Vietnamese|English

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm

Hán dịch: Dao Tần, Tam Tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập.
Giảng Thuật: Hòa Thượng Tuyên Hóa, Vạn Phật Thánh Thành.

(tiếp theo)

"Lúc bấy giờ ngài Vô Tận ý Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai phải, chắp tay hướng về Ðức Phật mà thưa rằng: "Bạch Ðức Thế Tôn! Bồ Tát Quán Thế Âm do nhân duyên gì mà có tên là Quán Thế Âm?"

Lược giải:

"Lúc bấy giờ", tức là đương lúc ấy. Ðương lúc ấy là thế nào? Chính là lúc Bồ Tát Vô Tận ý ở hội Pháp Hoa hỏi về nhân duyên có tên gọi Quán Thế Âm Bồ Tát; cũng chính là lúc nói xong phẩm Diệu Âm Bồ Tát Bổn Sự, và bắt đầu nói phẩm là lúc nói Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm. "Ngài Vô Tận ý Bồ Tát". Sao gọi là Vô Tận ý? Nói chung, có ba thứ vô tận:

1. Thế giới vô biên trần nhiễu nhiễu: Thế giới thì nhiều vô lượng vô biên, chúng ta không nên cho rằng thế giới là cái mà chúng ta mắt thấy tai nghe được, và đó là một thứ ranh giới của thế giới. Không phải thế đâu! Thế giới nhiều đến vô lượng vô biên, có thế giới này, thế giới khác..., vô lượng thế giới; cõi nước này, cõi nước khác..., vô lượng cõi nước, vô cùng vô tận, cho nên nói là "Thế giới vô biên trần nhiễu nhiễu".

Sao gọi là nhiễu nhiễu? Nhiễu là nhiễu loạn; nhiễu loạn là bất định; bất định cũng có nghĩa là động. Trần có nghĩa là không thanh tịnh, trên thế giới có rất nhiều vi trần. Thử nhìn khi mặt trời mới mọc, trong ánh dương quang thấy vô số vi trần lên lên xuống xuống trong không trung, lăng xăng lay động, chợt cao chợt thấp. Những vi trần này từ đâu đến? Bao nhiêu đất bụi ở thế giới này từ đâu có? Xét tận cội nguồn, truy cứu căn nguyên của vi trần này là vấn đề thật quan trọng. Tất cả vi trần này đều từ trong tâm của mỗi chúng sanh hiện ra. Tại sao? Vì trong tâm chúng sanh có quá nhiều vọng tưởng. Vọng tưởng giống như vi trần lăng xăng không an, luôn luôn di động. Chúng ta thử quan sát vọng tưởng sẽ thấy chúng nhiều vô số, nhiều đến nỗi không thể tính đếm được! Trong Kinh Lăng Nghiêm nói: "Trong một niệm có 90 sát-na". Sát-na là một khoảng thời gian hết sức ngắn, mà trong một sát-na lại có 900 lần sanh diệt, cho nên nói "Thế giới vô biên trần nhiễu nhiễu". Những thế giới này do đâu mà có? Do chúng ta "y chân khởi vọng". Từ một niệm vọng tưởng mà tạo nên sơn hà đại địa, nhà cửa phòng ốc, nhiều thế giới nối tiếp nhau thành hình.

2. Chúng sanh vô tận nghiệp mang mang: Thế giới là vô biên, nhân vì có thế giới cho nên có chúng sanh. Chúng sanh là do các duyên hòa hợp mà sanh ra. Có rất nhiều thứ do nhân duyên hòa hợp mà sanh, đại khái có 4 thứ: Thai sanh, noãn sanh, thấp sanh và hóa sanh. Tại sao có thai sanh? Thai nhân nơi tình mà có, là vì có thứ ái tình, nhân đó mà có sanh mạng mới. Noãn nhân tưởng mà sanh, đó là do tư tưởng mà thành hình. Thấp sanh là nương nơi ẩm ướt mà sanh, ở nơi chỗ có khí ẩm ướt cũng có thể sanh ra. Hóa sanh tức là biến hóa mà sanh ra, đó là sanh mạng tự nhiên biến hóa mà sanh ra chứ không nương vào duyên của cha mẹ. Nói kỹ hơn, có 12 loại chúng sanh; ngoài bốn loại trên còn có 8 loại là: Có sắc, không sắc, có tưởng, không tưởng, chẳng phải có sắc, chẳng phải không sắc, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng. Chúng sanh nhiều như vậy là do từ đâu đến? Chúng sanh là từ Phật tánh mà đến. Vì thế mới nói: "Tất cả chúng sanh đều có Phật tánh, đều có thể làm Phật". Nhưng chẳng phải là nói chúng sanh là Phật, rồi không tu hành mà vẫn thành Phật. Nhất định phải dụng công tu hành tham thiền, học Phật pháp... mới có thể phản bổn hoàn nguyên, mới thành Phật được; không phải nói chúng sanh hiện tại chính là Phật rồi mà chẳng cần phải tu hành. Hiểu một cách đơn giản như thế chính là một thứ tà tri tà kiến! Chúng ta cần phải tu hành học Phật pháp, y giáo phụng hành mới có thể thành Phật được. Cho nên mới nói chúng sanh là từ Phật tánh mà ra.

3. Ái hà vô để lãng thao thao: Ái hà là chỉ tình yêu nam nữ; chẳng những ở nhân loại, mà ngay cả dị loại như súc sanh cũng chấp mê không ngộ vì chữ "yêu" này, nhất là súc sanh lại không rõ đạo lý, cho nên tâm dâm dục của chúng nặng phi thường; từng giờ từng khắc chúng đều nghĩ tưởng đến việc dâm dục. Nếu có thể sanh tâm quả dục, thanh tịnh tâm mình, cắt bỏ ái dục thì cách việc thành Phật không xa. "ái hà" này thật không có đáy, càng chìm càng sâu, càng sâu càng chìm xuống nữa, nên nói là "vô để" (không có đáy). "Lãng thao thao" là thứ sóng dập dồn liên miên không dứt cũng như sóng nước vậy. Tại sao biển lại có sóng? Bởi vì trong tâm chúng sanh có sóng. Trong tâm chúng sanh có sóng là vì ái hà có sóng. Tâm ái này muốn bứt cũng bứt không đứt; dùng dao bén muốn chặt đứt tình ái cũng không dễ gì. Nhưng nếu bạn có trí huệ chân chánh thì giải quyết vấn đề này không khó, ấy gọi là "Gươm trí huệ chém đứt dây tình ái". Người không có trí huệ thì rớt trong biển ái, càng quậy càng sâu. Chìm xuống đâu? Vì nó không có đáy, càng cựa quậy càng chìm sâu, càng sâu càng quậy càng chìm xuống thấp. Nói tóm lại, không có lúc nào kết thúc cho nên gọi là Vô Tận ý.

Do ba ý đó nên Bồ Tát Vô Tận ý muốn biến vô lượng thế giới thành thế giới Cực Lạc, muốn giáo hóa vô tận chúng sanh đều được thành Phật, và muốn lấp ái hà không đáy kia thành bằng phẳng. Cho nên Bồ Tát này gọi là Vô Tận ý.

Bồ Tát là nói gọn, nói đủ là Bồ-đề Tát-đỏa, và là tiếng Phạn. Theo nghĩa Trung Quốc thì "Bồ" là giác, "Tát" là tình. Bồ-đề là giác đạo, Tát-đỏa là hữu tình, cũng là ý nghĩa dùng đạo lý giác ngộ để giác ngộ tất cả hữu tình. Dùng đạo lý tự giác này để giác ngộ tất cả chúng sanh. Chính mình được khai ngộ, rồi muốn tìm cách dạy bảo mọi người cùng khai ngộ, ấy gọi là tự giác, giác tha. Bồ Tát từ đâu đến? Bồ Tát là từ chúng sanh mà đến. Bồ Tát trước kia cũng là chúng sanh, cũng đủ tất cả tánh chúng sanh như chúng ta hiện nay, không có gì khác cả. Nhưng các ngài là những bậc giác ngộ trong chúng sanh, là những bậc giác ngộ trong hữu tình, còn chúng ta đây lại là kẻ mê muội trong chúng sanh, hãy còn chưa giác ngộ. Nếu như hôm nay bạn giác ngộ thì bạn là Bồ Tát, ngày mai bạn giác ngộ thì ngày mai bạn là Bồ Tát. Mà giác ngộ cái gì? Giác ngộ cái vô minh. Nếu bạn biêt vô minh từ đâu đến và có thể phá trừ được nó, đó là "giác" đấy. Nếu không phá được vô minh thì là "bất giác". Phá được vô minh thì Pháp tánh cũng tự hiện bày, ái hà cũng khô cạn; ái hà khô cạn thì trí huệ hiện tiền. Ðó là giác ngộ đấy. Bồ Tát là bậc giác ngộ chúng hữu tình, mà cũng là kẻ hữu tình đã giác ngộ, hai nghĩa đều dùng được. Bồ Tát còn gọi là chúng sanh "đại đạo tâm", vì đạo tâm của các ngài rất lớn; và còn gọi là Khai sĩ, vì các ngài có thể khai mở những ngu si của chúng sanh để hiển hiện Phật tánh sẵn có.

"Liền từ chỗ ngồi đứng dậy": Ở hội Pháp Hoa, Vô Tận ý Bồ Tát nghe Phật nói phẩm Diệu Âm Bồ Tát Bổn Sự xong, liền đứng dậy khỏi chỗ ngồi của mình. Tại sao phải đứng dậy? Bất luận ở trong một hội trường lớn nào, khi bạn muốn nói cần phải đứng dậy trước đã, chớ không thể ngồi tại chỗ rồi đưa tay lên hỏi. Như vậy là quá tùy tiện! Lúc ấy ngài Vô Tận ý Bồ Tát muốn nói, nên Ngài chẳng những đứng dậy mà còn "trịch áo bày vai phải" nữa. Tại sao phải để lộ vai phải? Ðó là để biểu lộ sự cung kính của thân nghiệp.

"Chắp tay hướng về Ðức Phật": Tiếp theo, ngài Vô Tận ý chắp hai tay lại, "mà thưa rằng": Nói với Phật như thế này.

Câu "Lúc bấy giờ ngài Vô Tận ý Bồ Tát liền từ chỗ ngồi đứng dậy, trịch áo bày vai phải, chắp tay hướng về Ðức Phật mà thưa rằng" là Tôn giả A Nan thêm vào khi kiết tập kinh điển. Câu này dùng để miêu tả nhân duyên của pháp hội. Bắt đầu từ "Bạch đức Thế Tôn" là lời của Bồ Tát Vô Tận ý.

Bồ Tát Vô Tận ý thưa một tiếng "Bạch Ðức Thế Tôn". Thế Tôn là bậc tôn quý của thế gian và xuất thế gian. Thế gian và xuất thế gian đều tôn kính Ngài.

"Bồ Tát Quán Thế Âm do nhân duyên gì mà có tên là Quán Thế Âm?" Bồ Tát Vô Tận ý sau khi thưa một tiếng "Bạch Thế Tôn" rồi, nói: "Bồ Tát Quán Thế Âm có sức oai thần to lớn như thế, có nguyện lực từ bi to lớn như thế - Ngài có thể cứu được 7 nạn, giải 3 độc, ứng 2 thứ mong cầu, ban cho 14 sự vô úy, có 19 cách thuyết pháp, 32 ứng thân - do nhân duyên gì mà gọi là Quán Thế Âm?" "Do nhân duyên gì", cũng chính là thưa hỏi về Bồ Tát Quán Thế Âm trong quá khứ đã tu pháp môn gì mà tên của Ngài là "Quán Thế Âm"? Ðây là vấn đề mà Bồ Tát Vô Tận ý đem thưa hỏi với Phật.

(còn tiếp)


Trở về trang nhà | Về đầu trang