Đại Bi Chú Cú Giải

Chú Ðại Bi bao gồm 84 câu và đã được Lão Hòa Thượng lược giải; chúng tôi sẽ lần lượt đăng lên báo với ước nguyện rằng nhiều người sẽ nhận chân Chú Ðại Bi. Hiện tại là thời kỳ "đấu tranh kiên cố", thế giới không an lành, đầy hiểm họa chiến tranh & tai ách, ngưỡng mong nhiều người hơn, nhất là những người con Phật, phát tâm trì tụng Chú Ðại Bi cầu nguyện cho thế giới được an lành, cho người người được an lạc. Ngưỡng nguyện chú lực sẽ vãn hồi kiếp vận và khai phát lòng từ bi sẳn có của mỗi chúng ta.

bdh

(tiếp theo)

 

14. tát bà a tha đậu du bằng

(Sarvadvatashubham)

Câu chú này phải chia làm ba, vì trong câu này có ba ý khác nhau.

"Tát Bà" là tiếng Phạn, ở đây dịch là "Nhất Thiết", hàm nghĩa "Nhất Thiết" này cùng một ý với hàm nghĩa "bình đẳng", vì vậy "Tát Bà" chỉ cho tâm thứ hai (của mười loại tâm) tức là "Bình Ðẳng Tâm".

"A Tha Ðậu" cũng là tiếng Phạn, dịch là "Phú Lạc Vô Bần"; Phú là giàu có, lạc là tươi vui. Vì sao giàu có mà lại tươi vui? Là vì không có sự nghèo nàn, nghèo nàn về tâm linh, về Ðạo lý, về Pháp lạc... Lại có một cách dịch nữa là "Như Ý Bất Diệt". "Như Ý" tức là bạn muốn như thế nào thì có thể như ý bạn mà thành tựu. "Bất Diệt" là việc thành tựu như ý đó vĩnh viễn không thể nào tiêu mất. Ở trong mười loại tâm thì đây là tâm thứ ba: "Vô Vi Tâm", vô vi tâm nầy tức là "Phú Lạc Vô Bần", cũng là "Như Ý Bất Diệt".

"Du Bằng" dịch là "Nghiêm Tịnh Vô Ưu"; Nghiêm là Trang nghiêm, Tịnh là Thanh tịnh, trang nghiêm mà lại còn thanh tịnh, thanh tịnh lại còn trang nghiêm, cho nên không có sự ưu não, sầu lo. Ðây là chỉ cho tâm thứ chín của mười loại tâm, tức là "Vô Kiếân Thủ Tâm". Kiến thủ là một trong năm trạng thức bị sai sử hay nô lệ gọi là Ngũ Lợi Sử. Vừa nhìn thấy (kiến) thì chớp mắt liền sanh lòng tham trước, muốn chiếm đoạt, ôm giữ (thủ).

 

15. a thệ dựng

(Ashiyum)

"A Thệ Dựng" là tiếng Phạn, được dịch nghĩa là gì? Nghĩa là "Vô Tỷ Pháp"; tức là loại pháp nầy không có pháp gì có thể sánh với nó. Lại còn gọi là "Vô Tỷ Giáo", loại giáo nầy không một Tông giáo nào so sánh được. Ðó là "Tỳ Hạ Tâm", tâm thứ bảy trong mười loại tâm đã nói, tức là tâm khiêm nhường và hiền hòa đối với mọi người ta gặp. A Thệ Dựng cũng chỉ cho tâm thứ tám, tức là "Vô Tạp Loạn Tâm". Ðây là thanh tịnh vô nhiễm Bát Nhã Tâm Pháp của Ðức Bồ Tát Quán Thế Âm.

Y theo Kinh Ðại Bi Tâm Ðà La Ni mà giảng, thì mười loại tâm nầy là tướng mạo của chú Ðại Bi. Vì vậy, chúng ta phải y chiếu theo "Kinh Ðà La Ni" để tu hành, phải nương theo "Kinh Ðà La Ni" để thành Ðạo chứng quả.

 

16. tát bà tát đá, na ma bà tát đa, na ma bà già

(Sarvasattva namo pasattva namo bhaga)

"Tát Bà Tát Ðá" là tiếng Phạn, ở đây dịch là "Ðại thân tâm Bồ Tát".

"Na Ma Bà Tát Ða" cũng là tiếng Phạn, dịch nghĩa là "Ðồng trinh khai sĩ". Sao gọi là "Ðồng trinh khai sĩ"? Ðây cũng là tên gọi khác của Pháp Vương Tử. Phật là Ðấng Pháp Vương (vua của tất cả các pháp), Bồ Tát là con của Pháp Vương. Ðồng Trinh tượng trưng cho "bản tính". Còn Khai Sĩ cũng là tên khác của Bồ tát, Bồ Tát có lúc gọi là Ðại Sĩ, có lúc gọi là Khai Sĩ. Bồ Tát vào cảnh giới Phật hay cho đến Bồ Tát Thập Ðịa cũng đều gọi là Pháp Vương Tử.

"Na Ma Bà Già" là tiếng Phạn, Hoa ngữ dịch là "Vô Ðẳng Ðẳng". Trong Tâm Kinh có nói đến "Vô Ðẳng Ðẳng Chú" phải không? Vô Ðẳng tức là không thể ngang bằng với nó. Ðó là ai? Là "Bà Già" dịch là Thế Tôn, cũng là mười phương chư Phật.

 

17. ma phạt đặc đậu

(Ma bhate tu)

"Ma Phạt Ðặc Ðậu" là tiếng Phạn, dịch là "Thiên Thân Thế Hữu". Ý của đoạn chú nầy nói về sự gia hộ của Bồ Tát cho chúng ta, rằng: Xin Bồ Tát làm người thân cõi trời (thiên thân) và bạn hữu cõi đời (thế hữu) của con để con có thể trọn nên tất cả các thiện pháp. Câu chú nầy ngưỡng cầu mười phương chư Phật, chư Bồ Tát gia hộ cho mình.

 

18. đát điệt tha

(Tadhyta)

"Ðát Ðiệt Tha" là tiếng Phạn, dịch nghĩa là gì? Trong Tâm Kinh có nói là "Tức Thuyết Chú Viết". Tức Thuyết Chú Viết là Ðát Ðiệt Tha, Ðát Ðiệt Tha là Tức Thuyết Chú Viết. "Ðát Ðiệt Tha" dịch là "Sở Vị". Ðức Quán Thế Âm Bồ Tát dùng lòng Ðại Bi mà thuyết ra chơn ngôn thần chú nầy, thuyết ra những chủng tự nầy (chủng tự Phạn Thiên), lại thuyết ra nhiều Thủ Ấn (ấn khuyết) và thuyết ra nhiều Trí Nhãn (tức là khai mở con mắt Trí Huệ cho tất cả chúng sanh). Từ đó lưu xuất ra vô số pháp môn. Nên "Ðát Ðiệt Tha" cũng ý nói là vô lượng pháp môn, vô lượng Trí nhãn, cho nên dịch là "Sở Vị".

 

19. án, a bà lô hê

(Om! Avaloka)

Chữ "Án" cũng như trên đã nói qua, lúc bạn niệm đến chữ "Án" thì hết thảy quỷ thần đều phải chấp tay cung kính, nghe bạn chỉ giáo. Chữ "Án" nầy sanh xuất ra nhiều nghĩa lý dưới đây.

"A Bà Lô Hê" là tiếng Phạn, Hoa ngữ dịch là "Quán Âm". A Bà Lô Hê là Quán Âm, Quán Âm là A Bà Lô Hê. Tôi nghĩ là A Bà Lô Hê so với nguyên bản (Phạn ngữ) Avalokite, âm nầy không sai khác gì hết.

Vì sao gọi là Quán Âm? Nghĩa là quán xét âm thanh của cõi đời. Dùng cái gì để quán? Dùng Trí Huệ để quán sát tất cả âm thanh của thế gian. Âm thanh của thế gian có rất nhiều loại, nhưng đặc biệt chỗ quán xét của Bồ Tát Quán Âm là âm thanh rên xiết quằn quại của thế gian, âm thanh bi thương đau xót của thế gian, âm thanh của tất cả chúng sanh lúc lâm nạn.

 

20. lô ca đế

(Lokate)

"Lô Ca Ðế" là tiếng Phạn, dịch là "Thế Tự Tại", lại dịch là "Thế Tôn". Hợp lại câu trên "A Bà Lô Hê Lô Ca Ðế" tức là "Quán Âm Tự Tại".

 

21. ca ra đế

(Kalati)

"Ca Ra Ðế" dịch là "Bi Giả"chỉ cho một vị có lòng Từ Bi bao la rộng lớn. Vị đó có thể cứu vớt cho tất cả khổ nạn của thế gian, có thể làm cho nổi khổ của tất cả chúng sanh đều được vơi sạch. Lại còn một cách dịch nữa là "Tác giả", là người có thể làm cho đạo pháp hưng long, làm cho tất cả chúng sanh đều phát Bồ Ðề Tâm, thi hành được đại sự Phật Pháp và được thành tựu Ðạo nghiệp.

 

22. di hê rị

(Ishiri)

"Di Hê Rị" là tiếng Phạn, dịch nghĩa là "Thuận Giáo", có nghĩa nói: Tôi nhất định phải nghe theo lời giáo hóa của Quán Thế Âm Tự Tại Bồ Tát Ma Ha Tát; tôi nhất định thuận theo lời giáo hóa của Bồ Tát Quán Thế Âm mà thường giáo hóa chúng sanh, tôi nhất định y giáo phụng hành. Vì "Di Hê Rị" cũng có nghĩa là y giáo phụng hành. Y theo lời dạy của ai? Y theo lời giáo chỉ của Bồ Tát Quán Thế Âm mà thật hành.

 

(còn tiếp)

 

 

Return to homepage | Top of page