Vietnamese|English


Lược Giảng Kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-La-Mật 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

tại Phật Giáo Giảng Ðường, San Francisco từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 4 năm 1969.

(tiếp theo)

PHẦN TÁM:

Y PHÁP XUẤT SANH

Tu Bồ Ðề, ư ý vân hà? Nhược nhơn mãn tam thiên đại thiên thế giới thất bảo, dĩ dụng bố thí, thị nhơn sở đắc phước đức, ninh vi đa phủ? Tu Bồ Ðề ngôn: Thậm đa, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thị phúc đức tức phi phúc đức tính, thị cố Như Lai thuyết phúc đức đa. Nhược phục hữu nhơn, ư thử kinh trung, thọ trì nãi chí tứ cú kệ đẳng, vi tha nhơn thuyết, kỳ phúc thắng bỉ. Hà dĩ cố? Tu Bồ Ðề, nhất thiết chư Phật cập chư Phật A nậu đa la tam miệu tam bồ đề pháp, giai tùng thử kinh xuất. Tu Bồ Ðề, sở vị Phật pháp giả tức phi Phật pháp.

Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ sao? Nếu có người đem bảy thứ báu đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy được phước đức nhiều chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Bạch Thế-tôn! Rất nhiều.

Vì sao? Vì phước đức ấy chẳng phải là tánh phước đức, nên Như-lai nói là phước đức nhiều.

Nếu lại có người thọ trì thậm chí chỉ bốn câu kệ trong kinh này, và giảng cho người khác nghe, thì phước đức lại nhiều hơn người kia.

Vì sao? Tu-bồ-đề! Tất cả chư Phật cùng pháp a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề của Phật, đều từ kinh này mà ra. Tu-bồ-đề! gọi là Phật-pháp, tức chẳng phải Phật-pháp.

Lược giải:

Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ thế nào? Nếu có người đem bảy thứ báu đầy khắp tam thiên đại thiên thế giới để bố thí, người ấy được phước đức nhiều chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Bạch Thế-tôn! Rất nhiều.

Phật lại hỏi trưởng lão Tu-bồ-đề rằng thí dụ có một người dùng các đồ bảy báu, số lượng có thể rải khắp tam thiên đại thiên thế giới mà bố thí, thì phước đức của người này có nhiều hay không?

Tam thiên đại thiên thế giới là như thế nào? Mỗi thế giới gồm có núi Tu-di, bốn bộ châu lớn, tức là châu Ðông-thắng-thần, châu Nam-thiệm-bộ, châu Tây-ngưu-hạ, châu Bắc-câu-lư, một mặt trời, một mặt trăng. Một ngàn thế giới như thế gọi là một tiểu thiên thế giới. Một ngàn tiểu thiên thế giới gọi là một trung thiên thế giới. Một ngàn trung thiên thế giới gọi là một đại thiên thế giới. Bởi vì có tiểu thiên, trung thiên, đại thiên, nên gọi là tam thiên đại thiên thế giới.

Vậy là của báu có thể rải khắp cả tam thiên đại thiên thế giới. Bảy báu thì gồm có vàng, bạc, lưu ly, pha lê, xa cừ, xích châu, và mã não. Có người đem chừng ấy vật báu để bố thí, thì phước đức này có nhiều hay không. Phật hỏi ông Tu-bồ-đề như vậy và ông Tu-bồ-đề lập tức trả lời là "rất nhiều."

Vì sao? Vì phước đức ấy chẳng phải là tánh phước đức, nên Như-lai nói là phước đức nhiều.

Tại sao lại nói phước đức ấy nhiều? Bởi vì phước đức ấy là do bố thí mà có tướng, không liên quan gì đến phước đức của trí huệ trong tự tánh của chúng ta, do đó Như-lai mới nói rằng phước đức của người đem đồ bảy báu ra bố thí rất lớn. Tuy nhiên, đây chỉ là tướng, tướng phước đức, không phải tánh phước đức.

Nếu lại có người thọ trì thậm chí chỉ bốn câu kệ trong kinh này, và giảng cho người khác nghe, thì phước đức lại nhiều hơn người kia.

Phật lại lấy ví dụ khác: một người thọ trì bộ kinh này, lấy tâm lãnh thọ, lấy thân hành trì (thọ tức là thọ dụng ở trong lòng; trì, tức là thân mình thực hành), không nói thọ trì toàn bộ kinh, chỉ cần giới hạn trong "bốn câu kệ" v.v... Ðây là chỉ bốn câu tụng kệ trong một đoạn kinh, ở một phần sau. Bốn câu đó là:

Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhân hành tà đạo
Bất năng kiến Như-lai.

Dịch nghĩa:

Như lấy sắc mà thấy ta,
Lấy âm thanh mà cầu ta,
Người đó theo đạo tà,
Không thể thấy Như-lai.

Có người cho rằng mấy câu: "Phàm cái gì có tướng đều là hư vọng. Nếu thấy các tướng là phi tướng, thì thấy được Như-lai" là "bốn câu kệ" nói trong kinh. Có người thì nói: "Không tướng ngã, không tướng người, không tướng chúng sanh, không tướng thọ giả" là "bốn câu kệ." Cũng có người lại trỏ vào mấy câu này: "Tất cả pháp hữu vi, như mộng, huyễn, bọt, ảnh, như sương, như điện chớp, nên quán theo như thế."

Tất cả các câu kể trên đều có thể coi như "bốn câu kệ" cả. Nói tóm lại, bốn câu ở trên, hoặc bất luận bốn câu nào khác, tương ưng với ta, ta thường ghi nhớ, và có thể giảng cho người khác nghe đều là "bốn câu kệ." Chẳng cứ phải nhất thiết khư khư vào bốn câu nào đó một cách cứng ngắt, bởi lẽ pháp tức vô định pháp. Nếu lại cố định vào bốn câu này, hay bốn câu kia, thì sẽ biến thành cố định pháp. Kinh Kim Cang dạy phải hàng phục tâm, ly tướng, quét sạch mọi pháp, lìa tất cả các tướng - "ly nhất thiết tướng, tắc danh chư Phật" - cho nên khi giảng kinh cũng phải giảng cho linh hoạt là nghĩa như vậy.

"Bốn câu kệ" chẳng phải nhất định là bốn câu nào. Ý nghĩa của câu nào hợp với chúng ta thì gọi là "bốn câu kệ."

Nay chúng ta lấy ý nghĩa của bốn câu kệ giảng cho mọi người hiểu. Chúng ta theo đó thọ trì, là chúng ta tự tu, giảng cho người khác là làm lợi cho người. Tự tu thì tự lợi, cũng là tự giác. Giảng cho người là lợi tha, giác tha. Chúng ta hiểu được Phật-pháp, lại đem điều hiểu biết đó nói cho tất cả mọi người hiểu, nghĩa là giác tha.

Chúng ta lấy bốn câu kệ để tự mình hành trì, rồi vì người mà nói pháp, đã lợi cho mình còn lợi cho người, thế thì phước đức này còn hơn phước đức của người đã bố thí bằng số lượng bảy báu, nhiều đến nỗi có thể trùm khắp cả tam thiên đại thiên thế giới như vừa nói ở trên. Tuy công đức của người này lớn, nhưng so với công đức của chúng ta trong việc thọ trì bốn câu kệ, hoặc giảng cho người khác nghe thì vẫn không bằng, bởi cớ sao vậy? Bởi vì cách bố thí của người đó thuộc về loại tài thí. Chúng ta đem bốn câu kệ diễn giảng ý nghĩa cho mọi người, tức là pháp thí, một trong những loại bố thí cao thượng nhất, cho nên có câu: "Trong các loại cúng dường, cúng dường pháp là đứng đầu" (chư cúng dường trung, pháp cúng dường tối).

Vì sao? Tu-bồ-đề! Tất cả chư Phật cùng pháp a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề của Phật, đều từ kinh này mà ra. Tu-bồ-đề! gọi là Phật-pháp, tức chẳng phải Phật-pháp.

Phật bảo: Tại sao vậy? Ông Tu-bồ-đề! Ông nên hiểu rằng tất cả chư Phật trong mười phương và ba đời, cũng như pháp vô thượng chánh đẳng chánh giác mà chư Phật chứng đắc đều do thực tướng bát-nhã mà ra cả. Ông Tu-bồ-đề! Ông phải biết rằng gọi là Phật với pháp, tức chẳng phải Phật-pháp, ông không nên chấp trước vào Phật với pháp, phải cho tất cả là không; người không, pháp không, cái ý tưởng không đó cũng không luôn, như vậy gọi là quét tất cả pháp, lìa tất cả mọi tướng. Nếu ông không lìa được các tướng, thì các thứ gọi là bổn lai diện mục, bản địa phong quang, của báu trong nhà, tự tánh bát-nhã, không sao hiển hiện được. Không hiển hiện nghĩa là mất chăng? Chẳng phải mất! Chỉ là không dùng được nó.

Có người lại nói: "Bảo rằng Phật-pháp không nhất định, thế sao còn nói lục độ, vạn hạnh? Lại còn bảo phải giữ giới và tu phước nữa? Nếu đã là không pháp, vậy thì chẳng cần trì giới, chẳng cần tu phước." Quan niệm như vậy là tà tri, tà kiến, tại sao? Bởi vì, tuy nói không chấp tướng, nhưng ta vẫn phải y theo pháp mà tu hành. Thí dụ khi trì giới, trong lòng không khởi lên sự chấp trước; làm công đức cũng không khởi lên chấp trước. Nếu chấp trước thì không có công đức. Chẳng chấp trước, công đức tất sẽ tận cùng hư không, trùm khắp pháp giới.

Giả tỷ, chúng ta hiểu lầm Phật-pháp, cho rằng nếu đã coi pháp là không nhất định, thì ta khỏi cần trì giới nữa, trong ngũ giới thì giết hại là chẳng giết hại, ăn trộm là chẳng ăn trộm, tà dâm là chẳng tà dâm, nói dối là chẳng nói dối, đó chính là tà tri và tà kiến to lớn, tương lai đọa địa ngục, thành thử chúng ta phải hết sức tránh lối suy rộng quan niệm "không," coi thường lẽ nhân quả theo kiểu đó, cho nên có câu:

Khoát đạt không, bát nhân quả,
Mãng mãng đãng đãng chiêu ương họa,
Khí hữu chấp không, bệnh diệc nhiên,
Hoàn như tỵ nịch nhi đầu hỏa.

Dịch nghĩa:

Không quá trớn, bỏ nhân quả,
Mịt mịt mù mù chiêu tai họa,
Bỏ có chấp không, bệnh còn nguyên,
Khỏi nạn chết đuối, bị nạn lửa.

Bởi vậy, chẳng thể coi phước là không, họa là không, cái gì cũng không, điều đó là gieo nhân đọa địa ngục. Ngàn vạn lần chớ rơi vào loại tà kiến này. Bạn không làm công đức, bạn có nghiệp tội. Làm công đức, cũng không chấp vào công đức của mình, vậy mới đúng. Bạn không thể không làm công đức, cũng không thể không giữ giới. Nếu không giữ giới sẽ đọa địa ngục, mỗi người trong chúng ta phải nhận định cho rõ ràng điều này.

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà | Về đầu trang