Vietnamese|English

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Quán Thế Âm Bồ Tát Phổ Môn Phẩm

Hán dịch: Dao Tần, Tam Tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập.
Giảng Thuật: Hòa Thượng Tuyên Hóa, Vạn Phật Thánh Thành.

(tiếp theo)

Chánh văn:

Phật bảo Bồ-tát Vô Tận Ý : "Này thiện nam tử ! Nếu có vô lượng trăm ngàn vạn ức chúng sanh bị các khổ não, nghe được danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm này mà nhất tâm xưng niệm danh hiệu Ngài, thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền quán thấy tiếng kêu ấy và họ đều được giải thoát".

"Phật bảo Bồ-tát Vô Tận Ý" : Câu này là Tôn giả A Nan khi kiết tập kinh tạng y chiếu theo văn nghĩa mà viết ra. "Thiện nam tử" là tiếng Phật Thích-ca gọi Bồ-tát Vô Tận Ý. Phật bảo : "Này thiện nam tử ! Nếu có vô lượng trăm ngàn ức chúng sanh". "Nếu có", là lời giả thiết, là sẽ có mà chưa có, hiện nay chưa có, tương lai có thể sẽ có. Tương lai hoặc là có trăm ngàn vạn ức chúng sanh. Những chúng sanh này gồm có 12 loại chúng sanh : noãn, thai, thấp, hóa, có sắc, không sắc, có tưởng, chẳng phải có sắc, chẳng phải không sắc, không tưởng, chẳng phải có tưởng, chẳng phải không tưởng.

"Bị các khổ não". Chữ "Chư" có thể hiểu là đồng nghĩa với chữ "Ða", có nghĩa là nhiều, lại cũng có thể hiểu như là một trợ từ. Nếu hiểu là trợ từ thì chữ "Chư" này chỉ cho một chúng sanh thọ khổ, "Chư" cũng có thể chỉ cho rất nhiều thứ khổ não. "Chư" này không coi là ngữ trợ từ, là mỗi một chúng sanh thọ lấy thứ khổ não nào đó. Chữ "Chư" cũng để chỉ thứ khổ não mà họ phải thọ. "Thọ" là gặp phải.

Những "khổ não" này có nhiều ít ? Ðại khái có 4 thứ :

  1. Một người thọ một khổ : Như là câm, người ấy có khổ thì chính người ấy biết, cũng không thể nói cho người khác biết; đó gọi là "người câm nhai hoàng liên".

  2. Một người thọ nhiều khổ : Ví như một người đi đến bất cứ chỗ nào cũng đều gặp phải khổ não, nếu chẳng thiên tai thì cũng nhân họa, nếu chẳng bị giặc cướp thì lại bị hỏa tai. Tất cả những khổ não ở thế gian, người ấy đều nếm trải, đó gọi là "một người thọ nhiều khổ".

  3. Nhiều người thọ một khổ : Giống như Việt Nam bây giờ phát sanh ra chiến tranh, khi tác chiến, phi cơ oanh tạc, đạn pháo rầm trời, sanh linh đồ thán, thương vong vô số kể, thật là kinh khủng. Nhiều người trong một quốc gia thọ nhận một thứ khổ, đó gọi là "nhiều người thọ một khổ". Lại có một thứ nữa, như bịnh dịch lan tràn, rất nhiều người bị thứ bịnh truyền nhiễm ấy uy hiếp làm chết đi sống lại. Thứ khổ não ấy dù chưa đến chết, nhưng mắc phải tật bịnh thì đau khổ phi thường. Ðó cũng là "nhiều người thọ một khổ".

  4. Nhiều người thọ nhiều khổ : Tức là chỉ chuyên nói về một chúng sanh đó mà thôi.

Ngoài ra lại còn có rất nhiều thứ khổ não khác, nói mãi cũng không hết. Thế giới này là thế giới khổ não, chúng sanh cũng nhiều, khổ não cũng không kém, vậy thì có bao nhiêu thứ khổ não ? Thật ra, không thể nào tính đếm được, nói chung là có tám vạn bốn ngàn thứ. Thế thì khi thọ khổ phải làm sao ? Ai cũng có khổ não hết. Ðương lúc chúng ta thọ khổ, luôn luôn phải nhớ kỹ, đừng nên quên Bồ-tát Quán Thế Âm. Ðương lúc chúng ta thọ khổ thì phải nên "nghe được danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm này".

"Nghe được", ngụ ý là biết được điều mà chính mình xưa nay không biết. Người Mỹ thực sự có bao nhiêu người được nghe đến danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm ? Thử tính xem nào ? Tôi tin rằng toàn cả nước Mỹ, số người có thể nghe được danh hiệu Quán Thế Âm không đến 1% ! Quý vị nghĩ xem, biết bao nhiêu người không nghe được danh hiệu Quán Thế Âm Bồ-tát, thế mà quý vị hiện tại đang được nghe đấy ! "Nghe được" ở đây cũng có nghĩa là hiểu rõ, biết được rằng Quán Thế Âm Bồ-tát thần lực tự tại, Nhĩ căn viên thông, và có 32 Ứng thân.

"Nhất tâm xưng niệm danh hiệu" : Quan trọng là ở chữ "nhất tâm". Nhất tâm này rất là cần thiết, quý vị chớ nên nhị tâm, cũng không nên tam tâm hay tứ tâm. Tâm quý vị càng nhiều, không giống như làm việc công đức càng nhiều càng tốt đâu ! Tâm càng nhiều lại càng không tốt. Tại sao ? Vì tâm một khi nhiều thì sẽ phân tán, mà phân tán thì không chuyên nhất, không chuyên nhất thì không linh, không có công hiệu. Nếu quý vị "nhị tâm xưng niệm" danh hiệu thì sẽ không linh nghiệm, "tam tâm xưng niệm" lại càng không có tác dụng.

"Bồ-tát Quán Thế Âm" : "Quán" là quán thấy, "Thế" là thế gian, "Âm" là âm thanh. Ðó là vị Bồ-tát quán thấy tất cả âm thanh của thế gian. "Liền quán thấy tiếng kêu ấy" : Tức khắc quán xét âm thanh của chúng sanh ấy. "Ðều được giải thoát" : Bao nhiêu khổ não đều được giải thoát. Giải thoát là nghĩa không còn nữa. Không còn khổ não nữa thì thế nào ? Thì được vui vẻ. Sự giải thoát này cũng là đạt đến tự do thực sự, không còn bị bó buộc, vô ngại không ngăn cách.

Chánh văn:

"Nếu có người trì niệm danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm này, giả sử vào trong đám cháy lớn, lửa không thể đốt cháy được, ấy là nhờ sức oai thần của Bồ-tát này. Nếu có người bị nước xiết cuốn trôi mà xưng niệm danh hiệu Bồ-tát này thì liền gặp chỗ cạn".

Ðoạn văn kinh này nói về việc Bồ-tát Quán Thế Âm cứu giúp nạn lửa, nạn nước trong bảy nạn. "Nếu có người trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm" là chỉ người luôn luôn niệm danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm. "Nếu có", là bây giờ chưa có, tương lai có thể có. Giả sử có một người trì niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm. "Trì" là nắm chắc, nghĩa là không quên, cũng là tâm tâm niệm niệm đều chấp trì câu : "Nam mô Quán Thế Âm Bồ-tát". Bất cứ người nào muốn giải trừ bảy thứ khổ nạn này thì trước phải thường xuyên cung kính xưng niệm danh hiệu Bồ-tát Quán Thế Âm.

"Giả sử vào trong đám lửa lớn" : Ðây là nói bình thường quý vị vẫn niệm Bồ-tát Quán Thế Âm, chớ không phải là đợi đến khi bị vây hãm trong đám lửa lớn mới niệm danh hiệu Ngài, cũng không phải là "bây giờ mới đốt hương, bây giờ mới niệm Phật", và cũng không phải là nói hôm nay tôi có tai nạn, hôm nay tôi mới niệm Bồ-tát Quán Thế Âm. Ðó là "Bình thường chẳng thắp hương, gặp việc ôm chân Phật". Lúc rảnh, một cây hương cũng không thắp, gặp việc gấp mới chạy ôm chân Phật cầu xin cứu nạn cho. Lúc ấy dù cho quý vị ôm bắp vế của Phật, nhưng Phật cũng không có để mắt tới đâu. Tại sao thế ? Vì lúc bình thường quý vị không chịu tu hành, đến chừng gặp nạn mới cầu cứu với Phật, đó gọi là "bây giờ mới đốt hương, bây giờ mới niệm Phật". Lại còn có một hạng người, lúc bình thường cũng chưa đốt hương chưa niệm Phật, nhưng lúc có nạn gấp, Bồ-tát Quán Thế Âm cũng cứu giúp họ, khiến họ lìa khổ đượĩc vui. Thế nghĩa là sao ? Quý vị biết rằng, mỗi người chúng ta đều có nhân trước quả sau cả. Ở đời trước, có thể người ấy đã từng dũng mãnh tinh tiến tu hành, gắng sức dụng công niệm Bồ-tát Quán Thế Âm, thậm chí đã từng tạo ra các thứ công đức, đã từng gieo trồng căn lành, nên ở đời này dù người ấy không niệm mà Quán Thế Âm Bồ-tát vẫn đến cứu giúp họ. Ấy là nhờ có nhân xa mà được. Về nhân, có nhân xa mà cũng có nhân gần. Nhân xa là nhân gieo trồng từ đời trước, nhân gần là nhân gieo trồng ở đời này.

Có người nói : "Ðời trước có thể tôi đã gieo nhân rồi, bây giờ không cần phải niệm nữa. Tương lai tôi có mắc nạn, Bồ-tát Quán Thế Âm cũng sẽ đến cứu tôi". Ðiều đó không lấy gì chắc chắn. Quý vị yêu cầu tôi bảo đảm, tôi cũng không dám ! Nếu như quý vị ngay từ bây giờ bắt đầu thành tâm thành ý niệm, thì tôi có thể bảo đảm với quý vị, chắc chắn có thể được cảm ứng, tương lai nếu quý vị có tai nạn chi, Bồ-tát Quán Thế Âm nhất định sẽ đến cứu quý vị. Vì bởi quý vị không phải là "bây giờ đốt hương, bây giờ cảm ứng" thì tuyệt đối phải có cảm ứng.

Trước kia có một người nhất tâm mong muốn đi Phổ Ðà Sơn ở Nam Hải để triều bái Bồ-tát Quán Thế Âm. Nhưng mà trong thiên hạ lại có lắm chuyện trớ trêu ! Ngày ông ta lên thuyền để đi Phổ Ðà Sơn triều bái Bồ-tát Quán Thế Âm thì nhà kế bên phát hỏa. Người nhà ông ta chạy đến báo tin : "Không xong rồí ! Anh phải về mau ! Ðừng đi Phổ Ðà Sơn nữa. Nhà kế bên chúng ta bị cháy rồi, anh phải về lo thu xếp mới được".

Người ấy nói : "Tôi vì muốn triều bái Bồ-tát Quán Thế Âm mà ăn chay ba năm, bây giờ đã lên thuyền rồi. Nhà bị lửa cháy, nếu tôi xuống thuyền thì nhà phải cháy đã bị cháy rồi. Nếu không đáng cháy, nhờ sức bảo hộ của Bồ-tát, tôi không xuống thuyền nhà cũng không cháy được. Với thành tâm này, tôi đâu có thể vì nhà cháy mà không đi lễ Bồ-tát Quán Thế Âm !"

Ðối với ông ta lúc đó, nhà cháy cũng mặc kệ, chỉ quyết định nhất tâm đi lễ Bồ-tát Quán Thế Âm mà thôi. Sau khi ông ta đi triều bái Bồ-tát Quán Thế Âm ở Phổ Ðà Sơn trở về, nhìn thấy làng xóm hai bên đều trống quét vì bị lửa ngốn, chỉ còn độc ngôi nhà mình nguyên vẹn. Vì thế có người hỏi : "Tại sao mấy nhà xung quanh bị cháy hết mà nhà anh không bị cháy ?" Anh ta đáp : "Nhờ tôi thành tâm đi lễ Bồ-tát Quán Thế Âm. Khi đi, thứ gì tôi cũng mặc kệ hết, cái gì cháy cứ cháy, tôi không màng đến. Ðó là nhờ Bồ-tát Quán Thế Âm bảo hộ cho đấy ! Nhờ oai lực của Ngài cứu giúp nên nhà của tôi mới được nguyên vẹn như thế !"

Ðó là bằng chứng : "Giả sử vào trong đám lửa lớn, lửa không thể cháy được".

"Do nhờ sức oai thần của Bồ-tát này" : Tại sao lửa không thể cháy được ? Vì Bồ-tát Quán Thế Âm có oai thần lực lớn nên lửa không thể cháy được.

"Nếu bị nước xiết cuốn trôi" : Nếu bình thường quý vị niệm danh hiệu của Bồ-tát Quán Thế Âm - hoặc là trong vô ý chớ không phải muốn thử nghiệm Bồ-tát Quán Thế Âm mà đi nhảy xuống biển xem có linh nghiệm chẳng bị chìm hay không ? Nếu quý vị có ý muốn thử, không phải thật tin, thì tuyệt đối không linh nghiệm đâu. Quý vị nhảy xuống biển chắc chắn sẽ chìm ngay. Tại sao ? Tại quý vị có tâm muốn thử Bồ-tát. Bồ-tát Quán Thế Âm đâu phải học trò, quý vị cũng không phải là thầy giáo, tại sao quý vị lại muốn thử nghiệm Bồ-tát Quán Thế Âm? Tại vì quý vị không tin Bồ-tát Quán Thế Âm có những thần thông to lớn như thế nên mới thử nghiệm xem. Sự thử nghiệm đó không hề chi, nhưng đó lại là đem sinh mạng của mình làm vật hy sinh đấy ! Không nên đem sinh mạng làm trò cười, để đánh cuộc như vậy !

"Xưng danh hiệu Bồ Tát thì liền gặp chỗ cạn". Quý vị xưng niệm danh hiệu của Bồ Tát Quán Thế Âm, bất ngờ gặp được chỗ cạn. Ở trong biển lớn thì làm sao chạm được bờ? Ðó là nhờ oai lực của Bồ Tát Quán Thế Âm mới có sự cảm ứng như thế.

(còn tiếp)


Trở về trang nhà | Về đầu trang