ngày ra ngoài ngắm trăng, ánh trăng sáng ngời cũng không cần phải đèn điện, vừa bớt tốn tiền, ánh sáng thiên nhiên phải tốt hơn không?" Ðó không phải là ngu si sao? Trăng có tròn có khuyết, hoa có nở có tàn. Hoa nở thì phải có lúc hoa tàn, trăng tròn thì phải có lúc trăng khuyết, đó là luật tuần hoàn của trời đất. Người thích uống rượu lại nghĩ: "Mỗi ngày tôi đi mua rượu, mua Whisky, Brandy thì rất đắt; nếu ở dưới đất mà có ao nước biến thành ao rượu, khi tôi muốn uống rượu sẽ đến ao nước ấy lấy rượu, thật dễ dàng biết bao!" Những sự việc không thể có được ấy đều là ảo tưởng ngu si. Lại lấy một ví dụ dễ hiểu, có một người không có học, thậm chí cũng chưa học tiểu học, trung học khỏi phải nói rồi, nhưng anh lại muốn được một học vị Bác sĩ ở đại học. Quý vị nói việc này có lý không? Chưa học qua tiểu học, thì học vị Bác sĩ đại học làm sao cấp cho anh được? Còn có một hạng người chưa làm ruộng bao giờ, đến mùa lại muốn thu hoạch, đó la ngu si! Thậm chí không có mua vé số mà lại mong trúng số, đó là một ý tưởng quá ngu si. Nhưng có đa số người phạm phải thứ bịnh vọng tưởng không làm mà muốn có ăn, thế thì làm sao được? Có thứ bịnh này thì cần phải sửa đổi đi mới được. Bồ Tát Quán Thế Âm cứu 7 nạn, giải 3 độc, ứng 2 điều mong cầu, đó là một thứ Ðại bi, cũng lại là làm lợi lạc tất cả chúng sanh, khiến cho chúng sanh lìa khổ được vui, đó là một thứ Ðại từ. Vì nhân duyên Ðại từ Ðại bi nên Ngài mới nói Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm này. Lại còn có một thứ nữa là nhân duyên phước huệ. Phước, là Bồ Tát Quán Thế Âm sở dĩ có thể tầm thanh cứu khổ, phân biệt được tất cả âm thanh trong thế gian: Tiếng thiện, tiếng ác, tiếng khổ, tiếng vui, tiếng phải, tiếng quấy là vì Ngài có trí huệ chơn chánh. Trí huệ của Ngài từ đâu mà có? Là vì Ngài bố thí phổ môn, dùng pháp này thí cho chúng sanh, cho nên Ngài có phước báo ấy để làm phước báo trang nghiêm. Vì thế nói là do nhân duyên phước báo mà nói Phổ Môn Phẩm.

Lại có một thứ nữa là "Chơn Ứng". "Chơn" là Bồ Tát Quán Thế Âm dùng diệu lực chơn thân của Ngài để cứu độ 7 nạn, giải trừ 3 độc, thỏa mãn 2 điều mong cầu của chúng sanh. Ngài lại hiện 32 thứ Ứng hóa thân, đó gọi là Ứng thân dùng để giáo hóa chúng sanh, vì thế nên có nhân duyên Chơn Ứng này.

Nói phẩm Phổ Môn này lại có "Quyền Thật". Bồ Tát Quán Thế Âm dùng sức của pháp thân này lặng lẽ, bí mật cứu giúp chúng sanh, ấy là "Thật". Ngài lại dùng 32 Ứng hóa thân để giáo hóa chúng sanh ấy là "Quyền" là phương tiện quyền xảo, cũng là phương pháp tạm thời, không phải là vĩnh viễn. Lại vì Bồ Tát Quán Thế Âm dùng nhân duyên "Quyền, Thật" này, nên mới nói phẩm Phổ Môn đây.

Còn có một nhân duyên nữa gọi là "Bản, Tích". Sao gọi là "Bản"? "Bản" là căn bản, "Tích" là dấu tích. Bồ Tát Quán Thế Âm dùng một Pháp thân mà độ khắp tất cả chúng sanh, là "Bản". Ngài lại dùng Ứng hóa thân để giáo hóa chúng sanh, là "Tích". Pháp thân của Bồ Tát Quán Thế Âm như là ánh sáng trăng, "Tích" của Ngài cũng giống như là ánh sáng trăng chiếu trên ngàn sông. Ấy gọi là: "Nước đẫy ngàn sông ngàn ánh trăng", chỉ có một vầng trăng sáng chiếu soi tất cả dòng sông mà những bóng trăng trong tất cả dòng sông ấy đều là từ bản thân của mặt trăng này huyễn hiện ra. Bóng trăng trong nước chính là nước, là "Tích; còn mặt trăng trên trời chính là "Bản". Do nhân duyên "Bản, Tích" này mà nói phẩm Phổ Môn.

Bồ Tát Quán Thế Âm dùng một Pháp thân hiện khắp trong tất cả tâm chúng sanh, khiến cho họ đều cải hóa tự tân, hồi tân hướng thiện, lìa khổ được vui, rốt ráo. Ðến đây có người nói: "Hèn gì! Bởi tôi không cải hóa tự tân mà Bồ Tát Quán Thế Âm không hiện ở tâm tôi, khiến tôi mới có biết bao lỗi lầm không có ý sửa đổi". Người hút thuốc nghĩ rằng: "Ðại khái là Bồ Tát Quán Thế Âm không gia bị tôi, không giúp đỡ tôi". Người thích uống rượu lại nói: "Tôi muốn học Phật pháp, nhưng đáng tiếc là tôi kiêng rượu không được, đó là lỗi của Bồ Tát Quán Thế Âm vì Ngài không chịu giúp đỡ tôi". Họ nghĩ như thế rồi sanh tâm oán trách Bồ Tát Quán Thế Âm, và nói: "Bồ Tát Quán Thế Âm thật là bất công lắm! Tại sao giúp đỡ người ta mà không chịu giúp đỡ tôi?"

Ðiều này thật là ngu lại càng ngu, thành ra hai cái ngu si chồng chất lên nhau. Tại sao Bồ Tát Quán Thế Âm lại không gia bị bạn? Ðó là do bạn không chịu nghe lời giáo hóa của Ngài đấy thôi. Bạn nghe thấy danh hiệu Quán Thế Âm Bồ Tát thì phải cải hóa tự tân đi, phải trong sạch đầu óc đi. "Ngộ dĩ vãng là không kể đến", biết rằng việc quá khứ đã qua rồi kể như xong. "Biết vị lai khó thể truy tìm", tương lai phải nên đi trên con đường chân thiện. Nhưng bạn rõ biết mà cố phạm thì tội ấy càng chồng thêm. Vì thế oán trách Bồ Tát Quán Thế Âm không bảo hộ bạn là một sự quá lầm lạc! Bồ Tát Quán Thế Âm lúc nào cũng muốn bảo hộ, nhưng tiếc thay cửa lòng bạn đóng chặt, không để cho Ngài tiến vào. Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ có nước thở dài: "Ôi! Chúng sanh này thật là đáng thương biết bao!" Vì thế bạn không nên trách Bồ Tát Quán Thế Âm mà phải trách chính mình thiếu nhiệt tâm.

Còn một thứ nhân duyên nữa, chính là "Duyên Liễu". "Duyên" là duyên nhân, "Liễu" là liễu nhân. Sao gọi là "Liễu nhân"? Ấy là cái nhân này đã dứt hết, cũng có thể nói đó là cái nhân của nhân quả rõ ràng. Chúng ta hiện đang nghe kinh pháp, có người là sinh viên của đại học Seattle đến từ Washington, có người học Bác sĩ, Thạc sĩ cũng đến học Phật pháp. Tại sao những người ấy phải từ những chỗ xa xôi như vậy đến đây để tham thiền, học tập kinh tạng, nghiên cứu Phật pháp? Chính là vì muốn "liễu" được cái nhân ấy. Nghe kinh chính là chủng tử của liễu nhân, bạn có nhân duyên nghe kinh, đó là "nhân" của duyên. Vì nhân duyên của "Duyên liễu" nên nói phẩm Phổ Môn này.

Còn có một thứ gọi là "Trí Ðoạn". Bồ Tát Quán Thế Âm dùng trí huệ, trí đức trang nghiêm của Ngài để giáo hóa chúng sanh, quả vị của Ngài là trang nghiêm trí huệ. "Trí" là Trí đức của Huệ, tức là đức hạnh của trí. "Ðoạn" là Ðoạn đức, tức là dứt trừ tất cả vô minh. Ðoạn đức này còn có thể gọi là phước đức, nhân vì Ngài dứt trừ được vô minh nên có được phước đức trang nghiêm chân chánh, giống như Phật đầy đủ cả phước và huệ. Bồ Tát Quán Thế Âm dù là Bồ Tát, nhưng Ngài có phước đức trang nghiêm, cũng có huệ đức trang nghiêm, nên "Trí huệ" cũng gọi là "Phước huệ".

Trên đây là nêu lý do vì mười thứ nhân duyên nên nói Phổ Môn Phẩm.

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà