Vietnamese|English

Diệu Pháp Liên Hoa Kinh

Phẩm Phổ Môn Lược Giảng

Hoà thượng Tuyên Hoá Lược giảng

 

 

Này Vô Tận Ý! Bồ Tát Quán Thế Âm có sức oai thần lớn như thế, làm lợi ích rất nhiều. Cho nên chúng sanh thường phải tâm niệm Ngài.

Nếu có người nữ nào, hoặc cầu con trai, lễ bái cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, bèn sanh được bé trai phước đức trí huệ; hoặc cầu con gái, bèn sanh bé gái có tướng đẹp đẽ, do gieo trồng gốc phước đời trước, được mọi người kính mến.

Ðức Phật sau khi nói những việc trên xong, lại bảo Bồ Tát Vô Tận Ý: "Bồ Tát Quán Thế Âm chẳng những có sức oai thần cứu được bảy nạn, giải được ba độc như vừa nói, mà lại còn có rất nhiều thần thông diệu dụng làm lợi ích cho chúng sanh, vì thế chúng sanh phải nên thường thường tâm niệm Bồ-tát này." Ðiều này mọi người phải đặc biệt chú ý! Thường phải tâm niệm, là không phải chỉ niệm ở đầu môi mà tâm không niệm. Tóm lại, phải niệm niệm nhớ tưởng, luôn luôn ghi nhớ danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm.

Nếu có người nữ nào hoặc cầu con trai. Giả như có một người nữ muốn cầu có một đứa con trai. Cầu như thế nào mới được như nguyện? Phải theo đúng như Phẩm Phổ Môn trong Kinh Pháp Hoa đã dạy, tức là phải lễ bái, đồng thời dùng hương hoa trái cây... cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, tự nhiên có thể được một đứa bé trai đầy đủ phước đức trí huệ. Nếu cầu con gái, thì có thể sanh một đứa bé gái tướng mạo đoan chánh, mắt mũi tai miệng đều cân đối xinh đẹp cả. Gốc phước do trồng đời trước, được mọi người kính mến. Tại sao lại được tướng mạo đoan chánh trang nghiêm đẹp đẽ như thế? Ðó đều là do đời trước, hoặc mua hương hoa, dùng các thứ trang nghiêm để cúng dường Phật, Bồ-tát. Do chứa nhóm công đức cúng Phật thuở xưa kia nên được đời đời tướng mạo đầy đủ, trang nghiêm tốt đẹp, ai thấy cũng kính mến.

Này Vô Tận Ý! Bồ Tát Quán Thế Âm có oai lực như thế! Nếu có chúng sanh cung kính lễ bái Bồ Tát Quán Thế Âm thì phước đức chẳng luống mất. Cho nên chúng sanh phải nên thọ trì danh hiệu của Ngài.

Này Vô Tận Ý! Nếu có người thọ trì danh hiệu của sáu mươi hai ức Hằng hà sa Bồ-tát, lại suốt đời cúng dường đồ ăn uống, y phục, giường nằm, thuốc men... Ông nghĩ thế nào? Công đức của thiện nam tử, thiện nữ nhơn đó có nhiều chăng?

Vô Tận Ý đáp: "Rất nhiều, thưa Thế Tôn!"

Phật nói: "Nếu lại có người thọ trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm, cho đến chỉ một lần lễ bái cúng dường, thì phước đức của hai người này đồng nhau không khác, trong trăm ngàn muôn ức kiếp không thể cùng tận."

Ðức Phật sau khi nói những việc cứu bảy nạn, giải ba độc, ứng hai điều cầu mong của Bồ Tát Quán Thế Âm vừa xong, lại nói: "Này Vô Tận Ý! Vị Bồ Tát Quán Thế Âm này có oai lực như vừa nói ở trên, nếu có chúng sanh nào hay cung kính và phát tâm lễ bái Bồ Tát Quán Thế Âm thì phước đức của người ấy nhất định tồn tại không uổng phí. Vì lý do ấy, các chúng sanh đều phải nên thọ trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm." Nếu quý vị có thể trong tâm thường trì niệm Bồ Tát Quán Thế Âm thì được phước báo công đức không thể nghĩ bàn, vi diệu khó lường.

Phật lại bảo: "Này Vô Tận Ý! Giả sử có người thọ trì danh hiệu của rất nhiều Bồ-tát, nhiều như số cát trong sáu mươi hai ức sông Hằng, và chẳng những chỉ niệm tụng mà còn suốt đời dùng hương hoa đèn quả, hoặc bốn thứ: thức ăn uống, y phục, giường nằm, thuốc men... để cúng dường Tam Bảo. Ý ông như thế nào? Những thiện nam tín nữ ấy có được công đức nhiều hay không?"

Sau khi Phật nói xong, Bồ Tát Vô Tận Ý đáp: "Công đức này rất nhiều." Phật lại bảo: "Giả sử còn có người hay niệm danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm. Chẳng cần nói người ấy có suốt đời cúng dường, mà chỉ có thể trong một thời gian rất ít lễ lạy cúng dường Bồ Tát Quán Thế Âm, thì phước đức của hai người này như nhau. Trong trăm ngàn muôn ức kiếp phước đức này cũng không cùng tận."

Này Vô Tận Ý! Thọ trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm được vô lượng vô biên phước đức lợi ích như thế.

Bồ Tát Vô Tận Ý bạch Phật rằng: "Bạch Thế Tôn! Bồ Tát Quán Thế Âm như thế nào đi khắp thế giới Ta-bà này? Như thế nào nói pháp cho chúng sanh nghe? Sức phương tiện của những việc đó như thế nào?"

Ðức Phật bảo Bồ Tát Vô Tận Ý: " Nếu Ông hay thọ trì danh hiệu Bồ Tát Quán Thế Âm thì có thể được lợi ích phước đức nhiều vô số vô lượng như đã nói ở trước." Bồ Tát Vô Tận Ý nghe Phật nói thế lại bạch hỏi Phật: "Bạch Thế Tôn! Vị Bồ Tát Quán Thế Âm này làm thế nào để giáo hóa chúng sanh ở thế giới Ta Bà? Làm thế nào để thuyết pháp cho họ nghe? Nhân duyên phương tiện giáo hóa chúng sanh, sức phương tiện và những sự việc ấy như thế nào?"

Thế nào gọi là thế giới Ta-bà? "Ta-bà" là tiếng Ấn Ðộ (Saha), dịch là "kham nhẫn," cũng chính là kham năng nhẫn thọ, là nói thế giới này rất khổ, không dễ gì chịu đựng nổi.

Phật bảo Bồ Tát Vô Tận Ý: Này thiện nam tử, nếu có chúng sanh trong cõi nước nào, đáng dùng thân Phật để được độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân Phật nói pháp độ họ.

Ðáng dùng thân Bích-chi Phật để được độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân Bích-chi Phật nói pháp độ họ.

Ðáng dùng thân Thanh-văn để được độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân Thanh-văn nói pháp độ họ.

Ðáng dùng thân Phạm vương để được độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân Phạm vương nói pháp độ họ.

Ðáng dùng thân Ðế Thích để được độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân Ðế Thích nói pháp độ họ.

Ðáng dùng thân Tự Tại Thiên để được độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân Tự Tại Thiên nói pháp độ họ.

Ðáng dùng thân Ðại Tự Tại Thiên để được độ thoát thì Bồ Tát Quán Thế Âm liền hiện thân Ðại Tự Tại Thiên nói pháp độ họ.

Ðức Phật nghe Bồ Tát Vô Tận Ý hỏi như thế, mới đáp: "Này thiện nam tử! Giả sử như trong các cõi nước ở ba ngàn đại thiên thế giới có chúng sanh nào đáng dùng thân Phật mới có thể độ cho họ thành Phật thì Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ thị hiện thân Phật đến nói pháp cho chúng sanh ấy nghe."

Ðến đây có người hỏi: "Bồ Tát Quán Thế Âm chỉ là Bồ-tát chứ chưa thành Phật mà sao có thể hiện thân Phật để nói pháp được! Ðó chẳng phải mạo xưng là Phật sao?"

-Không phải đâu! Nhân vì Bồ Tát Quán Thế Âm trong vô lượng kiếp về quá khứ đã thành Phật, hiệu là Chánh Pháp Minh. Sau khi thành Phật, Ngài vì không quên chúng sanh nên mới trở lại thế giới này, ẩạn giấu thân Phật mà hiện thân Bồ-tát để cứu giúp chúng sanh. Ðó gọi là "ẩn lớn hiện nhỏ." La-hán là "hồi Tiểu hướng Ðại;" Bồ Tát Quán Thế Âm là "hồi Ðại hướng Tiểu." Ngài từ thân Phật lại "quay ngược thuyền Từ," cũng như người ta nói: "Quay xe trở lại," mục đích là để cứu vớt chúng ta là những chúng sanh đau khổ.

Cho nên Bồ Tát Quán Thế Âm tuy bề ngoài hiện thân Bồ-tát, kỳ thật bên trong ngầm chứa Phật hạnh. Ẩn bên trong là hạnh nguyện của chư Phật, hành vi của chư Phật. Ðó là lý do tại sao Bồ Tát Quán Thế Âm có thể hóa hiện thân Phật để thuyết pháp cho chúng sanh, chớ không phải mạo xưng là Phật để dối gạt chúng sanh.

Tiếp đó Ðức Phật lại bảo: "Ðáng dùng thân Bích-chi Phật để được độ thoát, liền hiện thân Bích-chi Phật để nói pháp độ họ."

Bích-chi Phật là tiếng Phạn (Pratyekabuddha), nói đủ là "Bích-chi-ca-la," dịch là Duyên-giác. Duyên-giác lại có hai thứ: Những vị sanh vào thời có Phật ra đời thì gọi là Duyên-giác; những vị sanh vào thời không có Phật gọi là Ðộc giác. Khi có Phật ra đời, do tu Thập Nhị Nhân Duyên mà ngộ đạo. Vị ấy quan sát tại sao có Vô minh? Vô minh tại sao lại có Hành? Tại sao có Thức? Có Danh sắc? Có Lục nhập? Làm sao lại có Xúc? Rồi có Thọ? Sau Thọ lại có Ái? Có Ái lại có Thủ? Nhân vì có Hữu cũng lại có Sanh? Có Sanh rồi lại có Lão, Tử? Cả ngày quán sát tới lui mười hai nhân duyên như vậy, biết rằng tất cả đều là Khổ, Không, Vô thường, Vô ngã, nên tất cả đều buông bỏ, và do đó mà khai ngộ. Do quán mười hai nhân duyên mà ngộ đạo nên gọi là Duyên-giác. Vào thời không có Phật, vị ấy cũng tu mười hai nhân duyên này; mùa Xuân quán thấy trăm hoa đua nở, mùa Thu vạn vật héo tàn, quán xét các trạng thái biến hóa tự nhiên nên giác ngộ được Sanh, Trụ, Dị, Diệt, Thành, Trụ, Hoại, Không; các thứ hình sắc thảy đều là vô thường, cũng nhân đó mà được giác ngộ, gọi là Ðộc-giác. Do vì sanh ra vào thời có Phật hay không Phật mà gọi là Duyên-giác hay Ðộc-giác mà thôi.

Bồ Tát Quán Thế Âm nhờ có Thiên nhãn chiếu thấy, Thiên nhĩ nghe xa, biết được chúng sanh nào đáng dùng thân Bích-chi Phật để được độ thoát thì hiện ra thân Bích-chi Phật để nói pháp Thập Nhị Nhân Duyên cho họ nghe, như là: "Anh có biết Vô minh là từ đâu mà có không? Chính là từ chỗ một niệm bất giác của anh mà có. Do một niệm bất giác, cho nên trong Như Lai Tạng Tánh của anh phát sanh ra Vô minh. Ðã có Vô minh thì sanh tiếp ra Hành, ..." Ðối với chúng sanh như thế, Ngài dùng thân Bích-chi Phật để nói pháp độ họ thì khiến cho họ khai ngộ giác đạo. Sau đó mới dạy họ phát tâm Bồ-đề, hồi Tiểu hướng Ðại.

Ðáng dùng thân Thanh-văn để được độ thoát, liền hiện thân Thanh-văn nói pháp độ họ. Thế nào gọi là Thanh-văn? Thanh-văn cũng là một vị La-hán, Duyên-giác cũng là một vị La-hán, thuộc về hàng Nhị thừa. Thanh-văn, thì "Thanh" là tiếng tăm, "Văn" là nghe thấy, có nghĩa là nghe thấy lời Phật nói mà ngộ đạo. Phật nói những lời gì? Nói pháp Tứ đế, do nghe những lời này mà ngộ đạo, nên gọi là Thanh-văn.

Tứ đế là gì? Là Khổ, Tập, Diệt, Ðạo. Ðức Phật Thích-ca đầu tiên ba lần chuyển pháp luân Tứ đế cho năm vị Tỳ-kheo nghe. Bấy giờ các vị Kiều Trần Như, hãy còn chưa xuất gia, sau khi được Phật nói pháp cho nghe, mới xuất gia làm Tỳ-kheo. Tại vườn Nai Phật nói với họ: "Ðây là Khổ có tánh bức bách, đây là Tập có tánh chiêu cảm, đây là Diệt có tánh khả chứng, đây là Ðạo có tánh khả tu."

-Ðây là Khổ có tánh bức bách: Là nói Khổ này có tính bức bách mạnh mẽ, khiến người chịu không nổi. Khổ có Khổ khổ, Hoại khổ, Hành khổ. Lại có tám thứ: Sanh khổ, Lão khổ, Bịnh khổ, Tử khổ, Ái biệt ly khổ, Cầu bất đắc khổ, Oán tắng hội khổ, Ngũ ấm xí thạnh khổ. Những thứ khổ ấy bức bách con người xoay chuyển không nổi, thở không ra hơi, suốt ngày bực bội. Tấùt cả vấn đề đó đều do khổ sanh ra, cho nên nói Khổ có tánh bức bách.

-Ðây là Tập có tánh chiêu cảm: Tập là chứa nhóm tích tụ. Cái gì tích tụ với nhau? Phiền não tích tụ với nhau. Tại sao có phiền não? Tại vì có "Khổ." Trước hết có khổ, khi bị khổ áp bức chịu không nổi mới sanh ra phiền não, phát sinh ra giận dữ. Vì thế nói phiền não này có tánh chiêu cảm, là do chứa nhóm mà thành. Ðó cũng là từ Khổ mà có Tập.

-Ðây là Diệt có tánh khả chứng: Diệt là tịch diệt, tịch diệt cả vô minh phiền não. Thứ an lạc của tịch diệt này là diệu quả của Niết-bàn, là thứ có thể chứng đắc được.

-Ðây là Ðạo có tánh khả tu: Thứ Ðạo này mọi người đều có thể tu, không một ai nói là không thể tu được. Bất cứ người nào cũng đều có thể tu đạo, bất cứ người nào cũng đều có thể chứng được lý thể Niết-bàn. Ðó là lần Chuyển pháp luân thứ nhất.

Ðức Phật chỉ là hiện thân thuyết pháp giảng nói pháp Tứ đế cho năm vị Tỳ-kheo ấy nghe, tiếp theo Phật lại chuyển pháp luân lần thứ hai: "Ðây là Khổ các ông nên biết, đây là Tập các ông nên đoạn, đây là Diệt các ông nên chứng, đây là Ðạo các ông nên tu." Nói rằng "Khổ này không phải chỉ riêng ta thành Phật mới biết, mà các ông cũng phải biết nó là Khổ. Các ông cũng phải dứt trừ Tập đế, phải nên cầu chứng diệu quả Niết-bàn, cũng phải nên tu hành thứ Bồ-đề giác đạo này."

Ðức Phật chuyển pháp luâân lần thứ ba: "Ðây là Khổ ta đã biết, đây là Tập ta đã đoạn, đây là Diệt ta đã chứng, đây là Ðạo ta đã tu." Những Khổ này ta đã biết, Tập này ta đã dứt trừ. Ta đã biết Khổ này nên không bị Khổ làm mê. Ta đã dứt hết phiền não, cũng không còn Tập đế nữa. Diệt này ta đã chứng đắc rồi, ta đã được niềm vui tịch diệt chân chánh. Ðạo này ta đã tu xong."

Năm vị Tỳ-kheo ấy nghe Phật diễn nói ba lần chuyển pháp luân Tứ đế xong, tức thì được khai ngộ. Nhân nghe tiếng Phật thuyết pháp mà ngộ đạo nên gọi là Thanh-văn. Thanh-văn và Duyên-giác gọi là Nhị-thừa, cũng gọi là Tiểu-thừa. Có Tiểu thừa cũng có Ðại-thừa. Sao gọi là Ðại, sao gọi là Tiểu? Thật ra không có Ðại mà cũng không có Tiểu, chỉ vì tâm chúng sanh có Ðại có Tiểu mà thôi. Xưa nay tâm lượng rộng lớn khắp hư không pháp giới, nhưng phàm phu chúng ta không biết dùng Như Lai Tạng Tánh sẵn có của chính mình. Có người chỉ dùng một phần nhỏ, có người dùng được phần lớn, có người dùng cả toàn bộ. Chư Phật thì có thể dùng được toàn bộ, vì đã phản bổn hoàn nguyên rồi. Bồ-tát có thể dùng được một phần lớn, vì các ngài có trí huệ rộng lớn nên có thể dùng được số nhiều của báu trong gia tài Như Lai Tạng Tánh sẵn có của chính mình. Sự hiểu biết của hàng Tiểu thừa rất ít cho nên dùng được ít. Vì thế nên Bồ Tát Quán Thế Âm gặp được cơ duyên người đáng dùng thân Thanh-văn để được độ thoát, thì hiện ra thân Thanh văn đến nói pháp Tứ đế cho họ nghe.

Ðáng dùng thân Phạm vương để được độ thoát, liền hiện thân Phạm vương đến nói pháp độ họ.

Phạm vương chính là Ðại Phạm Thiên Vương, Hoàng đế của trời Ðại Phạm. Phạm có nghĩa là thanh tịnh. Vị ấy làm vua trên trời cảm thấy rất tự tại. Bồ Tát Quán Thế Âm cũng hiện thân Ðại Phạm Thiên Vương đến để nói pháp cho nghe.

Ðáng dùng thân Ðế Thích để được độ thoát thì hiện thân Ðế Thích đến nói pháp độ họ.

Ðế Thích (Shakra), mà trong Kinh Di Ðà gọi là Thích-đề-hoàn-nhơn (Shakra Devanam Indrah), trong Ðạo giáo gọi là Ngọc Hoàng Ðại Ðế. Vị Ðế Thích này không phải chỉ có một mà có rất nhiều. Chúng ta biết rằng có một cõi trời tên là Tam thập tam (hay Ðao Lợi). Ðế Thích của cõi trời Tam thập tam cũng chính là Thiên chúa (God) của một số người tín ngưỡng.

Trong chú Lăng Nghiêm có câu: "Nam mô Nhân-đà-ra-da." Nhân-đà-ra-da cũng là tên gọi của Thiên chúa. Những sự việc ở trên trời đều do vị Ðế Thích này thống lãnh và quản lý, vì thế năng lực của vị này rộng lớn phi thường, quyền lực và thần thông cũng to lớn; nhưng vị này chỉ có thể ở trên trời, mà mạng sống của trời rồi có lúc cũng chấm dứt. Bồ Tát Quán Thế Âm thấy có vị Ðế Thích nào cơ duyên đã thành thục, bấy giờ Ngài mới hóa hiện thân Ðế Thích đến nói pháp cho họ nghe. Tại sao phải hóa làm thân Ðế Thích để nói pháp cho họ nghe? Vì là đồng loại sẽ dễ dàng tiếp nhận sự khuyến hóa hơn. Cũng giống như nhân loại chúng ta vậy, bất luận là người ở giai cấp nào thì đối với giai cấp đó dễ dàng kết thân hơn. Người buôn bán thì kết thân với người buôn bán, người đi học thì kiếm người đi học mà kết thân, người học Phật thì kết thân với người học Phật, người cờ bạc thì kết thân với người cờ bạc, kẻ cướp thì kết thân với kẻ cướp. Ấy gọi là:

-"Vật cùng loại dễ hợp, người cùng việc dễ quen."

Vì những quan hệ ấy nên Bồ Tát Quán Thế Âm thường hiện ra thân đồng loại với chúng sanh, thị hiện các phương tiện khiến cho các chúng sanh ấy dễ dàng được hóa độ. Nhưng Bồ Tát Quán Thế Âm không những chỉ dùng thần thông biến hóa để hiện thân thuyết pháp và không nhất định theo tiếng kêu cứu mới ứng hóa, mà thậm chí còn phân thân đến cõi này để làm người, cũng tu học Phật pháp rồi mới giáo hóa vô lượng vô biên chúng sanh. Ví như đối với hạng học sĩ, Bồ Tát Quán Thế Âm hóa thân làm một vị giáo sư diễn nói Phật-pháp cho họ nghe, từ từ dẫn dụ khiến cho một số học giả lần lần có cảm tình hướng đến Phật-pháp, bỏ nghi thêm tin, rồi phát tâm quy y, thọ trì một giới, hai giới, năm giới, cho đến mười giới trọng bốn mươi tám giới khinh của Bồ-tát. Sau đó họ lại nương theo pháp môn của Bồ Tát Quán Thế Âm để tu hành, biến thành một Bồ Tát Quán Thế Âm, thế là Bồ Tát Quán Thế Âm lại có thêm một Hóa thân nữa.

Làm sao lại có được ngàn trăm ức Hóa thân? Ðó chính là quý vị mô phỏng theo Ngài, học tập theo Ngài, thì sẽ biến thành Hóa thân của Ngài đó. Cũng như nói "Pháp không định pháp," là pháp không nhất định, không nên chấp trước. Nếu quý vị chấp trước là nhất định, thử hỏi chính quý vị có nhất định là mình có thể không chết không? Nếu quý vị có thể nhất định không chết thì mọi sự việc đều có thể nhất định rồi.

Nếu quý vị nói: "Không thể được, tôi chắc chắn là phải chết!"

Thế thì không có pháp nhất định rồi. Cho nên Phật-pháp cũng là pháp không nhất định. Vì thế, lý lẽ "Thiên bá ức hóa thân" không phải là khó hiểu, chỉ cần quý vị có hằng tâm, nghị lực để học tập theo Bồ Tát Quán Thế Âm, hoằng dương Phật-pháp, cứu độ chúng sanh thì quý vị cũng là Hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Có một trăm người học theo Ngài thì có một trăm Hóa thân, có một ngàn người học theo Ngài thì có một ngàn Hóa thân. Chừng nào có số người chịu bắt chước theo Ngài hoằng dương Phật-pháp thì chừng ấy cũng sẽ có vô lượng vô biên Hóa thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ðó là nói theo sự, còn nói theo lý thì khi quý vị thành Phật rồi cũng thực sự có đầy đủ ngàn trăm ức Hóa thân.


Trở về trang nhà | Về đầu trang