Đại Bi Chú Cú Giải

Chú Ðại Bi bao gồm 84 câu và đã được Lão Hòa Thượng lượcgiải; chúng tôi sẽ lần lượt đăng lên báo với ước nguyện rằng nhiều người sẽ nhận chân Chú Ðại Bi. Hiện tại là thời kỳ "đấu tranh kiên cố", thế giới không an lành, đầy hiểm họa chiến tranh & tai ách, ngưỡng mong nhiều người hơn, nhất là những người con Phật, phát tâm trì tụng Chú Ðại Bi cầu nguyện cho thế giới được an lành, cho người người được an lạc. Ngưỡng nguyện chú lực sẽ vãn hồi kiếp vận và khai phát lòng từ bi sẳn có của mỗi chúng ta.

bdh

(tiếp theo)

 

6. Ma Ha Ca Lô Ni Ca Da

"Ma Ha" như trên đã giảng.

"Ca Lô" nghĩa là "Bi"

"Ni Ca" nghĩa là "Tâm"

Hợp nghĩa lại "Ma Ha Ca Lô Ni Ca" là "Ðại Bi Tâm".

"Da" vẫn nghĩa là "Ðảnh Lễ"

Cả câu trên có nghĩa là, chúng ta cần phải Ðảnh Lễ Thần chú Ðại Bi Tâm Ðà La Ni.

 

7. Án

Chữ "Án" này có thể dịch là "Bổn Mẫu"; Bổn là gốc rễ, Mẫu là mẹ ruột. Chữ "Bổn Mẫu" này cũng tức là "Chú Mẫu", Chú Mẫu cũng tức là "Phật Mẫu". Phật Mẫu nghĩa là mẹ của nguồn Tâm trong tất cả chúng sanh. Bởi vì Tâm của chúng sanh vốn là mẹ ruột của trí huệ. Vì năng lực của chú này có thể phát sanh ra mười loại pháp môn. Mười loại pháp môn đó là:

  1. Thứ nhất là "Tự" (đầu nguồn của mọi chủng tự).

  2. Thứ hai là "Cú" trong Kinh điển hoặc Thần chú, một chữ này là một câu.

  3. Thứ ba là "Quán" là quán xét, bạn dùng nó để Quán sát mà tu hành.

  4. Thứ tư nghĩa là "Trí" là Trí huệ, lấy kiếm Trí huệ chặt đứt mọi phiền não. Trí tức là Bát Nhã Ba La Mật Môn. Quán tức là Thiền Ba La Mật Môn.

  5. Thứ năm là "Hành", nghĩa là tu hành, hành trì, là nương theo pháp môn này để tu hành.

  6. Thứ sáu là "Nguyện", bạn cần phải phát Nguyện và nương theo pháp môn ấy để tu hành.

  7. Thứ bảy là "Y Giáo Tu Hành" nghĩa là nương theo lời dạy của Phật mà tu hành. Nếu bạn không nương theo lời Phật dạy để tu hành, thì dẫu bạn tu hành đến trần sa kiếp, nghĩa là số kiếp như số bụi trần cũng giống như nấu cát mà muốn thành cơm vậy. Nhưng nếu bạn muốn nương theo lời Phật dạy mà tu hành, thì hẳn nhiên bạn phải tham cứu giáo lý một cách tường tận.

  8. Thứ tám là "Lý" nghĩa là "Ðạo lý" nếu bạn hội nhập được Diệu lý Phật Pháp, thì bạn mới minh thị được nó. Nếu bạn không khế hội được Diệu lý ấy thì bạn chỉ tu luyện trong sự mù quáng, và dẫu tu trì đến bao lâu đi nữa cũng chẳng đến đâu và sẽ không gặt hái được ích lợi gì.

  9. Thứ chín là "Nhân", hẳn nhiên bạn cần phải trồng nhân tốt. Nếu như quá khứ bạn trồng thiệân nhân, thắng nhân hoặc thanh tịnh nhân, thì tương lai sẽ gặt hái được kết quả tương ứng như thế.

  10. Thứ mười là "Quả" là gặt hái được một Diệu quả, gặt hái được một Thánh quả và thành tựu một Giác Quả cứu cánh.

Do một chữ "Án" này mà phát xuất ra mười Diệu pháp pháp môn. Vì vậy, lúc chúng ta niệm Chú Ðại Bi, một khi niệm đến chữ "Án" thì tất cả quỷ thần đều phải chấp tay cung kính một mực không dám có chút giải đãi, không dám có chút qua loa khinh suất để lắng nghe. Vì vậy, lúc bạn tụng Chú Ðại Bi đến chữ "Án" này thì bất kể ác thần, ác quỷ, ác phong hay gì gì đi nữa cũng phải giữ quy cũ, phải theo giới luật . Công năng của nó to lớn đến vậy. Ðúng là thần lực thật khó lường!

 

8. Tát Bàn Ra Phạt Duệ

"Tát Bàn Ra" dịch là "Tự Tại" lúc bạn trì tụng câu chú này thì Tứ Ðại Thiên Vương đều đến làm Hộ Pháp.

"Phạt Duệ" nghĩa là "Thế Tôn" cũng gọi là "Thánh Tôn". Cả câu này nghĩa là Tự Tại Thế Tôn hay Tự Tại Thánh Tôn cũng tức là Tự Tại Phật. Câu chú này đề cập đến Phật Bảo.

 

9. Số Ðát Na Ðát Tả

Chữ "Số" (có hai âm là Shù và Shuò) thường người ta niệm đọc là "Shù", âm Hán việt là "Thúc" thì không đúng, nên niệm là "Shuò", âm Hán việt là "Sóc"

"Số Ðát Na" nghĩa là "Pháp", đó là pháp gì? Pháp này còn gọi là "Diệu Thắng Xứ ", cũng tức là "Diệu Thắng Pháp"; cũng còn gọi là "Cao Thượng Thắng Sanh". Chữ "Cao" này có nghĩa là không còn gì cao hơn thế nữa. "Thượng" cũng có nghĩa là không có gì vượt lên trên pháp ấy nữa. "Thắng Sanh" tức là do pháp ấy mà xuất sanh ra năng lực thù thắng. Ðó là một cách dịch của chữ Pháp.

Lại có một cách dịch nghĩa của chữ Pháp nữa là "Diệu Thắng" hay là "Thắng Thân". Diệu Thắng tức là vượt lên trên mọi sự vi diệu, Thắng Thân cũng là một nghĩa khác của chữ Pháp.

Lại có một nghĩa khác của chữ Pháp dịch là "Tối Thượng Thừa Ðịa", nghĩa là sau khi đạt đến Thập Ðịa, Hành giả sẽ qua đến cảnh giới "Tối Thượng Thừa Ðịa" này.

Câu "Tát Bàn Ra" nghĩa là Phật Bảo.

"Số Ðát Na" là Pháp Bảo.

"Ðát Tả" là Tăng Bảo.

Ở đây đang đề cập về Tam Bảo. Tức là cung thỉnh Tam Bảo đến chứng minh và hộ trì cho Hành giả. Cho nên ai trì niệm câu chú này tức là ngưỡng nguyện thỉnh cầu Tam Bảo lai lâm và hộ trì cho!

"Ðát Tả" cũng tức là dùng lời dạy về đạo lý để giáo chỉ cho tất cả các quỷ thần, đồng thời còn dùng câu chú ấy để kêu gọi tất cả quỷ thần đến để huấn thị, có hai ý nghĩa như thế.

(còn tiếp)

Return to homepage | Top of page