Đại Bi Chú Cú Giải

Chú Ðại Bi bao gồm 84 câu và đã được Lão Hòa Thượng lược giải; chúng tôi sẽ lần lượt đăng lên báo với ước nguyện rằng nhiều người sẽ nhận chân Chú Ðại Bi. Hiện tại là thời kỳ "đấu tranh kiên cố", thế giới không an lành, đầy hiểm họa chiến tranh & tai ách, ngưỡng mong nhiều người hơn, nhất là những người con Phật, phát tâm trì tụng Chú Ðại Bi cầu nguyện cho thế giới được an lành, cho người người được an lạc. Ngưỡng nguyện chú lực sẽ vãn hồi kiếp vận và khai phát lòng từ bi sẳn có của mỗi chúng ta.

bdh

(tiếp theo)

 

23. MA HA BỒ ÐỀ TÁT ÐỎA.

(Mahabodhisattva)

"Ma Ha" là Ðại.
"Bồ Ðề" là Giác đạo.
"Tát Ðỏa" là Ðại dõng mãnh.

Câu này có nghĩa là một vị đại Giác ngộ, đại dõng mãnh Bồ Tát phát Ðại Bồ Ðề tâm, tu Ðại Bồ Ðề hạnh. Phát Ðại Bồ Ðề tâm là trồng nhân Ðại Bồ Ðề. Tu Ðại Bồ Ðề hạnh là vun bồi tưới tắm cho hạt giống Bồ Ðề được trưởng dưỡng, rồi được đơm bông Ðại Bồ Ðề và gặt quả Bồ Ðề Ðạo. Ðoạn chú nầy thuyết minh về "Ðịnh Huệ không hai, Ðịnh Huệ đều cụ túc, và sự trang nghiêm (Pháp) thân bằng vạn hạnh (Ðịnh, Huệ bất nhị, Ðịnh Huệ song túc, vạn hạnh nghiêm thân)" của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ðịnh cũng tròn đầy rồi, Huệ cũng tròn đầy rồi. Huệ đầy đủ thì Ðịnh đầy đủ; Ðịnh đầy đủ thì Huệ đầy đủ. Bởi vì có Ðịnh mới phát Huệ, có Huệ mới có thể tu Ðịnh. Nếu không có Ðịnh thì không có Huệ. Nếu không có Huệ thì cũng chẳng có Ðịnh. Nên nói "Ðịnh Huệ không hai".

Vị Bồ Tát nầy "vạn hạnh nghiêm thân" bởi vì Ngài "bất xả nhất pháp" (một pháp không bỏ), một mảy may sự kiện nào dầu nhỏ Ngài cũng không bỏ nó đi qua một cách dẫy duôi, khinh suất, bất kỳ là việc thiện lớn hay nhỏ nào đều làm tròn, lý và sự đều viên dung. Vì vậy, "chớ khinh việc thiện nhỏ không làm, chớ khinh việc ác nhỏ mà không tránh". Cho nên kinh pháp dạy rằng: "Chư ác mạc tác, chúng thiện phụng hành" (điều ác chớ làm, kính làm điều thiện). Ngài phát Ðại Bồ Ðề Tâm, kết Bồ Ðề quả, tu hành vạn hạnh để trang nghiêm Pháp thân mình. Ngài phát Ðại Bi Tâm, hành Vô Vi Pháp. Tuy tùy theo tâm lượng của chúng sanh để thường thi hành Phật sự. Nhưng nơi bản tánh, bản thể của Ngài không hề có một mảy may chúng sanh tướng. Ngài xem tất cả chúng sanh với mình đồng một thể tánh, không hai không khác. Cho nên, Ngài xem cái khổ của chúng sanh cũng chính là cái khổ của chính mình. Bởi chính Ngài không muốn có khổ, nên muốn hóa giải mọi khổ đau của chúng sanh. Tuy hóa giải mọi khổ đau của chúng sanh mà không hề có tướng độ sanh, không hề thấy có mình độ và người được độ. Ngài không nói rằng : "À! Bây giờ Ta đã cứu ngươi rồi đó, ngươi cần phải cám ơn Ta. Ta đã giải trừ khổ não của ngươi rồi đó, ngươi phải nhớ ân này." Ngài không có tâm niệm như vậy? Chính vì vậy, mà Ngài mới có thể ứng hiện 32 thân tướng. "Nếu hiện thân Phật mà có người được cứu độ thì liền hiện thân Phật vì họ mà độ. Nếu hiện thân Bích Chi Phật mà có người được cứu độ, liền hiện Bích Chi Phật mà thuyết pháp. Nếu hiện thân A la hán mà có người được cứu độ, thì liền thị hiện thân A la hán mà thuyết pháp. Nếu dùng thân Quốc Vương mà có vô số chúng sanh được cứu độ, thì liền hiện thân Quốc Vương vì họ mà cứu rỗi...". Cũng như vậy, có đến 32 ứng hóa thân cùng 14 sự vô úy và 4 sự bất tư nghì (4 loại thần thông diệu dụng không thể nghĩ bàn). Ngài đã thấu đắc quả Viên Thông cứu cánh, thành tựu quả Bồ Ðề rốt ráo. Bồ Tát Quán Thế Âm thành tựu công đức không thể nghĩ bàn như thế.

 

24. TÁT BÀ TÁT BÀ.

(Sabho Sabho)

Câu chú này đi cùng với "Bảo Ấn Thủ Nhãn". "Tát Bà Tát Bà" là tiếng Phạn, nghĩa là "Nhất Thiết Lợi Lạc". Nhất Thiết là tất cả mọi cái, mọi điều... Bạĩn tu trì Thủ Nhãn nầy thì có thể lợi lạc cho hết thảy chúng sanh.

Lúc bạn thành tựu Bảo Ấn Thủ Nhãn thì hết thảy cõi trời, tất cả cõi người đều đến nghe bạn dạy bảo. Diêm Vương, Quỷ Vương trong chốn địa ngục đều nghe sự giáo huấn của bạn. Bạn bảo họ phải như thế nào thì họ đều y như thế ấy. Bạn bảo họ thả tội nhân ra thì họ tức khắc thả ra. Vì sao như vậy? Là vì bạn có Bảo Ấn. Bạn có Bảo Ấn này cũng như bạn có Ấn Ngọc của Hoàng Ðế. Trên chiếu thư có Ấn Ngọc của vua, thì khắp thiên hạ bất cứ là đâu, ai có trách nhiệm gì đều phải tuân theo chiếu thư ấy mà thi hành, không một ai dám kháng chỉ. Nếu bạn có Bảo Ấn Thủ Nhãn, thì có thể làm ích lợi cho hết thảy chúng sanh, đưa cho tất cả chúng sanh đến nơi an lành. Vì vậy, mà gọi là "Nhất Thiết Lợi Lạc".

Có lẽ người Trung Quốc đa số đều biết chuyện là có vị Tiên, tên là Quảng Thành Tử, có một cái ấn gọi là "Phiên Thiên Ấn". Ấn đó chính là ấn nầy vậy. Ðạo giáo gọi là Phiên Thiên Ấn, ở Bồ Tát Quán Thế Âm gọi là "Bảo Ấn Thủ Nhãn". Nếu bạn dụng công tinh tấn tu hành Bảo Ấn Thủ Nhãn nầy, tu được thành tựu rồi thì lúc có người mới chết, hoặc sắp chết, bạn có thể đóng Ấn này trên mảng giấy và ghi vài dòng đến vua Diêm La rằng: "Thả người đó ra. Cho họ trở về!" Thì Diêm La Vương không dám gọi họ chết. Chỗ diệu dụng của Ấn này là có thể giúp người mới chết sống lại. Nhưng bạn phải tu trì đắc đạo rồi đã, nếu tu chưa thành thì nó chẳng có ích dụng gì cho mấy! Tu đã thành giống như bạn đi học, ban đầu học tiểu học đến trung học, sau đó học đại học rồi đạt đến học vị tiến sĩ. Người tu thành đạt Bảo Ấn cũng như việc bạn đạt được học vị tiến sĩ. Nhưng tạm mượn ví dụ vậy thôi, chớ nó có gì so sánh được.

Vì vậy, "Tát Bà Tát Bà" nghĩa là "lợi lạc tất cả". Có thể lợi ích và cứu giúp cho tất cả chúng sanh, làm cho hết thảy chúng sanh đều đến chỗ an vui. Bạn thấy sự diệu dụng vô cùng đến thế! Nếu bạn muốn dùng Bảo Ấn nầy thì nên tu trì 42 Thủ Nhãn. "Tát Bà Tát Bà" là một trong 42 Thủ Nhãn.

Có người nghe tôi giảng về Bảo Ấn có chỗ đại dụng như vậy, họ nghĩ rằng: "À, ta phải tu gấp Bảo Ấn nầy; tu xong rồi, lúc có bất cứ người nào mới chết, hay sắp chết, tôi đều đóng cho họ một Ấn, bảo Diêm La phải cho họ về, không cho họ chết". Dĩ nhiên là được. Bạn có thể ngăn, không cho người khác chết, nhưng đến lúc bạn chết thì e rằng không có ai đóng cho bạn một Ấn.

Tôi đã hai lần dùng qua Ấn nầy, một lần ở Ðông Bắc Trung Quốc (Mãn Châu), một lần ở Hương Cảng. Ở Ðông Bắc vì nhân duyên gì cơ nhỉ? Ðó là điều bất đắc dĩ. Vì sao mà nói là bất đắc dĩ? Nghĩa là việc nhất định phải làm, không làm không thể nào được. Vì cớ sự gì? Tôi nhớ lúc tôi ở chùa Tam Duyên thuộc Ðông Bắc. Có một ngày nọ, đại khái là ngày 18 tháng 4, có một người họ Cao tên là Cao Ðức Phúc; nhà họ cách chùa tôi khoảng 17 đến 18 dặm đường, sau giờ ngọ ngày đó, họ đến chùa tôi để làm gì nhỉ? Có một người đòi chặt tay đến, trong tay cầm một con dao bao giấy báo ở ngoài, chuẩn bị chặt một cánh tay của mình để cúng Phật. Bạn nói người nầy khôn ngoan hay ngu dại. Ðương nhiên là ngu dại, nếu là khôn ngoan thì làm sao tự mình đòi chặt tay của chính mình? Ðúng rồi, rất là ngu dại. Nhưng sự ngu dại nầy của anh ta là vì sự hiếu thuận mà ngu dại.

Vì sao anh ta phải chặt tay? Là vì mẫu thân anh đang lâm bệnh nặng. Do vì thường ngày mẹ anh ta nghiện hút thuốc phiện, bệnh đã đến mức nào? Thuốc phiện không còn hút được; không còn hút được thuốc phiện, thì đương nhiên cơm cũng không còn ăn được, cũng không thể uống nước được. Ôi trời! Lưỡi đã biến thành màu đen rồi, môi miệng đều nứt toác. Ðông y, Tây y, Bác sĩ nước ngoài, Bác sĩ Ðông y đều bó tay. Anh ta bảo: "Bồ Tát rất linh cảm, hiện tôi đến chùa Tam Duyên, chặt tay cúng dường Phật, dùng tâm thành khẩn nguyện nầy cầu Phật cứu vớt cho mẹ tôi được lành bệnh". Ðến chùa rồi, anh ta lấy một con dao bao trong tờ báo tự mình đưa một tay ra, tay khác cầm dao để chặt. Vừa lúc ấy có một người đi đến, liền nắm lấy tay anh ta, nói: "Ái chà, anh làm gì vậy? Chớ có tự tử ở đây!"

Anh ta nói: "Vì mẹ tôi lâm bệnh nặng, tôi muốn chặt một cánh tay để cúng dường Phật cầu xin sự cứu giúp, ông không nên ngăn cản tôi, không nên bảo tôi không chặt tay".

Người nầy không chịu buông tay cho anh ta và liền bảo người khác báo bẩm cho Hòa Thượng trú trì biết, Hòa Thượng cũng không có biện pháp. Vừa lúc ấy có một Cư sĩ tên là Lý Cảnh Hoa, là người hộ pháp đắc lực cho Hòa Thượng. Anh ta bảo Lý Cảnh Hoa đi tìm tôi. Gặp tôi, anh ta nói: "Thầy ôi! Có một người đến chùa đòi chặt tay, vì mẹ họ bị bệnh nặng. Thầy nghĩ cách cứu giúp cho sự khẩn cầu của họ".

Lúc ấy, trong chùa tôi là Thủ tọa, dưới Hòa Thượng trú trì thì là tôi . Lúc ấy tôi vẫn còn là một Sa di, nhưng không phải là Sa di ăn, Sa di ngủ. Tôi dậy sớm hơn mọi người, không phải người khác thức rồi tôi mới thức; tôi làm bất cứ việc gì người khác không chịu làm; tôi không ăn vặt hay ăn riêng mà ăn ngọ ngày một bữa cùng với chúng.

À, nghe vậy tôi liền đến bạch với Hòa Thượng trú trì rằng: "Người ta đến tìm Thầy cứu giúp mà Thầy lại giao cho con cái phiền phức này, Thầy không để ý đến chuyện của người, nhưng Thầy bảo con phải gánh !".

Hòa Thượng Trú trì nói: "Con hãy rủ lòng bi cảm, gắng cứu giúp họ!".

Hòa Thượng dạy như vậy rất chí lý, tuy tôi không thích để ý đến những chuyện không đâu của người khác, nhưng Hòa Thượng dạy chí tình tôi lấy làm phấn kích.

Tôi liền đáp: "Dạ vâng, con đi đây". Tôi nói với anh Phúc rằng: "Anh về trước đi!" Anh ta vâng lời lên xe về nhà, anh ta đi đường lớn, tôi đi đường nhỏ, lúc ấy đã 5 giờ chiều, trước khi đi anh ta hỏi: "Vậy Thầy cũng biết đường à!". Tôi bảo: "Ồ! Anh không phải lo cho tôi, anh nên về trước thì hay hơn".

Cách xa khoảng 17 đến 18 dặm, anh ta đi trước, tôi đi sau. Vào đến nhà, tôi thấy anh ta vẫn chưa về. Lúc anh ta về đến, thấy tôi ngạc nhiên liền nói: "Ô Thầy! Sao Thầy về trước tôi à?!". Tôi nói: "Có lẽ trên đường anh ham chơi không biết có xem ti vi hay đá cầu không, mà anh về muộn thế?"

Anh ta nói: Không có, tôi cố đi nhanh về nhà.

Tôi nói: Có lẽ xe anh đi chậm, tôi đi bộ nhanh nên tôi về trước.

Lúc bước vào thấy bà cụ, tôi liền nghĩ có lẽ người nầy không còn ai có thể cứu sống được nữa. Tôi tự nhủ, thôi cứ chữa và đợi đến sáng mai xem sao. Trước đó mẹ anh ta đã 7, 8 ngày không còn biết gì, không nói được, không nhận biết được người quen lạ, chỉ còn đợi chết. May thay! Ðến ngày thứ hai bà ta ngồi dậy được. Bà gọi con trai bà là Cao Ðức Phúc: "Cử ơi, Cử ơi! Có cháo không? Ta đang muốn ăn cháo". Ồ... Vâng ạ! Con mẹ đây! Ðã 7, 8 ngày rày không nghe mẹ gọi, bây giờ trong đột nhiên mẹ ngồi dậy được và gọi tên con, con vô cùng vui sướng. Anh ta chạy lại một bên và nói: "Mẹ, mẹ nằm như vậy nhiều ngày rồi, bệnh không thể nói chuyện được, bây giờ mẹ khỏe chưa?". Mẹ anh ta liền nói với anh ta rằng: "Ồ! Mẹ kể cho con nghe, mẹ không biết đã bao nhiêu ngày rồi, hằng ngày mẹ bị ở trong chốn tối mò mò, nơi đó chẳng có một chút ánh sáng mặt trời, mặt trăng, ánh sao hay đèn đuốc gì cả. Ôi trời! Mẹ chạy khắp nơi cũng không sao tìm ra được nhà, chạy như thế rất nhiều ngày, ngày nầy qua ngày khác, như vậy mẹ rất khổ sở! Mẹ kêu gào cũng không thấy một ai. Nhưng may thay! Vào buổi chiều hôm qua, mẹ nhìn thấy một vị Sư, trên thân choàng áo Cà-sa vá nát. Ông ta đưa mẹ về nhà. Bây giờ, mẹ muốn ăn một tí cháo". Anh ta nghe mẹ nói vậy liền đáp:

Vị Sư nầy dáng người như thế nào?.

Bà đáp: Rất cao, nếu mẹ nhìn thấy ông ta, mẹ có thể nhận ra được ngay.

Lúc đó tôi đang nghỉ trên giường, anh ta liền đến chỗ tôi chỉ và nói: Mẹ có biết vị Thầy nầy không? Bà nhìn một cách cẩn thận và nói: Mẹ nhìn thấy rồi. "À, à! Ông ta là người đưa mẹ về đó! Lạy trời Phật!" Quý vị biết không, mỗi khi người ta biết như vậy thì rất phiền phức! Cả nhà họ mười người đều quay lại quỳ xuống trước tôi và bạch rằng: Thầy đã cứu mạng thân mẫu chúng con! Về sau toàn thể đại gia đình từ lớn đến nhỏ đều xin quy y, họ nói tiếp: Sau nầy nhà chùa có bất cứ đều gì cứ bảo chúng con làm, chúng con rất hân hạnh được làm!.

Ðó là lần đầu tôi dùng đến Bảo Ấn nầy dùng một lần, bệnh lành hẳn. Bạn đoán xem việc gì sẽ đến sau đó? Và có phiền toái không? Không chỉ cả đại gia đình họ quay đầu khấu ngưỡng, quy giáo, mà về sau cả làng nầy đều tìm đến tôi; người nầy khai bệnh nầy, người kia khai bệnh nọ... bệnh ơi là bệnh, người nào cũng có bệnh. Tôi bảo họ: Các người đã bị bệnh rồi mà còn thích bị đánh đòn sao! Lúc ấy tôi cầm cây phất trần, mỗi người tôi đều cho ba roi, về sau tôi hỏi lại các bệnh nhân nầy: Các ngươi còn bệnh không?! Họ đáp: Ồ! Không còn bệnh nữa, lành rồi bạch Thầy! Nhờ tôi đánh mấy roi mà bệnh đã chạy rồi. Ðó là một chuyện phiền phức ở Mãn Châu, Ðông Bắc Trung Quốc.

Còn ở Hương Cảng là việc gì nhỉ? Là việc bố của cô Madelena Lew. Bố cô ta năm đó 79 tuổi. Các thầy toán số đều phán năm đó ông ta nhất định phải ra đi. Hôm nọ, ông ta đến chùa xin ghi tên quy y. Lúc quy y, ông ta hỏi tôi:

-Sư phụ, Ngài có thể giúp con khỏi chết được không?

-Tôi bảo: "Ðược, ông khỏi lo! Tôi có thể giúp ông sống thêm 12 năm nữa, được không?"

-Ông ta đáp: "Thưa vâng! Ðược như vậy thì là đại phúc!" Nói xong, cũng là lúc tôi vừa làm xong việc nầy cho ông ta. Về sau, quả nhiên là ông ta sống thêm 12 năm nữa.

Tuy biết được pháp nầy, nhưng bạn chớ nên thấy người chết mà tìm cách đem họ trở về, không để họ chết, như thế bạn sẽ trở thành người đối đầu với Diêm Vương. Diêm Vương sẽ nói: "Ðược, ông bảo người ta không chết, trước tiên ta sẽ cho ông chết". Như thế lúc bạn chết, không có người dùng Bảo Ấn nầy cho bạn. Bạn bảo: "Chính ta dùng Ấn nầy cho ta". Không thể được. Vì sao vậy? Pháp thuật thì giống như lưỡi dao không thể chém được sống dao của chính nó. Bạn có pháp thuật, nhưng khi chính mình gặp phải sự cố nào đó, thì cũng chẳng khác như "Bồ Tát đất sét qua biển":

Bồ Tát bằng đất sét qua biển,
Chính bản thân cũng khó bảo toàn.

Cho nên, nếu bạn đã thành tựu được Pháp nầy rồi nhưng còn phải tự tu hành. Do vậy, hiện tại tôi không còn màng đến chuyện người khác nữa. Ai chết thì chết, tôi không để ý tới, tôi sợ làm "Bồ Tát đất sét mà đòi qua sông', chính bản thân cũng khó bảo toàn.

(Bắt đầu từ số sau Bồ Ðề Hải sẽ ngưng đăng "Chú Ðại Bi Cú Giải", nhưng thay vào đó sẽ đăng "Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà Ra Ni" do Cố Lão Hòa Thượng thiển giảng)

 

(còn tiếp)

 

Return to homepage | Top of page