Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Ðại Viên Mãn Vô Ngại Ðại Bi Tâm Ðà La Ni Kinh


Hán dịch: Ðường, Tây Thiên Trúc, Sa Môn Già Phạm Ðạt Ma
Thiển giảng: Vạn Phật Thánh Thành, Hòa Thượng Tuyên Hóa.

 

Kinh Văn:

 

Âm: 

"NGÃ KHIỂN TỲ LÂU LẶC XOA VƯƠNG,

TỲ LÂU BÁC XOA TỲ SA MÔN.

THƯỜNG ÐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.

 

NGÃ KHIỂN KIM SẮC KHỔNG TƯỚC VƯƠNG,

NHỊ THẬP BÁT BỘ ÐẠI TIÊN CHÚNG,

THƯỜNG ÐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.

 

NGÃ KHIỂN MA-NI BẠT ÐÀ LA,

TÁN CHI ÐẠI TƯỚNG PHẤT LA BÀ,

THƯỜNG ÐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.

 

NGÃ KHIỂN NAN ÐÀ, BẠT NAN ÐÀ,

BÀ GIÀ LA LONG Y BÁT LA,

THƯỜNG ÐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.

 

NGÃ KHIỂN TU LA, CÀN THÁT BÀ,

CA LÂU, KHẨN NA, MA HẦU LA,

THƯỜNG ÐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ.

 

NGÃ KHIỂN THỦY HỎA LÔI ÐIỆN THẦN,

CƯU BÀN TRÀ VƯƠNG, TỲ XÁ XÀ,

THƯỜNG ÐƯƠNG ỦNG HỘ THỌ TRÌ GIẢ."

 

 

Nghĩa:

"Ta sai Tỳ Lâu Lặc Xoa Vương,

Tỳ Lâu Bác Xoa Tỳ Sa Môn,

Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.

 

Ta sai Kim Sắc Khổng Tước Vương,

Hai mươi tám bộ Ðại Tiên chúng,

Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.

 

Ta sai Ma Ni Bạt Ðà La,

Tán Chi Ðại Tướng, Phất La Bà,

Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.

 

Ta sai Nan Ðà, Bạt Nan Ðà,

Bà Già La Long, Y Bát La,

Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.

 

Ta sai Tu La, Càn Thát Bà,

Ca Lâu, Khẩn Na, Ma Hầu La,

Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì.

 

Ta sai Thủy, Hỏa, Lôi, Ðiển Thần,

Cưu Bàn Trà Vương, Tỳ Xá Xà,

Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì."

 

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát nói tiếp: "Ta sai Tỳ Lâu Lặc Xoa Vương, Tỳ Lâu Bác Xoa Tỳ Sa Môn, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì." Ðây đều là tên của các vị Hộ Pháp Thần Vương của Tứ Ðại Thiên Vương. Các vị này từng giây từng khắc theo bảo vệ người trì tụng Chú Ðại Bi.

 

"Ta sai Kim Sắc Khổng Tước Vương, Hai mươi tám bộ Ðại Tiên chúng, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì." "Khổng Tước Vương" chính là Ðại Bàng Kim Sí Ðiểu (chim đại bàng cánh vàng). "Hai mươi tám bộ Ðại Tiên chúng" tức là "nhị thập bát tú"—hai mươi tám vì tinh tú. Lúc giảng Kinh Lăng Nghiêm tôi đã giảng cho quý vị nghe cả rồi.

 

"Ta sai Ma Ni Bạt Ðà La, Tán Chi Ðại Tướng Phất La Bà, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì." Quán Thế Âm Bồ tát lại phái Ma Ni Bạt Ðà La cùng Tán Chi Ðại Tướng Phất La Bà, vốn là những vị Kim Cang Hộ Pháp, đến ủng hộ người trì Chú Ðại Bi.

 

"Ta sai Nan Ðà, Bạt Nan Ðà, Bà Già La Long, Y Bát La, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì." Nan Ðà và Bạt Nan Ðà đều là những vị Long Vương; còn Bà Già La Long và Y Bát La là Hộ Pháp của Long Vương.

 

"Ta sai Tu La, Càn Thát Bà, Ca Lâu, Khẩn Na, Ma Hầu La, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì." Quán Thế Âm Bồ tát lại phái A Tu La cùng với Nhạc Thần Càn Thát Bà của Ngọc Ðế, và luôn cả Ca Lâu Na, Khẩn Na La, Ma Hầu La thuộc Thiên Long Bát Bộ, tất cả phải thường xuyên theo phù hộ người trì tụng Chú Ðại Bi.

 

"Ta sai Thủy, Hỏa, Lôi, Ðiển Thần, Cưu Bàn Trà Vương, Tỳ Xá Xà, Thường theo ủng hộ kẻ thọ trì." "Thủy, hỏa, lôi điển thần" tức là thủy thần (thần nước), hỏa thần (thần lửa), lôi thần (thần sấm) và điển thần (thần sét). Cưu Bàn Trà và Tỳ Xá Xà vốn là quỷ, nay đều biến thành kẻ hộ pháp và cùng nhau bảo vệ người trì Chú. Cho nên, quý vị chỉ cần niệm Chú Ðại Bi thì ngay cả ma cũng đến hộ pháp cho quý vị.

 

 

Kinh Văn:

Âm: "THỊ CHƯ THIỆN THẦN, CẬP THẦN LONG VƯƠNG, THẦN MẪU NỮ ÐẲNG, CÁC HỮU NGŨ BÁCH QUYẾN THUỘC ÐẠI LỰC DẠ XOA, THƯỜNG TÙY ỦNG HỘ TỤNG TRÌ ÐẠI BI THẦN CHÚ GIẢ."

Nghĩa: "Các vị thiện thần cùng thần Long Vương, thần Mẫu Nữ này, mỗi vị có năm trăm Ðại Lực Dạ-xoa làm quyến thuộc, thường theo ủng hộ người trì tụng Thần Chú Ðại Bi."

 

 

Lược Giảng:

"Các vị thiện thần cùng thần Long Vương, thần Mẫu Nữ này, mỗi vị có năm trăm Ðại Lực Dạ-xoa làm quyến thuộc." Tất cả các vị thiện thần hộ Pháp kể trên—Thiên Long Bát Bộ, Tứ Thiên Vương, cùng hết thảy long chúng, quỷ chúng, thần chúng, và hết thảy Kim Cang Lực Sĩ, thần Long Vương, thần Mẫu Nữ, ...—mỗi một vị đều có năm trăm quyến thuộc. Những quyến thuộc ấy toàn là quỷ Ðại Lực Dạ Xoa và tất cả đều "thường theo ủng hộ người trì tụng Thần Chú Ðại Bi."

 

 

Kinh Văn:

Âm: "KỲ NHÂN NHƯỢC TẠI KHÔNG SƠN KHOÁNG DÃ, ÐỘC TÚC CÔ MIÊN, THỊ CHƯ THIỆN THẦN, PHIÊN ÐẠI TÚC VỆ, TÍCH TRỪ TAI CHƯỚNG.

NHƯỢC TẠI THÂM SƠN, MÊ THẤT ÐẠO LỘ, TỤNG THỬ CHÚ CỐ, THIỆN THẦN LONG VƯƠNG, HÓA TÁC THIỆN NHÂN THỊ KỲ CHÁNH ÐẠO.

NHƯỢC TẠI SƠN LÂM KHOÁNG DÃ, PHẠT THIỂU THỦY HỎA, LONG VƯƠNG HỘ CỐ, HÓA XUẤT THỦY HỎA."

Nghĩa: "Người đó, nếu ở nơi không sơn khoáng dã ngủ nghỉ một mình, các thiện thần này sẽ thay phiên túc trực bảo vệ, ngăn trừ tai chướng; nếu ở nơi thâm sơn quên đường lạc lối, tụng trì Chú này, thiện thần, Long Vương sẽ hóa làm thiện nhân chỉ đúng đường về; nếu ở nơi núi rừng khoáng dã, thiếu thốn nước lửa, Long Vương vì ủng hộ sẽ biến hóa ra nước lửa."

 

 

Lược Giảng:

Quán Thế Âm Bồ-tát nói tiếp: "Người đó, nếu ở nơi không sơn khoáng dã ngủ nghỉ một mình..." "Không sơn" tức là nơi vắng vẻ, không có người ở. "Khoáng dã" là nơi rất hoang vu, rất ít người lai vãng. Như vậy, giả sử người trì Chú Ðại Bi đó sống đơn độc một mình ở chốn núi rừng hoang vắng để tu hành, thì "các thiện thần này sẽ thay phiên túc trực bảo vệ."

"Thay phiên (phiên đại)" tức là luân phiên, lần lượt thay phiên nhau. Chẳng hạn vị thiện thần này tức trực bảo vệ trong hai tiếng đồng hồ, sau đó có vị khác đến thay thế; vị mới đến này canh gác được hai tiếng đồng hồ thì lại có một vị khác nữa đến gác thay. Hoặc là, vị rồng này đến túc trực bảo vệ được hai giờ đồng hồ thì có vị thần đến bảo: "Hết phiên của ngài rồi, ngài hãy về nghỉ đi. Bây giờ đến lượt tôi bảo vệ người này!" Rồi hai tiếng đồng hồ sau thì có thể là đứa con trai lớn của Quỷ Tử Mẫu xuất hiện và nói: "Hết phiên trực của ngài rồi đấy, chắc ngài cũng tired lắm rồi. Ngài hãy về nghỉ ngơi đi, tôi sẽ ở đây tiếp tục bảo vệ người này!" Ðó gọi là "phiên đại túc vệ," tức là thay phiên nhau túc trực để sẵn sàng bảo vệ người trì Chú Ðại Bi.

 

"Ngăn trừ tai chướng." Người trì Chú Ðại Bi đó nếu có tai nạn gì thì đều được tiêu trừ, tai qua nạn khỏi, bình an vô sự; nếu có chướng ngại gì thì cũng được hóa giải, không thể xảy ra.

 

"Nếu ở nơi thâm sơn mà quên đường lạc lối, tụng trì Chú này, thiện thần, Long Vương sẽ hóa làm thiện nhân chỉ đúng đường về." Giả sử quý vị đi vào sâu trong núi và bị lạc đường, mất phương hướng, không phân biệt được đông tây nam bắc là đâu với đâu; lại thêm cây cối um tùm rậm rạp che khuất ánh sáng mặt trời, khiến cho quý vị càng thêm hoang mang bối rối, không biết phải theo hướng nào mà đi cho đúng. Bấy giờ, nếu quý vị có thể tụng niệm Chú Ðại Bi thì chư thiện thần cùng Long Vương sẽ biến thành người để chỉ đường cho quý vị: "Hãy đi về phía này!" và dẫn đường cho quý vị.

 

"Nếu ở nơi núi rừng khoáng dã, thiếu thốn nước lửa, Long Vương vì ủng hộ sẽ biến hóa ra nước lửa." Giả sử người trì tụng Chú Ðại Bi phải ở chốn thâm sơn cùng cốc, hoang vu vắng vẻ, chịu thiếu thốn mọi bề, hoàn toàn không có nước và cũng chẳng có lửa, thì Long Vương vì muốn bảo vệ và giúp đỡ người đó, sẽ biến hóa ra nước và lửa cho người đó dùng.

Bây giờ tôi tổng hợp bài Chú Ðại Bi, tóm tắt ý nghĩa toàn bài bằng bốn câu kệ như sau:

Ðại Bi Ðại Chú thông địa thiên,

Nhất bách nhất thiên Thập Vương hoan,

Ðại bi đại từ năng khử bệnh,

Nghiệt kính nhất chiếu biển cao huyền.

(Ðại Chú Ðại Bi xuyên trời đất,

Ngàn ngày trăm biến, mười vua vui,

Ðại từ đại bi trừ bệnh tật,

Gương nghiệt soi tới, biển treo cao!)

 

"Ðại Bi Ðại Chú thông địa thiên" (Ðại Chú Ðại Bi xuyên trời đất). Ở đây có Ðại Chú đại từ đại bi, vốn là "Chú trung chi vương" (vua trong các loại Chú), thông thiên triệt địa, suốt trời thấu đất. Một khi quý vị niệm Chú Ðại Bi thì các vị thần ở cõi trời đều kính cẩn đến lắng nghe. Cả các loài quỷ cũng vậy, ai nấy đều cung kính chắp tay và quỳ xuống yên lặng lắng nghe quý vị tụng Chú Ðại Bi. Vì sao Chú Ðại Bi có công năng hàng phục thiên ma, chế ngự ngoại đạo? Bởi vì bè lũ thiên ma ngoại đạo hễ nghe tới Chú Ðại Bi thì chẳng khác nào nhận được hiệu lệnh, tất cả đều phải răm rắp y theo mệnh lệnh mà thi hành.

 

"Nhất bách nhất thiên Thập Vương hoan" (ngàn ngày trăm biến, mười vua vui). Một ngàn ngày tức là ba năm. Nếu quý vị mỗi ngày có thể tụng Chú Ðại Bi đủ một trăm lẻ tám (108) biến, và cứ đều đặn tụng niệm như thế trong ba năm—hoặc là mỗi ngày tụng một ngàn biến và tụng suốt ba năm thì càng tốt hơn nữa—thì Thập Ðiện Diêm Quân (mười vua Diêm La cai quản mười điện) ở địa ngục sẽ sanh lòng hoan hỷ, và bảo rằng: "Hay lắm! Người này đang tu Chú Ðại Bi!" Nếu có thể tu pháp Ðại Bi, niệm Chú Ðại Bi một trăm lẻ tám biến, đồng thời lại có thể tu pháp Bốn Mươi Hai Thủ Nhãn nữa, thì sẽ được rất nhiều lợi ích, công hiệu gấp bội,

 

"Ðại bi đại từ năng khử bệnh" (đại từ đại bi trừ bệnh tật). Như tôi đã nói ở phần trước, trên thế gian này có tám vạn bốn ngàn thứ bệnh, nếu quý vị thành tâm trì niệm Chú Ðại Bi thì đều trị lành được cả.

 

"Nghiệt kính nhất chiếu biển cao huyền" (gương nghiệt soi tới, biển treo cao). Trong địa ngục, ở chỗ của Thập Ðiện Diêm Quân có một đài gương, trên đó đặt một tấm gương soi, gọi là "nghiệt kính đài" (đài gương soi tội). Vì sao gọi là "nghiệt kính đài"? Khi đọa địa ngục, nhìn vào gương soi tội này thì quý vị sẽ thấy hiện lên tất cả những tội nghiệt mà mình đã gây tạo lúc còn sống. Mọi hành vi, việc làm của quý vị đều hiện ra trong gương—rõ ràng từng cảnh mục, từng chi tiết, chẳng khác nào trên màn ảnh xi-nê vậy. Chẳng hạn trước kia quý vị đã từng giết người, thì trong gương sẽ hiện rõ cảnh giết chóc đó. Quý vị hoặc là đã từng ăn trộm ăn cướp, làm điều bất chánh, ăn gian nói dối, rượu chè cờ bạc ... nhất nhất mọi hành vi của quý vị trước đây đều hiện ra đầy đủ trong tấm "nghiệt kính," chẳng sót điều gì.

Nếu quý vị là người trì tụng Chú Ðại Bi thì khi dùng nghiệt kính để soi sẽ không thấy hiện lên gì cả, bởi mọi tội nghiệt mà quý vị gây ra đều đã tiêu tan, không còn nữa. Bấy giờ, trong địa ngục sẽ treo cho quý vị một tấm biển, trên đó có viết rằng: "Tất cả quỷ thần đều phải cung kính, tôn trọng người này. Ðây là một người thọ trì Chú Ðại Bi." Và đó là ý nghĩa của câu "nghiệt kính nhất chiếu biển cao huyền."

(còn tiếp)

Trở về trang nhà | Về đầu trang