Vietnamese|English


Lược Giảng Kinh Kim Cang Bát-Nhã Ba-La-Mật 

Hòa Thượng Tuyên Hóa

tại Phật Giáo Giảng Ðường, San Francisco từ tháng 11 năm 1968 đến tháng 4 năm 1969.

(tiếp theo)

đoạn chín:

nhất tướng vô tướng

Tu Bồ Ðề, ư ý vân hà? Tu Ðà Hoàn năng tác thị niệm: ngã đắc Tu Ðà Hoàn quả phủ? Tu Bồ Ðề ngôn: Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tu Ðà Hoàn danh vi nhập lưu, nhi vô sở nhập, bất nhập sắc thanh hương vị xúc pháp, thị danh Tu Ðà Hoàn. Tu Bồ Ðề, ư ý vân hà? Tư Ðà Hàm năng tác thị niệm: ngã đắc Tư Ðà Hàm quả phủ? Tu Bồ Ðề ngôn: Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Tư Ðà Hàm danh Nhất vãng lai, nhi thật vô vãng lai, thị danh Tư Ðà Hàm. Tu Bồ Ðề, ư ý vân hà? A Na Hàm năng tác thị niệm: Ngã đắc A Na Hàm quả phủ? Tu Bồ Ðề ngôn: Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? A Na Hàm danh vi Bất lai, nhi thật vô Bất lai, thị cố danh A Na Hàm. Tu Bồ Ðề, ư ý vân hà? A La Hán năng tác thị niệm: Ngã đắc A La Hán đạo phủ? Tu Bồ Ðề ngôn: Phất dã, Thế Tôn! Hà dĩ cố? Thật vô hữu pháp danh A La Hán. Thế Tôn! Nhược A La Hán tác thị niệm: ngã đắc A La Hán đạo, tức vi trước ngã, nhơn, chúng sanh, thọ giả. Thế Tôn! Phật thuyết ngã đắc vô tránh tam muội, nhân trung tối vi đệ nhất, thị đệ nhất ly dục A La Hán. Thế Tôn! ngã bất tác thị niệm: ngã thị ly dục A La Hán. Thế Tôn! Ngã Nhược tác thị niệm: ngã đắc A La Hán đạo, Thế Tôn tắc bất thuyết Tu Bồ Ðề thị nhạo A Lan Na hạnh giả. Dĩ Tu Bồ Ðề thật vô sở hành, nhi danh Tu Bồ Ðề thị nhạo A Lan Na hạnh.

Tu-bồ-đề! Ý ông thế nào? Tu-đà-hoàn có thể khởi ý nghĩ rằng ta đắc quả Tu-đà-hoàn chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Thưa không, Thế-tôn! Tại vì sao? Vì Tu-đà-hoàn gọi là Nhập Lưu, mà không nhập vào đâu. Chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên gọi là Tu-đà-hoàn.

Tu-bồ-đề! Ý ông thế nào? Tư-đà-hàm có thể khởi ý nghĩ rằng: Ta đắc quả Tư-đà-hàm chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Thưa không, Thế-tôn! Tại vì sao? Vì Tư-đà-hàm gọi là Nhất Vãng Lai, mà thật chẳng vãng lai, nên gọi là Tư-đà-hàm.

Tu-bồ-đề! Ý ông thế nào? A-na-hàm có thể khởi ý nghĩ rằng: Ta đắc quả A-na-hàm chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Thưa không, Thế-tôn! Tại vì sao? Vì A-na-hàm gọi là Bất Lai, nhưng thật ra chẳng có bất lai, nên gọi là A-na-hàm.

Tu-bồ-đề! Ý ông thế nào? A-la-hán có thể khởi ý nghĩ rằng "ta đắc đạo A-la-hán chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Thưa không, Thế-tôn! Tại vì sao? Vì thật chẳng có pháp gọi là A-la-hán.

Thế-tôn! Nếu A-la-hán nghĩ rằng: Ta đắc đạo A-la-hán, tức là chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

Thế-tôn! Phật nói con đắc Vô-tránh tam-muội, là bậc nhất trong hàng người, là bực A-la-hán ly dục bậc nhất.

Thế-tôn! Con không khởi lên ý nghĩ: Con là A-la-hán ly dục. Thế-tôn! Nếu con khởi ý nghĩ rằng con đắc đạo A-la-hán, thì Thế-tôn đã chẳng nói Tu-bồ-đề là một người ưa hạnh A-lan-na. Vì Tu-bồ-đề vốn thật ra không có làm gì nên mới gọi Tu-bồ-đề là ưa hạnh A-lan-na.

Lược giải:

Tu-bồ-đề! Ý ông thế nào? Tu-đà-hoàn có thể khởi ý nghĩ rằng 'ta đắc quả Tu-đà-hoàn' chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Thưa không, Thế-tôn! Tại vì sao? Vì Tu-đà-hoàn gọi là Nhập Lưu, mà không nhập vào đâu, chẳng nhập sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, nên gọi là Tu-đà-hoàn.

Phật e rằng có một số vẫn chưa hiểu thật minh bạch ý nghĩa của thực tướng bát-nhã, nên Ðức Phật lại đem những thí dụ ra hỏi ông Tu-bồ-đề.

Phật hỏi: "Ý ông nghĩ sao? Bậc thánh sơ quả là Tu-đà-hoàn có thể nẩy ra ý tưởng rằng 'ta đã chứng được sơ quả' chăng?"

Tu-đà-hoàn chứng được sơ quả A-la-hán, là quả vị đầu tiên của Tiểu thừa, gọi là quả vị 'thấy đạo'. Chứng được quả này tức là đã phá được 88 phẩm kiến hoặc của tam giới (dục giới, sắc giới, vô sắc giới), dùng 16 tâm đoạn trừ những cái thấy sai lầm. Kiến hoặc là thấy một cách sai lầm, tức 'đối cảnh sinh tâm tham ái,' sanh khởi tâm ham muốn, tham chấp khi tiếp xúc với cảnh. Kiến hoặc có tất cả 88 phẩm, và cách đoạn trừ là lấy 16 tâm ra để đối trị. Mười sáu tâm này lại chia ra thành tám nhẫn và tám trí.

Tám nhẫn:

1. Khổ pháp nhẫn,

2. Tập pháp nhẫn,

3. Diệt pháp nhẫn,

4. Ðạo pháp nhẫn,

5. Khổ loại nhẫn,

6. Tập loại nhẫn,

7. Diệt loại nhẫn,

8. Ðạo loại nhẫn.

Tám trí:

1. Khổ pháp trí,

2. Tập pháp trí,

3. Diệt pháp trí,

4. Ðạo pháp trí,

5. Khổ loại trí,

6. Tập loại trí,

7. Diệt loại trí,

8. Ðạo loại trí.

Tám nhẫn, tám trí là pháp Tứ đế (Khổ, Tập, Diệt, Ðạo). Lấy tám nhẫn để đoạn trừ kiến hoặc của tam giới. Khi đoạn trừ xong, dụng tâm quán chiếu, soi sáng, biến thành tám trí. Tám nhẫn là Ðạo vô gián, tám trí là Ðạo giải thoát. Nhẫn là nhân của trí, trí là quả của nhẫn, trí và nhẫn hợp lại thành 16 tâm.

Ðạt được quả vị đầu tiên này, tức là dùng tám nhẫn và tám trí để đoạn trừ kiến hoặc của tam giới. Ðoạn trừ được tâm thứ 15, là Ðạo loại nhẫn, thì gọi là Hướng sơ quả (còn gọi là Ðạo vô gián). Ðoạn được tâm thứ 16, là Ðạo loại trí, thì gọi là Chứng sơ quả (còn gọi là Ðạo giải thoát).

Tại sao gọi là quả? Giống như hoa trái kết lại thành quả, nhưng quả này chưa chín, đợi đến khi chín, thâu hoạch được, lúc đó mới gọi là đạo, cho nên sơ quả thì gọi là quả, nhị quả, tam quả cũng gọi là quả, đến quả vị thứ tư thì mới gọi là đạo A-la-hán. Quả vị A-la-hán là quả đã thành thục, sơ quả gọi là quả 'thấy đạo,' nhị quả, tam quả đều gọi là quả 'tu đạo,' tứ quả gọi là quả 'vô học.'

Tu-đà-hoàn là âm của tiếng Phạn, có nghĩa là 'nhập lưu.' Nhập lưu là gì? Nhập lưu là "ngược lại với dòng lục trần của phàm phu, nhập vào dòng pháp tánh của bậc thánh," nhập vào cảnh giới của bậc thánh Tiểu thừa. Lưu nghĩa là loại, một loại hạng, đây là hạng thánh nhân.

Phật hỏi ông Tu-bồ-đề như sau: "Tu-bồ-đề! Khi chứng được sơ quả của hàng thánh tiểu thừa, người đó có thể nghĩ rằng 'A! Ta đã chứng được quả Tu-đà-hoàn' chăng?"

Ông Tu-bồ-đề đáp: "Không thể được. Người đó không nên nghĩ như vậy. Tại sao? Bởi vì cái quả vị Tu-đà-hoàn đó, gọi là 'nhập lưu,' nhưng chẳng có chỗ nhập. Kêu người đó là 'nhập lưu,' nhưng thật không nhập vào đâu. Y không bị các thứ sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp xoay chuyển (lôi cuốn), đối với sáu trần không còn chấp trước, bởi vậy nên được sơ quả. Gọi quả này là 'nhập lưu,' chẳng qua đó chỉ là cái tên, mà tên thì chẳng có thực thể, do đó người ấy không nên có ý tưởng rằng ta đã đạt được quả vị Tu-đà-hoàn. Ý tưởng này không nên có."

Tu-bồ-đề! Ý ông thế nào? Tư-đà-hàm có thể khởi ý nghĩ rằng 'ta đắc quả Tư-đà-hàm' chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Thưa không, Thế-tôn! Tại vì sao? Vì Tư-đà-hàm gọi là Nhất Vãng Lai, mà thật chẳng có vãng lai, nên gọi là Tư-đà-hàm.

Phật đã nêu xong thí dụ về trường hợp Tu-đà-hoàn, vẫn e ngại mọi người có thể nghĩ rằng sơ quả và nhị quả có thể khác nhau, và người đạt được sơ quả không nên nghĩ như trên, nhưng biết đâu người đạt được nhị quả có thể nghĩ như vậy được, Phật bèn hỏi tiếp ông Tu-bồ-đề: "Ý ông nghĩ như thế nào? Người được sơ quả, còn phải chịu bảy phen sanh tử nữa, còn phải trở về thế gian bảy lần nữa, còn người đạt được nhị quả, chỉ đi về một lần, một lần sanh lên thiên, và một lần về cõi thế gian. Những vị Tư-đà hàm này, có thể khởi lên ý nghĩ rằng 'ta đã chứng quả vị Tư-đà-hàm' chăng?"

Tu-bồ-đề giảng như sau: Không thể được, tại sao? Tư-đà-hàm là người đã đoạn trừ được sáu phẩm đầu về tư hoặc của dục giới, có danh xưng là "nhất vãng lai," tuy gọi là "một lần đi lại," mà thật không có đi lại. Các Ngài hoặc có thể chịu một phen sanh tử, hay cũng có thể tiến thẳng lên, chứng được tam quả, không cần một phen trở lại thế gian. Nhị quả chỉ là tên gọi, chẳng có thực thể, chẳng thể nói là tự mình được một cái gì.

Tu-bồ-đề! Ý ông thế nào? A-na-hàm có thể khởi ý nghĩ rằng "ta đắc quả A-na-hàm" chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Thưa không, Thế-tôn! Tại sao? A-na-hàm gọi là Bất lai, nhưng thật ra không có bất lai, nên gọi là A-na-hàm.

Phật lại hỏi tiếp ông Tu-bồ-đề: "Ý ông nghĩ sao? A-na-hàm là bậc thánh quả thứ ba, có thể nghĩ rằng mình đã chứng được quả A-na-hàm chăng?" Ông Tu-bồ-đề lại hồi đáp: "Không thể được, Thế-tôn! Tại sao? A-na-hàm có danh xưng là 'bất lai,' là bậc thánh đạt quả vị thứ ba, vì đã đoạn trừ được ba phẩm sau về tư hoặc, nên không còn chịu cảnh sanh tử ở dục giới, và trụ tại cõi tứ thiền bất-hoàn-thiên của sắc giới, vì vậy nên gọi là 'bất lai.' Tuy gọi là bất lai, tức chẳng trở lại, nhưng chẳng bất lai, vì cái danh xưng 'bất lai' đó chỉ là hư danh, không có thực thể. Bởi lẽ đó, vị A-na-hàm không thể khởi lên ý nghĩ rằng mình đã chứng được quả vị thứ ba này."

Tu-bồ-đề! Ý ông thế nào? A-la-hán có thể khởi ý nghĩ rằng Ổta đắc đạo A-la-hánỖ chăng?

Tu-bồ-đề đáp: Thưa không, Thế-tôn! Tại sao? Vì thật chẳng có pháp gọi là A-la-hán.

Phật hỏi tiếp ông Tu-bồ-đề: "Tu-bồ-đề! Ý ông nghĩ như thế nào? Vị thánh nhân chứng A-la-hán, quả vị thánh thứ tư, có thể nghĩ rằng mình đã chứng A-la-hán chăng?"

A-la-hán là âm của một danh từ Phạn, có ba nghĩa: ứng cúng, sát tặc, vô sanh. Ứng cúng là xứng đáng được trời và người cúng dường. Tỳ-kheo là nhân của A-la-hán. A-la-hán là quả của Tỳ-kheo. Khi gieo nhân thì vị đó là "khất sĩ," đi các nơi ngửa bát xin ăn, lúc được quả thì được "ứng cúng," đáng được người và trời cúng dường. Thời kỳ nhân thì gọi là "bố ma," lúc đắc quả thì gọi là "sát tặc." Khi làm tỳ kheo, là thời gian "phá ác," đắc quả thì gọi là "vô sanh."

Gọi là "sát tặc," thì ở đây giết giặc nào? Ðó là giết giặc phiền não. Trong hệ thống Tiểu thừa, La-hán chỉ có giết giặc phiền não. Trong đạo Bồ-tát thì chẳng những phải giết giặc, mà còn phải giết cả cái chẳng phải giặc nữa. Tại sao không phải giặc mà cũng giết? Bởi vì, đối với trình độ của La-hán, có những cái không phải là giặc, nhưng đến quả vị Bồ tát thì lại biến thành giặc. Giặc đây là những gì? Ðó là giặc vô minh. Làm sao vô minh lại biến thành giặc? Bởi lẽ tất cả các phiền não đều do vô minh mà ra. La-hán tuy chứng được quả vô học, nhưng La-hán vẫn còn vô minh. Hơn nữa, chẳng riêng gì La-hán còn vô minh, đến các vị Bồ-tát Ðẳng giác cũng hãy còn một phần tối hậu là sanh tướng vô minh, vẫn chưa phá được. Bởi thế cho nên, phần này đối với cương vị La-hán không phải là giặc, nhưng đối trước Bồ-tát thì chính là một thứ giặc lớn. Cho nên mới nói là Bồ-tát phải giết cả cái chẳng phải giặc. A-la-hán đã đoạn trừ 72 phẩm tư hoặc của sắc giới, và vô sắc giới, cũng đã đoạn trừ "phần đoạn sanh tử," nhưng "biến dịch sanh tử" thì chưa đoạn trừ xong.

Về câu hỏi "La-hán có thể nghĩ rằng mình đã chứng đạo La-hán chăng?" Tu-bồ-đề nói như sau: "Không thể được." Tại sao? Bởi vì tuy đã chứng quả vị A-la-hán, nhưng chẳng qua đó chỉ là danh xưng, thật tình chẳng có gì là thực thể có thể chứng đắc. Vả lại, không phải chỉ nói riêng quả A-la-hán, nói hẳn là khi thành Phật cũng không thể bảo rằng mình đã thành Phật. Chẳng có hình tướng của pháp nào gọi là A-la-hán, A-la-hán chỉ là một hư danh mà thôi. Nếu quí vị nhận là có, thì đó là một thứ chấp pháp, chưa tới trình độ pháp không.

Trong phần trên, khi nói các quả vị như sơ quả Tu-đà-hoàn, nhị quả Tư-đà-hàm, tam quả A-na-hàm, người ta đều dùng chữ "quả," tại sao đến quả vị thứ tư, lại dùng chữ "đạo"? Ðạo thật ra cũng là quả, có điều ở trên nói rằng quả cũng giống như thảo mộc đâm bông, kết thành trái. Quả mới có chưa chín, khi nào chín, thành thục, có thể thâu hoạch được, lúc đó gọi là đạo.

Thế-tôn! Nếu A-la-hán nghĩ rằng 'ta đắc đạo A-la-hán,' tức là chấp ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả.

Ông Tu-bồ-đề lại bạch Phật: "Giả thử vị A-la-hán có ý tưởng rằng mình chứng được quả A-la-hán, thì điều đó chứng tỏ vị này chưa chứng được ngã không và pháp không. Vị đó nghĩ rằng mình chứng được quả A-la-hán, tức còn ngã tướng, mà có ngã tướng ắt nẩy sanh nhân tướng. Rồi nhân ngã đối đãi với nhau, sẽ biến thành chúng sanh tướng, mà có chúng sanh tướng ắt có thọ giả tướng, vậy là chấp cả bốn tướng."

Thế-tôn! Phật nói con đắc Vô-tránh tam-muội là bậc nhất trong hàng người, là bực A-la-hán ly dục bậc nhất.

Ông Tu-bồ-đề nói tiếp:

"Phật nói con đắc vô tránh tam muội. . ."

Tranh biện tức là một loại tâm đấu tranh.

Lục tổ nói:

"Tranh là tâm được, thua,
Ði ngược lại với đạo,
Hay sanh ra bốn tướng,
Làm sao được tam-muội?"

Vì cớ gì muốn tranh? Vì muốn tranh hơn thua, anh thua, tôi được, hoặc giả tôi thua, anh được. Tu hành thì không nên ăn thua, không nên cãi vã, ai nhất, ai nhì. Người tu hành phải giống như nước, nước cần cho mọi vật mà chẳng tranh. Cây cối, cỏ hoa, tất cả đều phải nhờ có nước mà sống, không có nước thì chết. Nước là tốt như vậy mà nước không hề tranh công, ngược lại còn chịu ở nơi thấp nhất, không muốn lên cao. Người ta thì ai cũng muốn có địa vị cao, không muốn đi xuống địa vị thấp. Nước thì không phải thế, bằng lòng với chỗ thấp, do đó hợp với đạo. Cho nên Lão tử nói: "Nước làm lợi cho vạn vật mà không tranh, ở chỗ mà mọi người không ưa thích, nên nước gần như đạo" (Thủy thiện lợi vạn vật nhi bất tranh, xứ chúng nhân chi sở ố, cố cơ ư đạo).

Nói tới Lão-tử, quý vị có biết Lão-tử là ai không? Kiếp trước của Lão-tử là Ma-ha Ca-diếp. Sau khi Phật giáng thế, Ngài biết chúng sanh ở Trung quốc đã từng gây ra nhiều nghiệp tội, không chịu y pháp tu hành, cho nên mới phái Lão-tử, Khổng-tử và Nhan-Hồi đến Trung Hoa trước để giáo hóa chúng sanh. Lão-tử chính là Ma-ha Ca-diếp hóa thân, còn Khổng-tử và Nhan-Hồi cũng đều là các vị Bồ-tát hóa thân cả. Lão-tử đề xướng pháp vô vi ở Trung Hoa. Người ta phải hiểu vô vi rồi sau đó mới có thể học tới đạo vô bất vi, là đạo lý của Phật-giáo. Phật-giáo chủ trương "vô vi nhi vô bất vi, tức thị trung đạo."

Lại nói nghĩa của "tránh," đó là tâm thua được, tâm tranh hơn, biện thắng, ngược với lẽ đạo. Lý do là một khi có tâm tranh, tức có bốn tướng, nhân, ngã, chúng sanh, thọ giả. Như vậy sao có thể chứng được tam muội - tức là chánh định, chánh thọ.

Vô tránh tam-muội nghĩa là không có tâm thua được, không có tâm tranh chấp. Ðức Phật thường nói ông Tu-bồ-đề đã chứng được vô tránh tam-muội, liệt vào hàng đầu đối với hàng người, cũng là hạng nhất trong hàng A-la-hán ly dục. Ly dục là lìa được các tham dục về ăn, lòng tham về mặc, lòng tham ở nơi tốt; tóm lại, lìa được tất cả mọi dục vọng, khiến tâm được trong sáng.

Thế-tôn! Con không khởi lên ý nghĩ con là A-la-hán ly dục. Thế-tôn! Nếu con khởi ý nghĩ rằng con đắc đạo A-la-hán, thì Thế-tôn đã chẳng nói Tu-bồ-đề là một người ưa hạnh a-lan-na. Vì Tu-bồ-đề vốn thật ra không có làm gì nên mới gọi Tu-bồ-đề là ưa hạnh a-lan-na."

Ngài Tu-bồ-đề bạch Phật: "Bạch Thế-tôn! Con không nghĩ rằng con chứng được vô tránh tam-muội, không khởi niệm rằng: Ổcon đạt được quả A-la-hán, đối với người con đứng hạng nhất, và cũng là hạng nhất của hàng A-la-hán ly dục." Con không hề có những ý nghĩ này, tại sao vậy? Bạch Thế-tôn! Nếu giả thử con có những ý nghĩ ấy, thì làm sao con có được sự thanh tịnh, làm sao con có thể lìa tham dục, làm sao có thể vô tranh? Nếu con có ý nghĩ Ổta đã chứng được A-la-hánỖ thì Thế-tôn đã chẳng nói Tu-bồ-đề thích tu hạnh thanh tịnh. Tại sao? Nếu có ý nghĩ đó, thì tâm chẳng có thanh tịnh rồi. Nguyên do là con thật tình chẳng có sở đắc, chẳng chấp ngã, cũng chẳng chấp pháp, cho nên Ðức Phật mới bảo con là A-la-hán ly dục đệ nhất. Nếu như con lại mang những ý nghĩ đó thì Ðức Phật đâu có thể nói như thế này: "Tu-bồ-đề là người ưa tu hạnh thanh tịnh." Ðây chẳng qua chỉ là một hư danh, không có gì là thực thể, chẳng có cái gì gọi là sở đắc cả. Tuy là đắc quả vị thứ bốn, quả A-la-hán, nhưng kỳ thực chẳng có gì sở đắc, nhìn chẳng thấy gì, lắng chẳng nghe gì, cái gì cũng không có hết."

Trên đã nói hết về các quả vị của hàng tu Tiểu thừa. Ðến đây Ðức Phật vẫn e rằng một số người còn hoài nghi, cho rằng các bậc thánh Tiểu thừa thì không nên chấp trước, nhưng đối với quả vị Phật và Bồ-tát thì điều nói trên có thể khác chăng? Vì vậy lại phải có thêm thí dụ nữa.

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà | Về đầu trang