Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh

Hán dịch: Ðường, Tây Thiên Trúc, Sa Môn Già Phạm Ðạt Ma
Thiển giảng: Vạn Phật Thánh Thành, Hòa Thượng Tuyên Hóa.

@

Tựa của Kinh là "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni Kinh." Trong phần giải thích tựa kinh (Tổng thích danh đề), lần trước đã giải thích "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm" nay giải thích phần còn lại của tựa kinh, tức là "Bồ Tát Vô Ngại Ðại Tâm Ðà La Ni Kinh."
Bồ Ðề Hải

@

(Tiếp theo)

Thế nên, nếu quý vị muốn học Quán Thế Âm Bồ Tát thì quý vị phải đi cứu người giúp đời, lợi ích quần sanh. Có người nói: "Tôi không có khả năng gì cả -- thứ nhất, tôi không có tiền; thứ hai, tôi không biết thuyết giảng Phật pháp, không khéo ăn nói. Vậy thì tôi làm sao mang lại lợi ích cho nhân loại được?"

Tôi bảo cho quý vị biết: Quý vị có "miệng từ bi, lưỡi phương tiện." "Miệng từ bi" tức là có lòng nhân từ, không chưởi mắng người khác. "Lưỡi phương tiện" tức là dùng căn lưỡi của mình làm phương tiện, chứ không phải để nói chuyện thị phi. Ví như có xảy ra sự xích mích gì đó, mà quý vị, bằng phương tiện quyền xảo giảng nói, làm cho đôi bên được hòa giải, hoặc bằng lời lẽ khéo léo mà hóa giải được các tranh chấp trên thế gian, dập tắt được hiểm họa chiến tranh thế giới -- đó là quý vị dùng "lưỡi phương tiện" vậy. Có câu:

"Miệng từ bi, lưỡi phương tiện,
Có tiền, không tiền đều tạo đức được."

Có tiền hay không có tiền đều có thể tạo được công đức như nhau. Ðương nhiên có tiền thì cũng có tốt hơn đôi chút, nhưng nếu quý vị không có tiền thì bất tất phải lo buồn, cũng chẳng nên nghĩ: "Tôi nghèo quá, làm sao làm việc phước đức được?" Làm việc công đức cốt là để cho quý vị nuôi dưỡng lòng hảo tâm, biết làm việc từ thiện, và làm một con người tốt.

"Bồ Tát" là Phạn ngữ, nói đầy đủ là "Bồ Ðề Tát Ðỏa." "Bồ Ðề" dịch nghĩa là "giác"; còn "Tát Ðỏa" là "hữu tình." Vậy, Bồ Tát có nghĩa là một người đã giác ngộ giữa đám hữu tình, và cũng có nghĩa là một người đi giác ngộ tất cả chúng hữu tình. Thế nào gọi là loài "hữu tình"? Tất cả các loài có khí huyết đều được gọi là loài hữu tình. Loài không có khí huyết thì cũng là chúng sanh, song chúng là vô tình -- không có tình cảm, không có cảm giác.

Người ta thường nói: "Nhân phi thảo mộc, thục năng vô tình? (Con người nào phải cỏ cây, sao nỡ vô tình?)" Câu này ý nói cỏ cây là vô tri vô giác, không có tình cảm; nhưng thật ra, cỏ cây cũng có tình cảm vậy, chẳng qua là thứ tình cảm mê muội, không sáng suốt. Vì sao không sáng suốt? Vì chúng toàn làm những việc ngu si cho nên mới bị biến thành cỏ cây gỗ đá. Chúng là một trong mười hai loại chúng sanh.

Cảnh giới của Quán Thế Âm Bồ Tát vốn bất khả tư nghì. Chính vì cảnh giới bất khả tư nghì này rất bất khả tư nghì, cho nên tôi không thể nào diễn tả được! Bây giờ tôi kể cho quý vị nghe một công án.

Thuở trước, có một người nọ trì tụng Chú Ðại Bi đã được khoảng mười hai năm. Trong suốt mười hai năm ấy, ông chẳng gặp chuyện gì gọi là kỳ diệu nhiệm mầu cả -- Chú Ðại Bi chẳng biến ra cơm cho ông ăn, cũng chẳng làm ra áo quần cho ông mặc -- thế nhưng, ông vẫn tin tưởng và chăm chỉ, đều đặn trì tụng Chú Ðại Bi. Mỗi ngày ông tụng tối thiểu là 108 biến, mà thông thường là nhiều hơn thế.

Một lần nọ, ông đi chơi xa và phải ngủ qua đêm ở nhà trọ. Tại Trung Hoa, ở một vài địa phương có loại quán trọ gọi là "hắc điếm." Hắc điếm là gì? Ðó là một thứ nhà trọ trá hình của bọn cướp. Bọn cướp này cũng tương tự như thổ phỉ vậy; có điều, thổ phỉ thì ra chận đường người ta mà cướp bóc, giết hại, còn chúng thì ở trong nhà chờ đợi. Khi có khách tới quán của chúng tá túc, thấy khách mang theo tiền của, hoặc đeo nhiều vàng bạc châu báu, ra vẻ khách buôn giàu có, thì chúng liền đưa khách đến một căn phòng nhỏ khá tươm tất và có cửa riêng để chúng có thể ra vào dễ dàng. Sau đó, chúng lén bỏ thuốc mê trong rượu cho khách uống và đến khuya, thừa cơ khách ngủ mê mệt, chúng lẻn vào đoạt hết tiền bạc, đôi khi còn giết người luôn nữa.

Người trì tụng Chú Ðại Bi này ở trọ trong hắc điếm cũng được mời uống thứ rượu có bỏ thuốc mê, nhưng vì thâm tín Phật Pháp nên ông không uống rượu; do đó không bị trúng thuốc mê. Ðến nửa đêm, đang ngủ ông chợt nghe có tiếng chân người tiến vào phòng mình. Ông hé mắt nhìn ra, nhác thấy bóng một lưỡi dao sáng loáng, ông sợ đến cứng cả người, tự nhủ: "Người này cầm dao đến hẳn là để giết mình đây!"

Ngay lúc đó, bên ngoài bỗng có tiếng đập cửa. Chủ quán -- kẻ âm mưu giết người -- giật mình giấu vội con dao, lẻn ra khỏi phòng, rồi hỏi vọng ra: "Ai đó? Ai gọi cửa đó? Who are you? Who?"

Người ngoài cửa đáp: "Tôi đây! Tôi họ Ðậu, tên Du Bằng. Tôi có một người bạn ở trọ trong quán ông. Ông ấy tên là ... Nhờ ông nhắn lại là tôi mời ông ấy sáng mai đến nhà tôi ăn điểm tâm nhé!"

Chủ quán mở hé cửa nhìn ra thì thấy một người đàn ông trang phục giống như cảnh sát, liền nghĩ: "Thì ra viên cảnh sát này có quen biết với người mà mình định giết. Ông ta là bạn của cảnh sát! Cảnh sát đến mời ông ấy sáng mai đi ăn điểm tâm!" Vì thế, đêm ấy gã chủ quán không dám ra tay giết người.

Sáng hôm sau, chủ quán nói với ông khách trọ chuyên trì Chú Ðại Bi: "Ông có người bạn tên Ðậu Du Bằng đến tìm tối qua. Lúc đó đã khuya lắm rồi, mà ông cũng đã đi ngủ nên ông ấy không muốn đánh thức ông dậy. Ông ấy muốn mời ông hôm nay đến nhà ông ấy ăn sáng."

Ông này vừa nghe đến mấy tiếng "Ðậu Du Bằng" thì cảm thấy rất quen thuộc. Sực nhớ ba chữ ấy vốn ở trong bài Chú Ðại Bi, ông chợt hiểu ra ngay, bèn nói: "Ðúng rồi, ông ấy là bạn tôi đấy. Chúng tôi có hẹn gặp nhau sáng nay, chốc nữa tôi đến nhà ông ấy ăn sáng."

Người này lọt vào sào huyệt của bọn cướp mà không bị chúng giết hại là nhờ có trì tụng Chú Ðại Bi. Do đó, quý vị đừng cho rằng trì tụng Chú Ðại Bi là chẳng có ích lợi. Ðến lúc quý vị gặp nguy hiểm, sanh mạng của quý vị bị đe dọa, bấy giờ quý vị mới nghiệm ra được diệu dụng mầu nhiệm của Chú . Tuy nhiên, hiện tại quý vị chưa gặp chuyện bất trắc, nguy hiểm tới tánh mạng, thì cũng chưa cần đến sức gia hộ của Chú Ðại Bi. Vậy, quý vị chỉ nên thành tâm chuyên cần trì tụng là đủ, và chớ bận tâm về việc Chú Ðại Bi có trợ giúp gì trong vấn đề cơm ăn áo mặc của mình hay không!

Tôi đã giảng về ý nghĩa của "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát"; bây giờ nói về từ ngữ "Quảng Ðại."

"Quảng" là rộng lớn (chỉ bề ngang). "Ðại" là cao to (chỉ bề dọc). Bộ Kinh này có thể nói là "hoành biến thập phương, thụ cùng Tam Giới" -- bề ngang thì trùm khắp hết mười phương, dựng đứng lên thì cao đến tột cùng của Tam Giới. "Tam Giới" là ba cõi -- Dục Giới, Sắc Giới và Vô Sắc Giới. "Thập phương," như quý vị đều biết, là mười phương -- Ðông, Tây, Nam, Bắc, Ðông Nam, Tây Nam, Ðông Bắc, Tây Bắc, Trên và Dưới.

Hai câu chú trong Chú Lăng Nghiêm là "A Na Lệ. Tỳ Xá Ðề," cũng hàm nghĩa "quảng đại" -- một câu ngụ ý "hoành biến thập phương," và một câu là "thụ cùng Tam Giới." Tác dụng của hai câu chú này là mỗi khi niệm lên thì yêu ma quỷ quái, thiên ma ngoại đạo, một bước cũng không đi được, không còn đường để tẩu thoát nữa, đành phải chịu quy đầu phục thiện. Ở đây, ý nghĩa của từ ngữ "quảng đại" trong tên đề của Kinh Ðà-La-Ni thì cũng vẫn vậy, có điều là công năng không lợi hại bằng hai câu chú kia.

"Viên Mãn" có nghĩa là tròn đầy, không còn chút khiếm khuyết nào nữa.

"Vô Ngại" có nghĩa là không có gì chướng ngại, ngăn trở được cả.

Cái gì quảng đại, viên mãn và vô ngại? Ðó là "Ðại Bi Tâm." Ðại Bi Tâm thì vừa quảng đại, vừa viên mãn, lại vừa vô ngại nữa. Ðại Bi Tâm có công năng dứt trừ khổ nạn, cứu vớt chúng sanh thoát khỏi mọi gian nan khốn khổ; cho nên nói: "Bi năng bạt khổ" -- lòng bi mẫn, thương yêu, có thể dứt sạch tất cả khổ lụy cho chúng sanh.

Cái gì có được công năng dứt trừ mọi nỗi khổ của chúng sanh? Ðó chính là pháp Ðà-La-Ni.

"Ðà-La-Ni" là Phạn ngữ; Hoa ngữ dịch là "Tổng Trì." "Tổng" tức là bao hàm tất cả các pháp, tất cả các pháp đều ở trong đó. "Tổng" cũng là thủ lãnh, là "cái đầu" của tất cả các pháp, có công năng khơi nguồn tất cả các pháp. "Trì" là chấp trì, nắm giữ. "Trì" cái gì? "Trì vô lượng nghĩa" -- vô lượng đạo lý đều nằm trong sự chấp trì, nắm giữ của quý vị. Chỉ cần quý vị trì tụng Ða-La-Ni thì sẽ có được công năng này.

Vậy, trong tên đề của bộ kinh này, chữ "Kinh" là tên chung (thông danh), và "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni" là tên riêng (biệt danh). Kinh này lấy Nhân (người) và Pháp để lập thành đề mục hay tựa kinh (title) -- "Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát" là Nhân; còn "Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni" là Pháp. Lại cũng có thể nói rằng đề mục của bộ kinh này thuộc loại Nhân, Pháp, Dụ lập đề; trong đó, "Tâm" là Dụ. "Ðại Bi Chú" ví như cái tâm Ðại Từ Bi tiềm tàng trong mỗi con người, cho nên gọi là "Ðại Bi Tâm Ðà-La-Ni."

"Kinh" có nghĩa là "kinh thường bất biến" -- mãi mãi như thế, không bao giờ thay đổi.

Bộ Kinh này lấy gì làm Thể? Lấy Thật-tướng làm Thể. Thật-tướng chính là Vô-tướng, mà Vô-tướng cũng chính là Thật-tướng.

Có Thể rồi thì cần phải có Tông -- Tông-chỉ. Vậy, Kinh này lấy gì làm Tông-chỉ? Lấy "hàng phục chư ma, chế phục ngoại đạo" làm Tông-chỉ.

Lấy gì làm Dụng? Lấy sự diệt ác sanh thiện, bớt khổ thêm vui, làm chỗ Dụng. "Hàng phục chư ma, chế phục ngoại đạo" có nghĩa là trừ diệt điều ác, sanh khởi điều thiện, dứt khổ thêm vui; do đó, "sanh thiện, diệt ác" chính là lực dụng của bộ Kinh này vậy.

Kinh này có công năng sanh thiện, diệt ác, cứu khổ, ban vui; và lấy đề-hồ làm giáo tướng -- diệu vị đề-hồ và vô thượng cam-lồ đều được lưu xuất từ bộ Kinh này.

Trên đây là dùng Ngũ Trùng Huyền Nghĩa -- Danh, Thể, Tông, Dụng, Giáo -- và bảy loại lập đề để giải thích sơ lược về đề mục bộ Kinh.

đường tây thiên-trúc sa-môn già-phạm-đạt-ma dịch.

Chúng ta đã tìm hiểu phần đề mục, bây giờ nói về dịch giả. Bộ Kinh này vốn do ai phiên dịch? Ðường Tây Thiên-Trúc Sa-môn, tức là dưới triều đại nhà Ðường có một vị Sa-môn người xứ Tây Thiên-Trúc. Tây Thiên Trúc là thuộc Ấn Ðộ. Thời ấy, nước Ấn Ðộ gồm có năm vùng: Nam Ấn, Bắc Ấn, Ðông Ấn, Tây Ấn và Trung Ấn; và vị Sa môn này ở vùng Tây Ấn.

"Sa-môn" nghĩa là gì? Sa-môn là tiếng Phạn; Hán ngữ dịch là "cần tức" -- cần tu Giới Ðịnh Huệ, tức diệt tham sân si (siêng tu Giới Ðịnh Huệ, dứt sạch tham sân si).

Oai nghi của một vị Sa-môn [siêng tu Giới luật] là như thế nào? Tỳ-kheo Mã Thắng [luôn nghiêm trì oai nghi, giới luật] là một trong năm vị đệ tử xuất gia đầu tiên của Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni, và cũng là người có oai nghi tốt đẹp nhất. Lúc chưa gặp Phật, Tôn-giả Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên tình cờ thấy Tỳ-kheo Mã Thắng đắp y, ôm bình bát đi khất thực. Ngài vừa đi vừa nhiếp trì chánh niệmỒmắt quán mũi, mũi quán miệng, miệng hỏi lòng, mắt không nhìn dáo dác, tai không chực nghe ngóngỒtuy chân bước đều mà dáng vẻ so với nhập Ðịnh chẳng có gì khác biệt. Bấy giờ, hai Tôn-giả đều kinh ngạc: "Ồ! Sao người này lại có được tướng mạo tốt đẹp thế kia?" Và liền đến thỉnh giáo thầy Tỳ-kheo: "Chẳng hay Ngài học pháp ở đâu mà có được oai nghi tuyệt diệu như thế?"

Mã Thắng Tỳ-kheo đáp: "Tôi học oai nghi với Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni." Rồi Ngài đọc bài kệ:

"Chư pháp tùng duyên sanh,
Chư pháp tùng duyên diệt.
Ngã Phật Ðại Sa-môn,
Thường tác như thị thuyết."

Nghĩa là:

"Các pháp từ duyên sanh,
Các pháp theo duyên diệt.
Phật ta Ðại Sa-môn,
Thường dạy như vậy đó!"

Vị Sa-môn người xứ Tây Thiên-Trúc này chỉ để vỏn vẹn "Ðường Tây Thiên-Trúc Sa-môn," chứ không dùng hai chữ "Tam Tạng" trong danh xưng của mình, có lẽ vì Ngài chỉ thông đạt một hoặc hai tạng trong số ba tạng Kinh, Luật và Luận.

Già Phạm Ðạt Ma dịch. "Già Phạm Ðạt Ma" là tên của vị Sa-môn người xứ Tây Thiên-Trúc, và có nghĩa là "Kính Pháp" hoặc "Tôn Pháp." Ngài là một vị Sa-môn rất mực tôn kính giáo pháp của Ðức Phật, và chính ngài đã dịch bộ Kinh Ðà-La-Ni này từ tiếng Ấn Ðộ sang tiếng Trung Hoa.

(còn tiếp)

Trở về trang nhà