Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh


Hán dịch: Ðường, Tây Thiên Trúc, Sa Môn Già Phạm Ðạt Ma
Thiển giảng: Vạn Phật Thánh Thành, Hòa Thượng Tuyên Hóa.

 

Kinh Văn:

Âm: QUÁN THẾ ÂM NGÔN: "NHƯỢC THIỆN NAM TỬ, THIỆN NỮ NHÂN, TỤNG TRÌ THỬ THẦN CHÚ GIẢ, PHÁT QUẢNG ÐẠI BỒ-ÐỀ TÂM THỆ ÐỘ NHẤT THIẾT CHÚNG SANH, THÂN TRÌ TRAI GIỚI, Ư CHƯ CHÚNG SANH KHỞI BÌNH ÐẲNG TÂM, THƯỜNG TỤNG THỬ CHÚ MẠC LỆNH ÐOẠN TUYỆT, TRÚ Ư TỊNH THẤT, THÁO DỤC THANH TỊNH, TRƯỚC TỊNH Y PHỤC, HUYỀN PHAN NHIÊN ÐĂNG, HƯƠNG HOA BÁCH VỊ ẨM THỰC DĨ DỤNG CÚNG DƯỜNG, CHẾ TÂM NHẤT XỨ CÁNH MẠC DỊ DUYÊN, NHƯ PHÁP TỤNG TRÌ, THỊ THỜI ÐƯƠNG HỮU NHẬT QUANG BỒ-TÁT, NGUYỆT QUANG BỒ-TÁT, DỮ VÔ LƯỢNG THẦN TIÊN, LAI VI TÁC CHỨNG ÍCH KỲ HIỆU NGHIỆM."

Nghĩa: Quán Thế Âm Bồ-tát nói: "Nếu kẻ thiện nam hay người thiện nữ nào trì tụng Thần Chú này phải phát tâm Bồ-đề rộng lớn, thề độ tất cả chúng sanh, thân trì trai giới, đối với chúng sanh khởi tâm bình đẳng, thường tụng Chú này, chớ để gián đoạn. Lại nên ở chốn tịnh thất, tắm gội sạch sẽ, mặc y phục tinh khiết, treo phướn đốt đèn, dùng hương hoa cùng đồ ăn thức uống trăm vị để cúng dường, kềm tâm một chỗ, chớ theo dị duyên, trì tụng đúng Pháp. Lúc ấy sẽ có Nhật Quang Bồ-tát, Nguyệt Quang Bồ-tát, cùng vô lượng thần tiên đều đến chứng minh, làm tăng sự hiệu nghiệm."

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát nói: "Nếu kẻ thiện nam hay người thiện nữ nào trì tụng Thần Chú này, phải phát tâm Bồ-đề rộng lớn, thề độ tất cả chúng sanh." Người trì tụng Chú Ðại Bi không nên có tâm lượng nhỏ hẹp, không nên có lòng ích kỷ, không nên có lòng mưu lợi riêng tư, không nên có lòng đố kỵ, không nên có tâm chướng ngại; mà cần phải phát huy cái tâm Bồ-đề bao la—cái tâm giác ngộ rộng lớn—và phải phát nguyện phổ độ hết thảy chúng sanh, làm cho tất cả chúng sanh đều được xa lìa khổ não, hưởng sự an vui.

Lại nữa, người ấy cần phải "thân trì trai giới," phải giữ chay tịnh và phải thọ trì Ngũ Giới—không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu; đồng thời phải "đối với chúng sanh khởi tâm bình đẳng," xem muôn loài chúng sanh đều như nhau.

"Thường tụng Chú này, chớ để gián đoạn." Chúng ta cần phải tụng Chú Ðại Bi thật đều đặn, liên tục, không được gián đoạn. Nếu quý vị tùy tiện chỉ tụng một chốc lát rồi nghỉ, nghỉ ngơi chán rồi mới tụng tiếp, như thế là làm cho Chú bị gián đoạn, không được liên tục.

"Lại nên ở chốn tịnh thất." Lại nữa, người trì tụng Chú Ðại Bi cần phải sống ở nơi thanh tịnh, chẳng có pháp nhiễm ô; đồng thời phải thường xuyên "tắm gội sạch sẽ, mặc y phục tinh khiết."

Do đó, chúng ta tốt nhất là đừng mặc những y phục và giày vớ dành cho lúc tụng Kinh lạy Phật khi vào nhà vệ sinh. Tuy rằng nhà vệ sinh cũng rất sạch sẽ, nhưng dù sao thì đó cũng là nơi để phóng uế; cho nên đến nhà vệ sinh thì phải cởi áo Giới và áo tràng ra, và thay giày dép khác nữa. Trước đây tôi đã kể cho quý vị nghe rồi: Ấn Quang Lão Pháp Sư mỗi lần vào nhà vệ sinh là Ngài đều thay quần áo và giày vớ khác; rồi khi dùng nhà vệ sinh xong thì Ngài lại thay đồ, mặc lại y bào. Trong suốt mười tám năm sống ở núi Phổ Ðà, Ngài luôn luôn giữ nếp hành trì như thế. Người chân chánh trì giữ Giới Luật thì ngay cả những sai trái nhỏ nhặt nhất, vi tế nhất, họ cũng không hề vi phạm. Vì thế, quý vị cần phải nhớ kỹ: Phải cởi y bào và thay giày dép khác trước khi vào nhà vệ sinh—tuyệt đối không được mặc Giới y và áo tràng mà vào nhà vệ sinh!

"Treo phướn, đốt đèn, dùng hương hoa cùng đồ ăn thức uống trăm vị để cúng dường." Kế đến, người thiện nam tín nữ đó nên treo phướn lên cao và thắp đèn cho sáng; đồng thời sắm sửa hương thơm, các loại hoa muôn màu muôn sắc, cùng đồ ăn thức uống đủ mùi đủ vị để cúng dường Tam Bảo.

"Kềm tâm ở một chỗ, chớ theo dị duyên." Quý vị phải kiềm giữ cái tâm mình ở một chỗ, trong lòng không sanh vọng tưởng, chẳng khởi tạp niệm, và cũng đừng xen vào những duyên sự khác. "Chớ theo dị duyên" tức là không phan duyên, tâm trí không vướng mắc, không nghĩ ngợi những sự việc khác nữa.

"Trì tụng đúng Pháp." Nếu người thiện tín đó y chiếu theo phương pháp và những chỉ dẫn trên đây mà tụng trì Chú Ðại Bi, thì "lúc ấy sẽ có Nhật Quang Bồ-tát, Nguyệt Quang Bồ-tát, cùng vô lượng thần tiên đều đến chứng minh, làm tăng sự hiệu nghiệm."

Nhật Quang Bồ-tát và Nguyệt Quang Bồ-tát là hai vị Bồ-tát phát nguyện hộ trì Chú Ðại Bi đắc lực nhất—hễ người nào trì niệm Chú Ðại Bi thì hai vị Bồ-tát này sẽ phù hộ, che chở người đó từng giây từng phút. Bấy giờ, ngoài hai vị Bồ-tát Nhật Quang và Nguyệt Quang ra, còn có vô lượng vô biên thần tiên khác cũng đến để chứng giám cho người thiện tín đó: "Ừ, có người đang trì tụng Chú Ðại Bi ở đây, vậy ta phải đến phù hộ cho người đó mới được!"; và khiến cho những mong cầu của người tụng Chú đều được hiệu nghiệm. "Hiệu nghiệm," cũng gọi là "ứng nghiệm," hoặc "linh nghiệm," tức là đạt được sự linh ứng thiêng liêng, mầu nhiệm.

 

Kinh Văn

Âm: "NGÃ THỜI ÐƯƠNG DĨ THIÊN NHÃN CHIẾU KIẾN THIÊN THỦ HỘ TRÌ, TÙNG THỊ DĨ VÃNG SỞ HỮU THẾ GIAN KINH THƯ TẤT NĂNG THỌ TRÌ, NHẤT THIẾT NGOẠI ÐẠO PHÁP THUẬT, PHỆ-ÐÀ ÐIỂN TỊCH, DIỆC NĂNG THÔNG ÐẠT. TỤNG TRÌ THỬ THẦN CHÚ GIẢ, THẾ GIAN BÁT VẠN TỨ THIÊN CHỦNG BỆNH TẤT GIAI TRỊ CHI, VÔ BẤT SI GIẢ; DIỆC NĂNG SỬ LỆNH NHẤT THIẾT QUỶ THẦN, HÀNG CHƯ THIÊN MA, CHẾ CHƯ NGOẠI ÐẠO."

Nghĩa: "Bấy giờ, Ta dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay hộ trì, làm cho người ấy từ đó về sau có thể thọ trì tất cả sách vở thế gian, thông đạt tất cả điển tịch Phệ-đà cùng pháp thuật của ngoại đạo. Người nào tụng trì Thần Chú này thì có thể trị được tám vạn bốn ngàn thứ bệnh ở thế gian, chẳng bệnh nào không khỏi; lại cũng có thể sai khiến được tất cả quỷ thần, hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo."

 

Lược Giảng:

"Bấy giờ, Ta dùng ngàn mắt chiếu soi, ngàn tay hộ trì." Quán Thế Âm Bồ-tát nói tiếp: "Lúc ấy, Ta sẽ dùng một ngàn con mắt để dõi theo và duỗi một ngàn cánh tay ra để che chở, hộ trì người tụng Chú Ðại Bi đó. Chẳng những thế, Ta còn làm cho người ấy từ đó về sau có thể thọ trì tất cả sách vở thế gian, thông đạt tất cả điển tịch Phệ-đà1 —kinh điển của ngoại đạo—cùng pháp thuật của ngoại đạo. Người nào tụng trì Thần Chú này thì có thể trị được tám vạn bốn ngàn thứ bệnh ở thế gian, chẳng bệnh nào không khỏi."

Thế gian này có tới tám vạn bốn ngàn thứ bệnh mà Chú Ðại Bi đều có thể trị lành được tất cả. Bất luận là bị cancer hoặc mắc phải bệnh gì đi nữa, nếu quý vị thành tâm thiết tha tụng niệm Chú Ðại Bi thì đều được khỏi bệnh. Những bệnh nan y, bất cứ thuốc men gì cũng không chữa trị được, thì Chú Ðại Bi đều có thể trị lành được; vì thế mà nói là "vô bất si giả" (chẳng bệnh nào không khỏi.)

Trong câu "vô bất si giả," chữ "si" hàm ý lành bệnh, khỏi bệnh. Theo Hán tự, chữ "si" này nếu có thêm chữ "bệnh" đứng bên cạnh thì thành ra chữ "sái," có nghĩa là lành bệnh, hết bệnh. Như vậy, câu trên sẽ là "vô bất sái giả," và ngụ ý là chẳng có bệnh nào mà không thuyên giảm, chẳng có bệnh nào mà không trị lành cả!

Ngoài ra, người trì tụng Chú Ðại Bi "lại cũng có thể sai khiến được tất cả quỷ thần." "Sai khiến được tất cả quỷ thần" là thế nào? Tức là người ấy bảo làm việc gì thì các quỷ thần liền răm rắp làm việc đó, bảo đi đâu thì lập tức đi đấy. Chẳng những thế, người ấy còn có thể "hàng phục thiên ma, chế phục ngoại đạo" nữa.

 

Kinh Văn:

Âm: NHƯỢC TẠI SƠN DÃ, TỤNG KINH TỌA THIỀN, HỮU CHƯ SƠN TINH TẠP MỊ VỌNG LƯỢNG QUỶ THẦN, HOẠNH TƯƠNG NÃO LOẠN, TÂM BẤT AN ÐỊNH GIẢ, TỤNG THỬ CHÚ NHẤT BIẾN, THỊ CHƯ QUỶ THẦN TẤT GIAI BỊ PHƯỢC DÃ."

Nghĩa: "Nếu ở chốn sơn dã tụng Kinh tọa Thiền mà có các sơn tinh, tạp mị, vọng lượng, quỷ thần, hoành hành não loạn làm cho tâm không được an định, tụng Chú này một biến thì các quỷ thần đó đều bị trói lại hết."

 

Lược Giảng:

"Nếu ở chốn sơn dã tụng Kinh tọa Thiền mà có các sơn tinh, tạp mị, vọng lượng, quỷ thần, hoành hành não loạn làm cho tâm không được an định..." Giả sử quý vị sống ở chốn núi non vắng vẻ, không người lai vãng, mà tụng Kinh hay ngồi Thiền, thì thường có các quỷ thần như sơn yêu thủy quái, ly mị vọng lượng đến quấy nhiễu, tác oai tác quái, khiến cho quý vị bị loạn tâm. Bấy giờ, nghĩ đến việc tụng Kinh thì quý vị cảm thấy rất phiền muộn, chán chường: "Tụng Kinh để làm gì kia chứ?"; hoặc muốn ngồi Thiền nhưng vừa ngồi xuống thì vọng tưởng lại mon men dấy lên: "Ngồi thế này thật không thoải mái chút nào. Hết đau chân thì lại mỏi lưng mỏi cổ, ê ẩm cả người. Ui chao, thôi đứng dậy quách cho rồi!"

Vì sao lại như thế? Ðó là vì quý vị bị chúng ma tới quấy nhiễu, chọc phá, làm cho quý vị thấy trong lòng bứt rứt xốn xang, không thể nào ngồi yên được. Chúng lại tỉ tê dụ dỗ: "Ngồi Thiền để làm gì? Thôi, đừng tu hành nữa, theo bọn tôi đi chơi đi, ngoài kia có nhiều trò vui chơi náo nhiệt lắm! Bạn ở đây thì phải nào là tụng Kinh, nào là ngồi Thiền, lại còn phải tuân theo đủ các thứ quy củ luật lệ rắc rối nữa, chẳng thú vị gì cả! Hãy mau mau nhập bọn làm quyến thuộc với chúng tôi đi! Xem kìa, thế giới của chúng ta thật là nhộn nhịp v.v..."

Ma Vương còn có thể xui khiến quý vị sanh khởi những vọng tưởng như: "Nam nữ hành dâm là không thành vấn đề." Chúng ma là những kẻ phá hoại, chúng đến cốt để phá hoại Ðịnh tâm, phá hoại Giới tâm và phá hoại Huệ tâm của quý vị, làm cho Giới Ðịnh Huệ của quý vị đều tiêu tan.

Muốn tu hành theo Bồ-tát Ðạo thì quý vị cần phải có mười thứ tâm; thế nhưng hễ bị Ma Vương quấy phá thì mười thứ tâm ấy liền bị lung lay, không thể an trụ vững vàng được nữa! Bấy giờ, tâm quý vị vốn "trụ" ở đức Tín song nay thì tín tâm không còn nữa; mà không có Tín Tâm thì sẽ sanh lòng "bất tín."

Quý vị muốn giữ tâm trì niệm, nhớ nghĩ—muốn chuyên chú tụng Kinh, niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng—thì Ma Vương lại xui khiến quý vị trở nên ngần ngừ do dự: "Thôi, đi ngủ một giấc cho khỏe!" Và như thế là cái lòng niệm tưởng của quý vị cũng tiêu tan.

"Niệm Tâm" không có thì lòng tinh tấn cũng chẳng còn, quý vị không còn hăng hái tu học nữa: "Có chắc là tu hành thì sẽ thành Phật được hay không? Biết đâu đó chỉ là chuyện hoang đường, không đáng tin?" Và thế là cái tâm tinh tấn này cũng chẳng "trụ" được nữa.

Tâm Tinh Tấn không "trụ" thì không có tâm trí huệ—Huệ Tâm cũng chẳng "trụ" được.

Huệ Tâm không "trụ" thì không có Ðịnh Tâm—Ðịnh Tâm cũng chẳng "trụ" được.

Ðịnh không "trụ" thì không có Tâm Bất Thối—"bất thối tâm" liền biến thành "thối tâm." Hễ sanh tâm thối chuyển thì sẽ không còn lòng hộ trì Phật Pháp; bấy giờ quý vị sẽ khởi những vọng tưởng như: "Mình cần gì phải cúng dường Tam Bảo? Ðể Tam Bảo cúng dường cho mình chẳng tốt hơn ư?" Như có những cư sĩ đòi hỏi Tam Bảo phải hộ pháp cho họ, đó cũng là điển hình của trường hợp tâm Hộ Pháp không "trụ" vậy.

Tâm Hộ Pháp không "trụ" thì tâm hồi hướng cũng không "trụ"—không có tâm hồi hướng.

Tâm Hồi Hướng không có thì Giới Tâm cũng chẳng "trụ," quý vị cũng chẳng còn chú ý thọ trì Giới Luật nữa.

Và cuối cùng là Nguyện Tâm cũng chẳng "trụ" nữa; thế thì còn phát nguyện gì nữa? Bấy giờ quý vị sẽ nghĩ ngợi lẩn thẩn: "Tôi không phát nguyện, không hứa hẹn điều gì cả. Tôi muốn thế nào thì cứ thế ấy, tự do biết bao! Tội gì lập nguyện rồi chính mình lại bị ràng buộc bởi lời nguyện đó? Như thế thì gò bó quá, mất tự do nhiều quá!" Thế là Nguyện Tâm cũng chẳng "trụ" nữa.

Như vậy, mười "trụ tâm" biến thành mười "bất trụ tâm." Vì sao quý vị lại có mười "bất trụ tâm" ư? Ðó là do sự phá hoại của Ma Vương! Ma Vương chui luồn len lỏi vào mọi ngỏ ngách trong tâm quý vị, khiến tư tưởng của quý vị có sự biến chuyển.

"Tụng Chú này một biến thì các quỷ thần đó đều bị trói lại hết." Nếu quý vị gặp phải tình trạng như trên, trong lòng cảm thấy phiền não, bứt rứt rối loạn, đó là bởi Ma Vương muốn phá hoại quý vị; bấy giờ, quý vị hãy tụng Chú Ðại Bi một biến, tức thì các quỷ thần và Ma Vương sẽ bị tóm bắt và trói gô lại bằng dây thừng.

 

Kinh Văn:

Âm: "NHƯỢC NĂNG NHƯ PHÁP TỤNG TRÌ, Ư CHƯ CHÚNG SANH, KHỞI TỪ BI TÂM GIẢ, NGÃ THỜI ÐƯƠNG SẮC NHẤT THIẾT THIỆN THẦN, LONG VƯƠNG, KIM CANG MẬT TÍCH, THƯỜNG TÙY VỆ HỘ, BẤT LY KỲ TRẮC, NHƯ HỘ NHÃN TINH, NHƯ HỘ KỶ MẠNG."

Nghĩa: "Nếu người ấy có thể tụng trì đúng pháp, đối với chúng sanh khởi lòng từ bi, thì lúc đó Ta sẽ sai bảo tất cả Thiện Thần, Long Vương, Kim Cang Mật Tích, thường theo hộ vệ, không rời bên mình, như gìn giữ tròng mắt, như bảo hộ tánh mạng của chính họ vậy."

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát dạy tiếp: "Nếu người ấy có thể tụng trì đúng pháp... " Thứ "pháp" mà Quán Thế Âm Bồ-tát nói đến ở đây là pháp gì? Ðó là pháp "Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn"—pháp môn Bốn Mươi Hai Bàn Tay! Quý vị phải biết rằng: Hiện tại tôi giảng Kinh Ðại Bi bởi vì quý vị cần phải hiểu rõ mọi chỉ dẫn để có thể tu tập cho đúng pháp. "Y pháp thọ trì" tức là tu tập và hành trì đúng theo những gì đã dạy trong pháp Tứ Thập Nhị Thủ Nhãn, và đó không phải chỉ tụng làu làu một mách từ "Nam Mô Hắc Ra Ðát Na Ða Ra Dạ Da. Nam Mô A Lị Da..." cho đến hết bài Chú Ðại Bi là đủ. Không phải đơn thuần như thế! Cho nên, đối với pháp môn này, quý vị cần phải được "chân truyền," tức là phải được chính thức và thật sự truyền dạy một cách đúng đắn thì mới được; bằng không, nếu không được chân truyền, mà chỉ toàn là nói suông và xem kinh nghĩa thôi, thì chẳng thể nào hiểu nổi!

Vậy, nếu người trì tụng Chú Ðại Bi chẳng những trì tụng đúng theo giáo pháp mà còn có thể "đối với chúng sanh khởi lòng từ bi, thì lúc đó Ta sẽ sai bảo tất cả Thiện Thần, Long Vương, Kim Cang Mật Tích, thường theo hộ vệ, không rời bên mình." Ở đây, "Ta" tức là tiếng tự xưng của Quán Thế Âm Bồ-tát; Ngài nói rằng: "Lúc bấy giờ, Ta—Quán Thế Âm Bồ-tát—sẽ ra lệnh cho chư vị Thiện Thần, Long Vương, Hộ Pháp Kim Cang, Mật Tích Bồ-tát, phải luôn luôn theo sát bên mình người trì tụng Chú Ðại Bi ấy." Như vậy tức là có tám vạn bốn ngàn vị Kim Cang Tạng Bồ-tát thường xuyên sát cánh, kề cận bên mình người đó để bảo vệ.

Do đó, những người tụng trì Ðại Bi Chú, tu trì Ðại Bi Pháp, cần phải nhớ là không nên sanh dục niệm, chớ khởi những vọng tưởng về desire; bởi chư Hộ Pháp Thiện Thần đều theo sát bên quý vị, mà nếu tâm trí quý vị cứ lởn vởn thứ vọng tưởng đó, thì các ngài nhận thấy: "Tên này thật là tệ, chẳng giữ gìn quy củ gì cả! Thôi, ta không muốn che chở, bảo vệ hắn nữa!"

Cho nên, quý vị tu pháp thì không được sanh vọng tưởng, không được mơ mộng nhớ nhung cô girlfriend này hay cậu boyfriend nọ! Nếu quý vị cứ mơ tưởng vẩn vơ như thế, Kim Cang Tạng Bồ-tát sẽ phải lấy bảo chùy đánh cho quý vị thức tỉnh, và quý vị nếu không đau đầu thì cũng nhức mình nhức mẩy. Cho nên, nếu quý vị bị nhức đầu hoặc cơ thể cảm thấy đau đớn khó chịu, đó có thể là do bị Kim Cang Tạng Bồ-tát trừng phạt đấy; Ngài bảo: "Nhà ngươi thật là tồi tệ, chẳng tuân giữ quy củ gì cả! Hư hỏng quá sức!"

Cho nên, quý vị cần phải thận trọng hơn, đừng bê bối cẩu thả nữa—không được một mặt thì tụng Chú Ðại Bi, mặt khác lại khởi tà tri tà kiến, dấy sanh vọng tưởng! Hễ tâm quý vị vừa dấy động thì chư Bồ-tát Hộ Pháp lập tức biết được ngay; bởi các Ngài có Ngũ Nhãn Lục Thông, có thể thấy tường tận được con người của quý vị từ ngoài vào trong như nhìn xuyên qua lớp thủy tinh trong suốt vậy!

Quý vị chớ tưởng rằng: "Vô lý, các Ngài làm sao biết được những ý nghĩ thầm kín của tôi?" Nếu các Ngài không biết, thì các Ngài đã không được tôn xưng là Phật, là Bồ-tát, là Hộ Pháp! Thế nên, quý vị chớ hoài công đánh lừa các ngài vô ích. Quý vị không được có lòng cầu may hoặc lừng khừng: "Không sao đâu! Chỉ là vọng tưởng trong đầu mà thôi, đâu thành vấn đề!" Quý vị phải biết, cái vọng tưởng này vừa dấy khởi thì tâm quý vị liền trở thành tâm nhiễm ô chứ không phải là tâm Ðại Bi nữa!

"Như gìn giữ tròng mắt, như bảo hộ tánh mạng của chính họ vậy." Chư vị Hộ Pháp sẽ che chở bảo vệ người trì Chú Ðại Bi chẳng khác nào bảo vệ đôi mắt hoặc sanh mạng của chính các Ngài vậy.

____________

 

1 Phệ-đà là tiếng Phạn (Veda), Trung Hoa dịch là Minh-luận hoặc Trí-luận, có nghĩa là kinh sách thuyết minh sự thật và phát sanh trí huệ. Ðây là kinh sách của phái Bà-la-môn (Trung Hoa dịch là Tịnh-hạnh hoặc Phạm-hạnh, chỉ cho phái tu hạnh trong sạch).

 

(còn tiếp)

Trở về trang nhà | Về đầu trang