Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát

Qung Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni Kinh  

Hán dịch: Đường, Tây Thiên Trúc, Sa môn Già Phạm Đạt Ma

Thiền giảng: Vạn Phật Thánh Thành, Hòa Thượng Tuyên Hóa.

 

Kinh Văn:

Âm: HỰU DỮ VÔ LƯỢNG VÔ SỐ ÐẠI THANH VĂN TĂNG, GIAI HÀNH A LA HÁN THẬP ÐỊA, MA HA CA DIẾP NHI VI THƯỢNG THỦ.

 

Nghĩa: Lại có vô lượng vô số Ðại Thanh-Văn Tăng, tất cả đều hành A-la-hán ở Thập Ðịa; với ngài Ma-Ha Ca-Diếp làm thượng thủ.

 

Lược Giảng:

Lại có vô lượng vô số Ðại Thanh-Văn Tăng, tất cả đều hành A-la-hán ở Thập Ðịa; với ngài Ma-Ha Ca-Diếp làm thượng thủ. Trong Pháp hội còn có các bậc Ðại Thanh-Văn tu hạnh A-la-hán đã đạt đến quả vị Thập Ðịa, mà đứng đầu là Trưởng lão Ðại Ca-Diếp.

"A-la-hán" là tiếng Phạn (Arhat). Có ai còn nhớ "A-la-hán" dịch sang tiếng Anh là gì và có mấy nghĩa không? Người nào biết thì nên nói ra, không nên ngồi làm thinh như thế! Biết mà không chịu nói ra cho mọi người cùng nghe tức là "hà tiện" Pháp! ("Hà tiện Pháp" có nghĩa là bỏn xẻn, không muốn chia sẻ sự hiểu biết của mình với người khác.)

"A-la-hán" là quả vị cao nhất trong Thanh Văn thừa, và có ba nghĩa:

1) Ứng cúng (xứng đáng được nhận sự cúng dường của cõi người và cõi trời);

2) Sát tặc (giết giặc phiền não lậu hoặc);

3) Vô sanh (đã đoạn được sự sanh tử luân hồi).

"Tỳ-kheo" (và "Tỳ-kheo-ni") cũng có ba nghĩa; đó là những nghĩa gì?

Ðệ tử đáp: "Ðó là Phá ác, Ma ... ma sợ?"

Là "sợ ma"? Hay là "ma sợ"? Nếu quý vị đảo ngược hai chữ này thì ý nghĩa sẽ hoàn toàn khác hẳn. "Sợ ma" có nghĩa là quý vị sợ Ma-vương; còn "ma sợ" tức là Ma-vương sợ quý vị. Ở đây, từ ngữ mà chúng ta muốn nói đến là "bố ma"—tức là Ma-vương sợ quý vị, chứ không phải là quý vị sợ Ma-vương. Ma-vương sợ thầy Tỳ-kheo; song phải là thầy Tỳ-kheo tốt, có tu hành, có đạo hạnh, thì Ma-vương mới nể sợ; chứ nếu là vị Tỳ-kheo không tu hành, thì Ma-vương chẳng những không sợ mà còn lấn lướt, quấy nhiễu nữa là khác! Hễ quý vị chăm chỉ tu hành thì Ma-vương sẽ kính nể quý vị; còn nếu quý vị không tu hành, thì quý vị sẽ sợ Ma-vương!

Ngoài hai nghĩa "Bố ma" và "Phá ác," chữ "Tỳ-kheo" còn hàm nghĩa "Khất sĩ" (người đi xin).

Thập Ðịa là gì? Ðó là Sơ Ðịa, Nhị Ðịa, Tam Ðịa, Tứ Ðịa, Ngũ Ðịa, Lục Ðịa, Thất Ðịa, Bát Ðịa, Cửu Ðịa và Thập Ðịa.

"Thập Ðịa" được đề cập đến ở đây chính là Thập Ðịa của Bồ-tát Ðại thừa; và "A-la-hán ở Thập Ðịa" có nghĩa là bậc A-la-hán đã chứng đắc cảnh giới Bồ-tát Thập Ðịa.

Lúc giảng Kinh Ðịa Tạng, tôi đã nhiều lần giảng về thuật ngữ "Thập Ðịa" này:

 

"Ðịa Tạng Bồ tát chứng Thập Ðịa quả vị dĩ lai, thiên bồi đa ư thượng dụ."

(Từ lúc Bồ tát Ðịa Tạng chứng quả vị Thập Ðịa đến nay đã nghìn lần lâu hơn con số tỷ dụ nêu trên.)

(Kinh Ðịa Tạng, Phẩm thứ nhất)

Có ai còn nhớ Thập Ðịa là gồm những gì không? Có lẽ Quả Ðịa còn nhớ đấy. Quý vị có người nào còn nhớ không? Ai nhớ được thì hãy mau mau lên tiếng!

Ðệ tử: Viễn Hành Ðịa.

Sư Phụ: Viễn Hành Ðịa ư? Okay! Thế dịch sang tiếng Anh là gì?

Ðệ tử: Traveling Far.

Sư Phụ: Yes! Còn gì nữa?

Ðệ tử: Happiness (Hoan Hỷ Ðịa), Leaving Filth (Ly Cấu Ðịa), Emitting Light (Phát Quang Ðịa), Blazing Wisdom (Diệm Huệ Ðịa), Invincible (Nan Thắng Ðịa), Manifesting (Hiện Tiền Ðịa), Traveling Far (Viễn Hành Ðịa), Unmoving (Bất Ðộng Ðịa), Good Wisdom (Thiện Huệ Ðịa), Dharma Cloud (Pháp Vân Ðịa).

Sư Phụ: Yes, very good! Ðó gọi là Thập Ðịa.

1) Sơ Ðịa, hay địa thứ nhất trong Thập Ðịa, gọi là Hoan Hỷ Ðịa. Bồ-tát đạt đến địa vị này luôn luôn vô cùng hoan hỷ, vui vẻ.

Lúc Quán Thế Âm Bồ-tát còn ở địa thứ nhất này, sau khi được nghe Thiên Quang Vương Tịnh Trụ Như-Lai tuyên thuyết Chú Ðại Bi, thì Ngài liền chứng đắc quả vị Bát Ðịa—tức là đang từ Sơ Ðịa mà tiến vọt lên chứng đạt địa vị thứ tám là Bất Ðộng Ðịa. Chỉ những Bồ-tát đã đạt đến Bát Ðịa mới có Ðịnh lực chân chánh, mới thật sự không còn bị dao động.

Ở quả vị Hoan Hỷ Ðịa này, mọi lúc mọi nơi Bồ-tát đều hoan hỷ giáo hóa chúng sanh. Nhờ luôn ở trong sự hoan hỷ nên Bồ-tát có thể dứt sạch dần mọi cấu nhiễm dơ bẩn để chứng đắc địa thứ nhì—Ly Cấu Ðịa.

2) Ly Cấu Ðịa. Tại Sơ Ðịa, tuy Bồ-tát luôn luôn hoan hỷ nhưng vẫn chưa dứt sạch cấu nhiễm, chưa đạt được sự thanh tịnh. Ðến Nhị Ðịa, Bồ-tát mới tẩy sạch hết trần cấu nhiễm ô, được hoàn toàn thanh tịnh.

3) Phát Quang Ðịa. Bởi Bồ-tát đã hoàn toàn thanh tịnh, trong sạch, cho nên có hào quang phát ra; vì thế Tam Ðịa được gọi là Phát Quang Ðịa.

4) Diệm Huệ Ðịa. Trí huệ quang minh của Bồ-tát ở địa vị này thì có rực rỡ hơn, tiến bộ hơn và thù thắng hơn một bậc so với ở Phát Quang Ðịa.

5) Nan Thắng Ðịa. Trí huệ của bậc Bồ-tát ở Ngũ Ðịa thì không có gì có thể so sánh được.

6) Hiện Tiền Ðịa. Cái gì "hiện tiền"? Ở địa vị này, hào quang trí huệ của Bồ-tát luôn luôn hiện tiền. Tại các địa trước, có nơi Bồ-tát có trí huệ quang minh, nhưng không phải đều luôn luôn hiện tiền; còn đến địa thứ sáu này thì hào quang sáng rỡ của trí huệ lúc nào cũng tỏ rạng.

7) Viễn Hành Ðịa. Ðến địa thứ bảy này thì ánh sáng trí huệ quang minh của Bồ-tát không những luôn luôn hiện tiền, mà còn chiếu soi khắp cả Pháp Giới, nên gọi là Viễn Hành Ðịa.

8) Bất Ðộng Ðịa. Tại bảy địa trước, Ðịnh lực của Bồ-tát vẫn chưa thể gọi là chân chánh đạt đến cảnh giới "tịch quang bất động"; phải đến Bát Ðịa thì Bồ-tát mới thực sự được "tịch nhiên bất động, cảm ứng toại thông." Tuy là "bất động" song Bồ-tát vẫn có thể ứng hiện Bát Tướng Thành Ðạo1 , và làm Phật trong hàng trăm cõi giới. Bấy giờ, ở quả vị Bát Ðịa, nếu Bồ-tát muốn hiện thân đến thế giới khác để giáo hóa chúng sanh, thậm chí thành Phật, đều được cả.

Thế gian có những kỳ nhân ra đời trong một cái bọc, điển hình là Hư Vân Lão Hòa-Thượng. Khi chào đời, Ngài nằm gọn trong một cái bọc tròn trịa như quả cầu—ball—vậy. Trường hợp này gọi là sanh ra có "mặc y phục." Chào đời với "y phục" hẳn hoi là cảnh giới của hàng Bồ-tát từ Bát Ðịa trở lên, khi các ngài thị hiện giáng sanh ở thế gian. Sinh ra mà có mặc y phục tức là rất thanh tịnh, sạch sẽ. Các Bồ-tát thuộc bảy địa trước thì không đến trần thế bằng cách này.

9) Thiện Huệ Ðịa. Tại đây, trí huệ của Bồ-tát là vi diệu nhất, hoàn hảo nhất.

10) Pháp Vân Ðịa. Bậc Bồ-tát đạt đến địa thứ mười này thì ví như áng mây lành bao phủ khắp thái hư, từ bi phù hộ và độ trì tất cả chúng sanh.

"Ma-Ha Ca-Diếp" là tiếng Phạn (Mahàkàsyapa). "Ma-Ha" dịch là Ðại; "Ca-Diếp" dịch là Ẩm Quang.2 

 

Kinh Văn:

 

Âm: HỰU DỮ VÔ LƯỢNG PHẠM-MA-LA THIÊN, THIỆN-TRA PHẠM-MA NHI VI THƯỢNG THỦ.

Nghĩa: Lại có vô lượng Phạm-Ma-La Thiên, với ngài Thiện-Tra Phạm-Ma làm thượng thủ.

 

Lược Giảng:

Lại có vô lượng Phạm-Ma-La Thiên, với ngài Thiện-Tra Phạm-Ma làm thượng thủ. Trong Pháp hội còn có sự hiện diện của vô số Ma-vương cùng quyến thuộc đến từ cõi trời Phạm Thiên và Ma-La Thiên; và vị dẫn đầu của họ là ngài Thiện-Tra Phạm-Ma.3 

 

Kinh Văn:

 

Âm: HỰU DỮ VÔ LƯỢNG DỤC GIỚI CHƯ THIÊN-TỬ CÂU, CÙ-BÀ-GIÀ THIÊN-TỬ NHI VI THƯỢNG THỦ.

Nghĩa: Lại có vô lượng chư thiên-tử ở cõi Dục Giới đến câu hội, với Thiên-tử Cù-Bà-Già làm thượng thủ.

 

Lược Giảng:

Lại có vô lượng chư thiên-tử ở cõi Dục Giới đến câu hội. "Chư thiên-tử ở cõi Dục Giới" tức là chư thiên ở sáu cõi trời Dục Giới. Sáu cõi trời Dục Giới gồm có: 1) trời Tứ Thiên Vương, 2) trời Ðao Lợi, 3) trời Dạ Ma, 4) trời Ðâu Suất, 5) trời Hóa Lạc, 6) trời Tha Hóa Tự Tại.

 

Với Thiên-tử Cù-Bà-Già làm thượng thủ. Tất cả các thiên-tử ở sáu cõi trời này đều đến tham dự Pháp hội; trong đó, Thiên-tử Cù Bà Già làm thủ lãnh.4 

 

Kinh Văn:

 

Âm: HỰU DỮ VÔ LƯỢNG HỘ THẾ TỨ VƯƠNG CÂU, ÐỀ-ÐẦU-LẠI-TRA NHI VI THƯỢNG THỦ.

Nghĩa: Lại có vô lượng Hộ Thế Tứ Vương câu hội, với ngài Ðề-Ðầu-Lại-Tra làm thượng thủ.

 

Lược Giảng:

Lại có vô lượng Hộ Thế Tứ Vương câu hội, với ngài Ðề-Ðầu-Lại-Tra làm thượng thủ. Ngoài ra, các vị Thiên-vương của Tứ Vương Thiên cũng cùng nhau đến dự Pháp hội; trong đó, vua Ðề-Ðầu-Lại-Tra làm thủ lãnh.5 

 

Kinh Văn:

Âm: HỰU DỮ VÔ LƯỢNG THIÊN, LONG, DẠ XOA, CÀN THÁT BÀ, A TU LA, CA LÂU LA, KHẨN NA LA, MA HẦU LA GIÀ, NHÂN, PHI NHÂN ÐẲNG CÂU; THIÊN ÐỨC ÐẠI LONG VƯƠNG NHI VI THƯỢNG THỦ.

Nghĩa: Lại có vô lượng Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân câu hội; với Thiên Ðức Ðại Long Vương làm thượng thủ.

 

Lược Giảng:

Lại có vô lượng Thiên, Long, Dạ-xoa, Càn-thát-bà, A-tu-la, Ca-lâu-la, Khẩn-na-la, Ma-hầu-la-già, Nhân, Phi nhân câu hội.

"Dạ-xoa" là tên của một loài quỷ.

"Càn-thát-bà" là thần tấu nhạc ở chỗ Ngọc Ðế.

"A-tu-la" tuy có phước báo của cõi trời (thiên phước), song không có thiên đức và thiên quyền.

"Ca-lâu-la" tức là đại-bàng kim-xí điểu.

"Khẩn-na-la" cũng là thần tấu nhạc ở chỗ Ngọc Ðế.

"Ma-hầu-la-già" tức là đại mãng xà.

"Nhân, phi nhân" có nghĩa là loài người cùng những loài không phải người.6 

Với Thiên Ðức Ðại Long Vương làm thượng thủ. Trong số ấy, có một vị vua rồng tên là Thiên Ðức Ðại Long Vương làm thủ lãnh.

 

Kinh Văn:

 

Âm: HỰU DỮ VÔ LƯỢNG DỤC GIỚI CHƯ THIÊN NỮ CÂU, ÐỒNG-MỤC THIÊN NỮ NHI VI THƯỢNG THỦ.

Nghĩa: Lại có vô lượng chư thiên-nữ ở cõi Dục Giới câu hội, với Ðồng-Mục Thiên nữ làm thượng thủ.

 

Lược Giảng:

Lại có vô lượng chư thiên-nữ ở cõi Dục Giới câu hội, với Ðồng-Mục Thiên-nữ làm thượng thủ. Ngoài ra, vô số chư thiên-nữ từ sáu cõi trời Dục Giới cũng lũ lượt đến tham dự Pháp hội; và trong số đó có một thiên nữ tên là Ðồng Mục Thiên-nữ làm trưởng đoàn.

 

Kinh Văn:

 

Âm: HỰU DỮ VÔ LƯỢNG HƯ KHÔNG THẦN, GIANG HẢI THẦN, TUYỀN NGUYÊN THẦN, HÀ CHIỂU THẦN, DƯỢC THẢO THẦN, THỌ LÂM THẦN, XÁ TRẠCH THẦN, THỦY THẦN, HỎA THẦN, ÐỊA THẦN, PHONG THẦN, THỔ THẦN, SƠN THẦN, THẠCH THẦN, CUNG ÐIỆN ÐẲNG THẦN, GIAI LAI TẬP HỘI.

Nghĩa: Lại có vô lượng các vị thần như Thần Hư Không, Thần Sông Biển, Thần Suối Nguồn, Thần Sông Hồ, Thần Dược Thảo, Thần Thọ Lâm, Thần Nhà Cửa, cùng Thủy Thần, Hỏa Thần, Ðịa Thần, Phong Thần, Thổ Thần, Sơn Thần, Thạch Thần, Cung Ðiện Thần, v.v... đều đến tập hội.

 

Lược Giảng:

Lại có vô lượng các vị thần như Thần Hư Không. Quý vị có biết Thần Hư Không tên là gì không? Có ai biết không? Trong Kinh Lăng Nghiêm nói như thế nào?

 

"Thuấn-nhã-đa tánh khả tiêu vong,

Thước-ca-ra tâm vô động chuyển."

"Thuấn-Nhã-Ða" chính là tên của Thần Hư Không; Thuấn-Nhã-Ða là một vị Thần Hư Không. Tôi đã giảng rất nhiều về "Thuấn Nhã Ða," quý vị nhớ ra chưa? Ðó là thần Hư Không đấy mà! Quý vị nghe giảng kinh mà đều không chú ý! Nghe xong là trả lại cho tôi hết cả! Quý vị quả thật là không có lòng tham, ngay cả Pháp mà cũng không muốn giữ cho mình nữa!!! Hẳn là quý vị đã đạt đến cảnh giới "nhân không, Pháp không" rồi!

 

Thần Sông Biển. Ở các con sông lớn và biển cả đều có Thần Sông và Thần Biển cai quản.

 

Thần Suối Nguồn. Suối nước cũng có vị thần làm chủ suối.

 

Thần Sông Hồ. Ở các con sông nhỏ và ao hồ nhỏ cũng đều có những vị thần trông coi.

 

Thần Dược Thảo. Tất cả các loại thảo mộc có vị thuốc đều có thần cai quản.

 

Thần Thọ Lâm. Trong rừng cũng có vị thần cai quản khu rừng.

 

Thần Nhà Cửa. Ngay cả nhà ở cũng có vị Thần Nhà Cửa cai quản.

 

Cùng Thủy Thần, Hỏa Thần, Ðịa Thần, Phong Thần. Ðịa (đất), thủy (nước), hỏa (lửa), phong (gió)—cả bốn đại này đều có thần cai quản. Ðịa Thần vốn là một nữ thần, trước kia cô ta là một kẻ rất ngạo mạn, cho rằng chỉ có cô ta là Ðịa Thần, ngoài ra không có vị thần nào khác nữa. Ðến khi gặp Phật, Ngài thuyết pháp cho cô ta nghe rồi dạy rằng ngoài Ðịa Thần ra, còn có ba vị cũng là Thần Tứ Ðại nữa; đó là Thủy Thần, Hỏa Thần và Phong Thần. Thoạt đầu thì cô ta không chịu tin, nhưng sau khi Ðức Phật phương tiện dùng vô số tỷ dụ để giảng giải, cô ta hiểu ra và chịu tin theo. Vậy, trên đây là nói về bốn vị Thần Tứ Ðại.

 

Thổ Thần, Sơn Thần. Ðất đai, núi non đều có Thần Ðất và Thần Núi làm chủ quản. Theo truyền thuyết thì loài cọp chính là Sơn Thần, là chúa tể sơn lâm, cho nên trên núi thường thờ cúng "ông" Sơn Thần này.

 

Thạch Thần. Ngoài ra, ngay cả các tảng đá cũng đều có vị Thần Ðá cai quản.

 

Cung Ðiện Thần, v.v... đều đến tập hội. Các vị thần canh giữ cung điện và nhiều vị thần khác cũng cùng nhau tề tựu, tham gia Pháp hội.

Thường thì con sông nào cũng có một vị thần chủ quản, chẳng qua là phàm nhân không thể thấy biết đó thôi. Người nào đắc Thiên Nhãn Thông thì sẽ biết được rằng đâu đâu cũng có thần nhân cả—ở mọi nơi, vào mọi lúc, đều có vị thần túc trực để quản lý.

Ðức Phật có một đệ tử tên là Ca-Lưu-Ðà-Di, đã chứng đắc quả vị A-la-hán. Mỗi khi cần qua sông, Thầy thường gọi Thần Sông (Hà-thần) mà bảo rằng: "Bớ tiểu tỳ! Hãy ngưng chảy!" "Tỳ" có nghĩa là người đầy tớ gái, một người nữ đi làm công cho người ta. Do đó, "tiểu tỳ" tức là người làm công hay người hầu nhỏ thôi, chứ không phải là người hầu lớn! Vì sao Thầy lại bảo nước ngừng chảy? Bởi nước không còn chảy xiết nữa thì Thầy mới qua sông được. (Thường thì các vị đã chứng quả vị A-la-hán đi đến bất cứ chỗ nào có nước cũng có thể tùy tiện bảo nước ngừng chảy, để họ lội băng qua.)

Rồi cứ hết lần này tới lần khác, hễ muốn sang sông là Thầy Ca-Lưu-Ðà-Di đều gọi như thế. Thần Sông lấy làm không vui, bèn đến mách với Phật: "Bạch Ðức Thế Tôn! Ngài có một đệ tử nói năng không tế nhị chút nào. Mỗi khi gặp tôi, ông ta không những bất lịch sự mà còn gọi tôi là ‘tiểu tỳ’ nữa chứ! Ông ta lẽ ra không nên gọi tôi như vậy! Tại sao lại gọi tôi là ‘tiểu tỳ’ kia chứ?"

Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni đáp: "Thôi được, khi nào ông ấy về Ta sẽ bảo ông ấy đến xin lỗi ngươi."

Lúc Thầy Ca-Lưu-Ðà-Di về đến Tịnh-xá, Ðức Phật mới quở trách Thầy: "Vì sao mỗi lần qua sông ông cứ gọi Thần Sông là ‘tiểu tỳ’thế? Ông không nên thiếu tế nhị như vậy! Nói năng cần phải ý tứ, lễ độ một chút chứ!"

Rồi Phật lại dạy: "Này Ca-Lưu-Ðà-Di! Ông hãy đến gặp Thần Sông mà nhận lỗi, đích thân xin lỗi người ta ngay đi!"

Thầy Ca-Lưu-Ðà-Di vâng lời, hoan hỷ đến gặp Thần Sông và nói: "Này tiểu-tỳ! Ðừng phiền trách ta nữa nhé! Ta thật là không phải!"

Thần Sông vốn đã không muốn bị gọi là "tiểu tỳ," thế mà Thầy lại vẫn cứ oang oang: "Này tiểu-tỳ! Ðừng phiền trách ta nữa nhé!" Lúc bấy giờ, Ðức Phật Thích Ca Mâu Ni và các vị Ðại A-la-hán biết được chuyện thì đều bật cười. Vì sao các ngài cười ư? Bởi vì do gọi Thần Sông là "tiểu-tỳ" khiến thần không vui nên Thầy Ca-Lưu-Ðà-Di mới phải đi xin lỗi; thế mà khi gặp Thần Sông để tạ lỗi, Thầy lại buột miệng: "Này tiểu-tỳ..."

Biết là không đúng thì phải sửa lại, gọi là "Thần Sông," hoặc "Tôn thần," hoặc một danh xưng nào mà "dễ nghe" hơn cũng được; đằng này Thầy Ca-Lưu-Ðà-Di lại vẫn cứ gọi là "tiểu tỳ" như trước! Vì sao đã chịu đến nhận lỗi mà Thầy vẫn gọi Thần Sông là "tiểu tỳ"?

Ðó là vì trong năm trăm đời ở quá khứ, vị Thần Sông này đều là người làm công của gia đình Thầy Ca-Lưu-Ðà-Di, cho nên Thầy đã quen gọi "tiểu tỳ" như thế rồi. Ðời này tuy đã chứng quả A-la-hán song Thầy vẫn còn tập khí cũ, cho nên mỗi khi gặp Thần Sông, Thầy cứ quen miệng gọi là "tiểu tỳ." Ðây cũng là vấn đề nhân quả vậy!

Sự kiện trên chứng tỏ rằng ở bất cứ nơi nào cũng có thần cả; tuy nhiên, chúng ta không thể nào trông thấy hoặc gặp mặt những vị thần này như đối với người phàm được. Nếu quý vị đã mở Ngũ Nhãn, đắc Lục Thông, thì quý vị sẽ nhìn thấy được chư thần; nếu chưa có Ngũ Nhãn, chưa chứng Lục Thông, thì dù có thấy họ, quý vị cũng chẳng nhận ra được, cũng chẳng biết họ là ai!

 ____________

 1 Bát Tướng Thành Ðạo (tám tướng trạng thành Ðạo: 1) giáng sanh từ cung trời Ðâu-suất; 2) nhập thai; 3) trụ thai; 4) xuất thai; 5) xuất gia; 6) hàng ma; 7) chuyển Pháp-luân; 8) nhập Niết-bàn.

 2 Tôn giả Ma Ha Ca Diếp là một vị đại đệ tử của Ðức Phật, đứng đầu về hạnh Ðầu-đà. Lúc Ngài chào đời thì có hào quang lấn át cả ánh sáng của mặt trăng, mặt trời và các vì tinh tú.

 3 "Phạm-Ma-La Thiên" là tiếng Phạn (Brahma), gọi tắt là Phạm Thiên, là tên một cõi trời ở Sắc Giới. "Thiện-Tra Phạm-Ma" là tên của vị Thiên tử làm chủ cõi trời Phạm Thiên.

4 "Cù-Bà-Già" (Gopaka) là tên của một vị Thiên-tử ở Dục Giới, chuyên giữ pháp lành cho chúng sanh.

5 Hộ Thế Tứ Vương hay Hộ Thế Tứ Thiên Vương là bốn vị Thiên chủ của bốn cung trời ở bốn phương: 1) Phương Ðông là Trì Quốc Thiên Vương; 2) Phương Nam là Tăng Trưởng Thiên Vương; 3) Phương Bắc là Ða Văn Thiên Vương; 4) Phương Tây là Quảng Mục Thiên Vương.

"Ðề Ðầu Lại Tra" là tiếng Phạm (Dhrtaràstra), cũng gọi là Ðề Ða La Tra, tức là Trì Quốc Thiên Vương.

6 1) "Thiên," tiếng Phạm là Ðề-bà (Deva). Những người tu Thập Thiện thì sau khi mạng chung được sanh lên hưởng phước cõi trời.

2) "Long," tiếng Phạm là Na-già (Naga), dịch là rồng. Loài rồng này có thần thông biến hóa, hoặc canh giữ cung điện trên trời, hoặc giữ địa luân, hoặc làm mưa gió.

3) "Dạ-xoa’ là tiếng Phạm (Yasha), Trung Hoa dịch là "dõng kiện," "bạo ác" hay "tiệp tật." Ðây là một loài quỉ rất hung mãnh, bay đi mau lẹ, có phận sự canh giữ các thành trì trên trời.

4) "Càn-thát-bà" là tiếng Phạm (Gandnarva), Trung Hoa dịch là "hương âm." Ðây là thần tấu nhạc của trời Ðế Thích, và dùng hương thơm làm thức ăn, cho nên cũng gọi là Hương Thần hoặc Hương Âm Thần.

5) "A-tu-la’ là tiếng Phạm (Asura), Trung Hoa dịch là "phi thiên." A-tu-la là loài thần có phước trời mà đức không bằng trời, quyền biến không như cõi trời, có thần thông biến hóa, nhưng thân hình thô xấu, vì tiền kiếp tánh tình thường sân hận.

6) "Ca-lâu-la" là tiếng Phạm (Garuda); Trung Hoa dịch là "kim xí điểu." Ðây là một loại chim thần (thần điểu), cánh có lông màu vàng tốt đẹp, hai cánh xòe ra cách nhau đến 3.360.000 dặm, có thần thông biến hóa.

7) "Khẩn-na-la" là tiếng Phạm (Kinnara); Trung Hoa dịch là "nghi nhân." Ðây cũng là thần tấu nhạc cho Ngọc Hoàng Ðế Thích.

8) "Ma-hầu-la-già" là tiếng Phạm (Mahoràga); Trung Hoa dịch là "đại mãng" hoặc "địa long," tức là thần rắn.

Từ Thiên, Long cho đến Ma Hầu La Già là tám loài; gọi chung là Bát Bộ (tám bộ chúng).

"Phi nhân" là loại quỉ thần, hình như người mà không phải người, hoặc có sừng, có cánh, có móng vuốt.

(còn tiếp)

Trở về trang nhà | Về đầu trang