KINH LĂNG NGHIÊM

Kinh Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm

Hòa Thượng Tuyên Hóa Giảng

Phật Giáo Giảng Đường San Francisco 1968

 

NĂM  MƯƠI  ẤM  MA

 

 

          Phần sau rốt của kinh Lăng Nghiêm Đức Phật nói rõ về những ma sự mà người tu gặp phải nhất là trong thời kỳ tà sư đầy dẫy nầy, cho nên kinh Lăng Nghiêm được ví như kính chiếu yêu. Các yêu ma quỷ quái đều sợ nhất Kinh nầy, nên chúng tìm mọi cách hủy diệt kinh Lăng Nghiêm, tuyên bố kinh Lăng Nghiêm là giả, phỉ báng Chú Lăng Nghiêm, khiến cho người ta không tin, không nghiên cứu để rồi dễ lạc vào tà, làm quyến thuộc của chúng.

          Yêu quái, ly mỵ ma vương sợ nhất là Chú Lăng Nghiêm. Phật nói kinh Lăng Nghiêm để hiển bày Chú Lăng Nghiêm. Chú Lăng Nghiêm liên quan mật thiết đến sự hưng suy của Phật giáo. Trên thế gian nếu có người trì tụng Chú Lăng Nghiêm thì Chánh pháp tồn tại, nếu không có người trì tụng Chú Lăng Nghiêm thì không còn Chánh pháp; lúc ấy, ngũ đại ma quân ở năm phương mặc tình tác quái và đó là bắt đầu sự biến mất của Phật Pháp. Hiện tại chùa, tu viện không trì Chú Lăng Nghiêm hay chỉ tụng phần cuối của Chú thôi, ấy chính là biểu hiện của Mạt Pháp.

          Mong các Phật tử phát tâm nghiên cứu kinh Lăng Nghiêm để có được trí huệ chơn chánh, phát tâm trường trai, tránh ngũ vị tân mà trì tụng Chú Lăng Nghiêm hầu Phật Pháp được cửu trụ, chúng sanh được lợi lạc.

 

bdh

 

 

Kinh Văn:

 

Lúc bấy giờ Đức Như Lai sắp rời pháp tòa, nơi tòa sư tử Ngài vịn tay vào chiếc bàn bằng bảy báu. Nhưng, Đức Như Lai xoay thân hình mầu sắc núi vàng tía của Ngài lại, tựa lưng vào bàn và bảo khắp đại chúng cùng A Nan rằng: Các ông là hàng Duyên Giác, Thanh Văn hữu học, ngày nay, đã hồi tâm hướng về Vô Thượng Diệu Giác Đại Bồ Đề, và Như Lai cũng đã chỉ dạy pháp tu chân chánh rồi.

 

Giảng:

 

Lúc bấy giờ Đức Như Lai sắp rời khỏi pháp tòa. Đức Phật giảng sắp xong bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm.

          Nơi tòa sư tử Ngài vịn tay lên chiếc bàn bằng bảy báu. Đức Phật đang ở trên pháp tòa, tức tòa sư tử. Pháp âm của Đức Phật ví như tiếng gầm của sư tử. Khi sư tử gầm lên, tất cả loài thú đều sợ hãi. Nên chỗ Đức Phật ngồi giảng pháp được gọi là tòa sư tử. Chiếc bàn đặt phía trước Ngài được làm bằng bảy thứ báu.

          Nhưng Đức Như Lai xoay thân hình mầu sắc như núi vàng tía của Ngài lại, tựa lưng vào bàn và bảo. Thân của Đức Phật giống như ngọn núi bằng vàng tía ánh sáng rực khắp nơi. Khắp đại chúng và A Nan rằng: các ông là hàng Duyên Giác, Thanh Văn hữu học. Chưa chứng tứ quả A La Hán gọi là hàng hữu học. Duyên Giác do tu Thập Nhị Nhân Duyên Thanh Văn do tu Tứ Diệu Đế mà giác ngộ. Ngày nay đã hồi tâm hướng về Vô Thượng Diệu Giác Đại Bồ Đề. Các ông bây giờ đã hồi tâm từ Tiểu thừa hướng về Đại thừa. Các ông đã phát tâm cầu Vô Thượng Diệu Giác Đại Bồ Đề, muốn đắc được Đại Giác Ngộ, muốn đắc được cái Diệu Giác Vô Thượng.

          Như Lai cũng đã chỉ dạy pháp tu chân chánh rồi. Ta đã nói pháp tu chân chính cho các ông rồi.

 

Kinh Văn:

 

Nhưng các ông còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm trong lúc tu Chỉ, tu Quán. Ma cảnh hiện ra, ông không biết được, là do vì việc thanh tịnh tâm ý (tẩy tâm) của ông không chân chánh, mà rơi vào tà kiến.

 

Giảng:

 

Nhưng các ông còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm lúc tu Chỉ, tu Quán. Trước đây A Nan đã thưa thỉnh Đức Phật cách thức tu hành, Ngài đã vì chúng sanh trong đời vị lai mà thỉnh cầu giáo pháp. Dù bây giờ Ngài đã hiểu được đạo lý tu hành rồi nhưng vẫn còn chưa có được kinh nghiệm tu tập. Ngài đã hiểu được lý thuyết, nhưng do thiếu kinh nghiệm tu tập, nên Ngài không biết được những gì có thể xãy ra trong khi hành trì. Nên Đức Phật dạy: nhưng các ông vẫn còn chưa biết những ma sự nhỏ nhiệm lúc tu Chỉ, tu Quán. Tu Chỉ tức là tu Lăng Nghiêm Đại Định và tu Quán là tu pháp quán chiếu rất vi mật. Các ma sự nhỏ nhiệm sẽ xuất hiện vào lúc này. Trong tiến trình tu tập, rất nhiều ma sự, và những ma sự nầy không hiển nhiên rõ ràng, mà rất là vi tế.

          Nếu ông không biết được. Ma cảnh hiện khởi lúc ông dụng công tu đạo, khi các ông công phu phản văn văn tự tánh, nếu các ông không nhận ra và không biết thế nào là ma là vì do việc thanh tịnh tâm ý (tẩy tâm) của ông không chân chánh. Tuy ông thanh tịnh tâm ý hay (rửa tâm) nhưng có một chút không đúng, không phù hợp với chánh tri chánh kiến. Cho nên rơi vào tà kiến. Nếu tri kiến của ông có một chút không phải chánh tri chánh kiến thì ông sẽ đọa vào tà kiến, sẽ dính mắc ma.

 

 

Kinh Văn:

 

Ông sẽ bị quấy nhiễu bởi một loại ma từ ngũ ấm của ông, hoặc là ma từ cõi trờì, hoặc mắc quỷ, thần, hoặc gặp ly, mỵ. Nếu tâm không sáng suốt, ông sẽ nhận lầm kẻ giặc là con.

 

Giảng:

 

Ông sẽ bị quấy nhiễu bởi một loại ma từ ngũ ấm của ông. Đó là tự tâm ma, tự tâm ông sanh khởi ma. Mười loại ma phát sanh từ sắc uẩn chính là từ tự tâm ông sinh khởi.

          Hoặc là ma từ cõi trời. Tại sao thiên ma từ trên trời đến để quấy rầy ông? Vì ông, người tu hành, đã tu tới chỗ có định lực. Ông có một tí định lực không có gì quan trọng, nhưng cung điện của ma vương bị rúng động giống như bị động đất vậy. Vì ma vương cũng có thần thong, nên khi cung điện của nó bị rúng động , nó liền quan sát: A! Tại sao cung điện của ta lại vô duyên vô cớ rung rinh, tan vỡ thế nầy? Nó khám phá ra trên thế gian có người sắp sửa thành tựu đạo nghiệp; định lực của người tu đó khiến cho cung điện của nó đỗ vỡ. Thiên ma mới suy nghĩ: Mày muốn phá diệt tao hả? Tao sẽ phá hủy định của mày trước! Cho nên, nó đến phá hoại định lực của người tu hành

          Hoặc mắc quỷ thần . Quỷ thần cũng vậy: chúng thấy ông tu hành sắp sửa chứng quả thì ghen tức lắm. Hà! Mầy sắp chứng quả hả? Tao sẽ phá tiêu việc tu hành của mày. Thế rồi bọn chúng đục vô tâm hay gá nhập vào thân ông khiến cho định lực của ông không thể thành tựu được, khiến cho ông tẩu hỏa nhập ma. Nguyên do bị dính mắc ma, ở phần kinh văn phía trước không phải đã nói rồi sao? Đoạn kinh văn ấy rất ư trọng yếu. Vì sao bị ma dính vào? Vì thanh tịnh tâm ý không chân chánh, vì bởi ông lập tâm không chính, động cơ không chân chánh. Cho nên, nếu tâm ông có chút tà vạy thì, a ha!, dính ma ngay. Đó gọi là tẩu hỏa nhập ma: mất hỏa hầu, nhập vào ma.

          Hoặc gặp ly, mỵ, hoặc là vọng lượng. Các loại này đều là những loại yêu quái. Nếu tâm ông không sáng suốt, ông sẽ nhận lầm kẻ giặc là con. Khi gặp cảnh giới, tâm ông không nhận thức, không thấu suốt rõ ràng, thì ông sẽ nhận lầm kẻ cướp là con mình. Ông nghĩ xem, những thứ quý báu của ông, lẽ nào chúng không trộm đi, cướp mất? Khi ông dẫn cướp vào nhà, thì những thứ trân quý vô giá trong nhà đều bị nó lấy sạch. Cái gì là vật trân quý vô giá? Tôi xin thành thật nói cho các ông nghe, mong các ông nhớ lấy! Đừng nên nghi ngờ, không tin lời tôi nói. Vì sao? Vì nó quan hệ lớn lao đến tiền đồ và sinh mệnh của các ông. Vậy thì vật vô giá ấy là gì? Chính là bản hữu Như Lai Tạng Tánh của các ông. Như Lai Tạng Tánh của các ông chúng có thể đoạt lấy sao? 1

          Phần trước tôi đã không nói đến tinh, khí, thần rồi sao? Nếu các ông muốn khôi phục lại Như Lai Tạng Tánh, trước hết phải bảo trì tinh, khí, thần của mình. Nếu không giữ gìn chúng, thì của gia bảo của các ông sẽ bị cướp đoạt. Các ông hãy hết sức cẩn thận!

 

Kinh Văn:

 

Lại nữa, có khi được một ít cho là đủ. Như Tỳ Kheo Vô Văn đạt được Đệ tứ thiền, vọng ngôn cho rằng mình đã chứng Thánh, đến khi phước báo cõi trời hết rồi, suy tướng xuất hiện, liền phỉ báng quả vị A La Hán còn phải chịu sinh tử, nên liền rơi vào địa ngục A Tỳ.

 

Giảng:

 

Lại nữa, có khi được một ít cho là đủ. Trong khi tu tập, dù không bị dính mắc với quỷ thần, ông cũng cần phải có trí tuệ chân chính và có con mắt trạch pháp. Trạch là tuyển chọn, Pháp là Phật Pháp. Nếu ông nhận thức Phật Pháp, thì tự ông biết mình đang tu tập đạt đến trình độ nào. Đừng đắc được chút ít cho là đủ, rồi cảm thấy thỏa mãn như Tỳ Kheo Vô Văn đạt đến Đệ tứ thiền, vọng ngôn cho rằng mình đã chứng Thánh.  Gọi là Tỳ Kheo Vô Văn (dốt nát) vì ông ta không hiểu biết nhiều. Ông ta chỉ biết chút ít Phật Pháp. Ông ta Vô Văn (dốt nát) như thế nào? Cơ bản là bốn quả vị A La Hán đều vượt hơn Tứ Thiền Thiên. Đức Phật dạy: vị nào đạt được quả vị thứ tư (A La Hán), thì không còn chịu sanh tử luân hồi nữa. Vị Thánh khi chứng được quả vị thứ hai (Tư Đà Hàm) được gọi là Nhất Lai, phải còn thọ sanh một lần lên cõi trời và một lần trở lại trong cõi người . Còn phải trải qua một lần sanh tử nữa . Vị Thánh đạt quả vị thứ nhất (Tu Đà Hoàn) còn phải chịu trải qua bẩy lần sanh tử. Tất cả những cảnh giới này đều vượt trên cảnh giới của các cõi trời Tứ Thiền. Vô Văn Tỳ Kheo, trong quá trình tu tập, chỉ mới đạt đến Đệ Tứ Thiền Thiên mà thôi, nhưng ông ta tưởng rằng ông đã chứng được quả vị A La Hán. Thực ra, đắc được Đệ Tứ Thiền Thiên vốn không phải là chứng quả mà vẫn còn ở địa vị phàm phu.

          Nhưng Tỳ Kheo Vô Văn (dốt nát) nói rằng mình đã chứng A La Hán. Hiện nay có một số người, không những cho rằng quả vị A La Hán vẫn còn quá thấp, họ trơ tráo tuyên bố rằng chính họ là Phật. Nhưng một Đức Phật thì có đủ tam Thân, tứ Trí, Ngũ nhãn, Lục thong. Các ông có thể hỏi những người tự tuyên bố mình là Phật xem họ có được mấy món thần thong? Trong Lục thông thì ma quỷ có ngũ thong, chỉ thiếu lậu tận thong. Tôi tin chắc rằng những người tự cho mìnhlà Phật, đừng nói tới sáu thông hay năm thông, ngay cả một thông cũng chẳng thông. Vì một thông cũng chẳng có nên họ tự xưng là Phật. Nếu họ chỉ có một thông, họ đã không đưa ra lời đại vọng ngôn như thế.

          Khi phước báu cõi trời hết. Khi thọ mạng của ông ta ở cõi trời sắp hết, suy tướng xuất hiện. Khi thọ mạng của một chúng sanh ở cõi trời hết, khi họ sắp chết thì có năm dấu hiệu xuất hiện, gọi là ngũ suy tướng, Một là vòng hoa trên đầu héo rũ, hai là quần áo trở nên dơ bẩn, ba là nách xuất mồ hôi, bốn là thân thể trở nên hôi thối, năm không thể ngồi yên.

          Ông ta phỉ báng: Chứng A La Hán còn phải chịu sanh tử. Do vậy, liền rơi vào địa ngục A Tỳ. Thiên phước của ông ta đã hết, năm tướng suy xuất hiện, báo hiệu thọ mạng đến lúc chấm dứt, ông ta liền nổi giận. Vô Văn Tỳ Kheo tức giận điều gì? Ông ta nói Ta đã bị Phật lừa dối, Đức Phật là kẻ lừa đảo bịp bợm, Đức Phật nói rằng chứng được A La Hán thì vĩnh viễn không còn sanh tử luân hồi nữa. Tại sao bây giờ thọ mạng của tôi lại sắp kết thúc? Tại sao tôi còn tái sanh? Tại sao tôi còn phải bị luân hồi nữa? Đức Phật là kẻ lừa dối!. Một khi phỉ báng Đức Phật như thế, các ông nói xem điều gì xảy ra? Ông ta liền đọa vào A Tỳ địa ngục.

          Địa ngục A Tỳ còn gọi là địa ngục Vô Gián. Ông ta căn bản là không chứng A La Hán quả, mà tự tuyên bố đã chứng được, nên khi hưởng hết phước báo ở cõi trời xong, khi chấm dứt mạng sống ở đó, ông ta rơi vào địa ngục. Ông ta không nhận ra lỗi lầm của mình mà còn cho rằng Đức Phật giảng pháp không đúng. Thực sự Đức Phât đã nói rằng: Ông chưa chứng A La Hán, nếu đã chứng thì đương nhiên ông chẳng còn sanh tử luân hồi nữa! Sao lại còn có năm suy tướng hiện ra? Bởi vì hủy báng Đức Phật, nên Vô Văn Tỳ Kheo tức thời rơi vào địa ngục Vô Gián V A Tỳ địa ngục.

          Đó là kết cuộc của Vô Văn Tỳ Kheo. Còn những người tuyên bố là Phật thì kết cuộc ra sao? Các ông có thể thử tưởng tượng họ sẽ đi về đâu? Tôi không biết rồi họ sẽ đọa vào đâu nữa!

 

Kinh Văn:

 

Ông hãy nghe cho kỹ, Như Lai sẽ vì ông mà phân biệt chín chắn.

 

Giảng:

 

Ông hãy nghe cho kỹ. A Nan ông nên đặc biệt lưu ý, hãy lắng nghe cho kỹ, Như Lai sẽ phân biệt chín chắn, giảng nói tường tận, chi tiết cho ông và đại chúng nghe. Các ông chớ nên cô phụ tấm lòng của ta.

 

Kinh Văn:

 

A Nan đứng dậy, cùng chúng trong hội và hàng hữu học, vui mừng đảnh lễ, nhiếp tâm lắng nghe lời chỉ dạy từ bi của Đức Phật.

 

Giảng:

 

A Nan đứng dậy, cùng chúng trong hội. Đó là các vị Bồ tát, các vị Đại A La Hán, các vị Đại Tỳ Kheo và hàng hữu học, những người đã chứng được Sơ quả, Đệ nhị và Đệ tam quả A La Hán.

          Vui mừng đảnh lễ. Nghe Đức Phật sắp phân biệt tường tận, chi biết nên mọi người đều vui mừng đảnh lễ Đức Phật. Nhiếp tâm lắng nghe lời chỉ dạy từ bi của Đức Phật. Đại chúng nhiếp phục tâm niệm của mình lại, không có vọng tưởng, nhất tâm nghe Phật thuyết pháp.

 

Kinh Văn:

 

Đức Phật bảo ngài A Nan và cả đại chúng: Các ông nên biết, mười hai loại chúng sanh trong thế giới hữu lậu, đều có sẵn cái bổn tánh giác ngộ sáng suốt nhiệm mầu (bổn giác diệu minh), cái tâm thể giác ngộ tròn đầy ( giác viên tâm thể), cùng với mười phương chư Phật, không hai không khác.

 

Giảng:

 

Đức Phật bảo A Nan và cả đại chúng rằng: Tất cả các ông nên biết mười hai loại chúng sanh trong thế giới hữu lậu, đều có sẵn bổn tánh giác ngộ sáng suốt nhiệm mầu (bổn giác diệu minh) - bổn lai tánh giác, chân tâm diệu minh, cái tâm thể giác ngộ viên mãn (giác viên tâm thể) V cái tâm thể vừa viên mãn vừa giác ngộ, cùng với mười phương chư Phật, không hai không khác. Hoàn toàn giống nhau, chẳng khác chút nào. Mười phương chư Phật có sẵn cái bổn giác diệu minh, giác viên tâm thể, và mười hai loại chúng sanh cũng vậy. Cái bổn giác diệu minh, giác viên tâm thể nầy còn được gọi là Như Lai Tạng Tánh.

 

 

Kinh Văn:

 

Do vọng tưởng, ông mê muội chân lý sanh ra lỗi lầm, si và ái phát sinh, khiến mê cùng khắp, nên mới có hư không. Cái mê biến mãi không thôi, nên có thế giới sinh ra. Do vậy các cõi nước không phải vô lậu, nhiều như số vi trần trong mười phương, đều dựng lập từ mê, ngoan và vọng tưởng.

 

Giảng:

 

Do vọng tưởng, ông mê muội chân lý. Này A Nan, tự tánh của ông và tự tánh của mười hai loại chúng sanh cùng với chư Phật chẳng khác. Là một, là như nhau. Tuy nhiên, vì nương nơi chân mà ông dấy khởi vọng tưởng, trở nên mê muội chân lý, thành ra lỗi lầm sai trái từ đó mà phát sanh. Lỗi lầm lớn nhất là gì? Là ngu si và ái. Có thể nói si và ái là hai thứ, cũng có thể gom thành một thứ: Si và ái. Bởi vì có vô minh, thành ra thứ gì cũng không hiểu thấu, chỉ biết ái. Từ sáng đến tối chỉ nghĩ đến thứ này: đó là nghĩ đến sự dâm dục và ái dục. A! Chẳng thể buông bỏ dù chỉ trong chốc lát. Nếu các ông chú tâm, thích thú tham cứu Phật Pháp cũng như khi say mê ái dục vậy thì sẽ thành Phật rất chóng. Nhưng tiếc thay các ông không thể chuyển đổi ý thích dục lạc thành ý thích Phật Pháp. Do vậy, càng học Phật Pháp, càng thấy vô vị. Rằng: Tật xấu của tôi nhiều như thế đó, Phật Pháp đều nói toạc ra cả. Úi! Thật là tôi không muốn học chút nào. Phật Pháp kêu gọi tôi thay đổi tâp khí, làm sao mà tôi có thể làm được điều ấy? Đó là một ví dụ về si ái. Ở trên kinh văn có nói Do vọng tưởng, mê muội chân lý sinh ra lầm lỗi Nay tôi có thể nói rằng: Do lòng si ái mà sinh ra lầm lỗi

          Si ái phát sinh, khiến mê cùng khắp. Vì ông có si ái nên sinh ra mê muội. Chuyện gì cũng mê muội. Một khi si ái thì ông sẽ không còn hiểu biết rõ rang, chuyện gì cũng chẳng màng đến. Đọa địa ngục thì cũng mặc, sợ gì!. Chuyện gì ông cũng không lý tới.

Nên có hư không.  Vì si ái nên ông lầm lỗi, từ sáng đến tối cứ nghĩ đến người nữ. Nếu là người nữ thì cứ nghĩ đến người nam. Từ đó phát sanh ra một thứ tánh không hư vọng. Thứ mê này biến mãi không thôi nên có thế giới sinh ra. Từ một thứ mê biến ra hai thứ mê, hai thứ mê biến thành ba thứ mê, cứ thế tiếp tục không ngừng. Người thông minh nên chú ý vào đoạn kinh văn này, nhìn kỹ vào đây. Bởi vì đoạn văn này nói rõ đến tận xương cốt của quý vị, nói toạc ra tật xấu của các ông rồi đấy.

Do vậy, các cõi nước không phải vô lậu nhiều như số vi trần trong mười phương đều đưọc dựng lập từ mê, ngoan và vọng tưởng. Thế giới khắp mười phương không phải bất hoại. Nó không phải là thế giới vô lậu, vì nó không thể có thể tánh riêng biệt, mà chỉ là sự dựng lập của vọng tưởng. Mê nghĩa là mê muội không thấu suốt. Ngoan nghĩa là ngu si ương ngạnh. Thế giới đều là do vọng tưởng của các ông tạo thành, các ông có biết chăng?

 

 

* Ma quỷ không thể đoạt mất Như Lai Tạng Tánh, nhưng chúng có thể đoạt mất phương tiện, nhịp cầu để ta đạt tới Như Lai Tạng Tánh. Phương tiện ấy chính là: tinh, khí, thần. Khi phương tiện ấy bị phá hủy thì bạn sao thành Phật được.

 

(còn tiếp)

 

Trở về trang nhà