Lời Cảnh Tỉnh

Sư Cô Chứng Nghiêm

Sư Cô Chứng Nghiêm (Master Cheng Yen) quê quán ở tỉnh Ðài Trung, Ðài Loan. Năm 23 tuổi cô xuất gia, sống đời thanh đạm tu hành. Vào thời ấy vì hoàn cảnh khó khăn, cô đã phải làm nhang, đèn cầy, đậu hủ, bán để giúp chùa và duy trì sinh hoạt cá nhân. Thấy sự khổ sở của đồng bào, cô đã phát đại nguyện hành đạo bồ tát để cứu tế chúng sinh. Với đại nguyện và tinh thần vì người quên mình, nhiều nhân duyên bất khả tư nghì đã cảm ứng, để đến năm 1966, cô thành lập Từ Tế Công Ðức Hội (Buddhist Compassion Relief Tzu Chi Foundation). Thế rồi trãi qua hơn ba mươi năm cần khổ phục vụ, hội đã giúp không biết bao nhiêu người nghèo khổ bịnh tật và vì vậy hội đã trở thành một trong những tổ chức từ thiện cung ứng nhu cầu về y tế, phục vụ, giáo dục, văn hóa tích cực nhất ở Ðài Loan. Hiện tại Buddhist Compassion Relief Tzu Chi Foundation đã có chi nhánh tại Nam Phi, Á Căn Ðình, Bỉ, Hoa Kỳ cũng như Nhật Bản, Thái Lan... Sư Cô được trao tặng Ramon Magsaysay Award năm 1991 và cũng đã được đề nghị lảnh giải thưởng Nobel Hòa Bình năm 1993. Những lời khuyên sau đây là lời cô bản thân kinh nghiệm, nói lại cho chúng ta để đối diện với hoàn cảnh thực tế mỗi ngày.

 

PHẦN 16: 
Đời Người Hữu Hạn, Thế Giới Vô Hạn

(Đạo với tánh, tín và mê)


Thế gian thì đủ thứ ngôn ngữ, văn tự, danh vọng, địa vị, đủ thứ màu sắc mê hoặc, đủ thứ hình thái kiều diễm... Vì chúng thiên hình vạn trạng, nên chẳng phải chân thật.

 Thứ gì biến động đều không phải là Đạo. Nó chỉ là công cụ để ta tu Đạo mà thôi. Do đó mình phải biết thủ biết xả nó; phải khéo léo xử dụng nó thì mới không chấp trước, mê mờ.

 Đối với người tu Đạo thì ngôn ngữ, văn tự cũng giống như chiếc thuyền. Vì muốn tới bờ bên kia nên phải khéo dùng thuyền đó. Tới bờ rồi, bỏ thuyền thì mới đạt Đạo. Chớ luyến tiếc làm gì.

 Ngôn ngữ đạo đoạn: nghĩa là khi ở trong vòng giới hạn của nhân sinh đối diện với sự vô hạn của thế giới, thì thứ gì có thể nói được, viết được đều không thể diễn đạt cảnh giới vô hạn. Dù cho người có tâm hướng Đạo, chân chính muốn thuyết pháp, muốn truyền Đạo, nếu dựa vào ngôn ngữ thì Đạo sẽ đoạn mất. Chân Đạo thì chẳng thể nhờ vào văn tự ngôn ngữ mà truyền thọ đặng.

 Đạo chân chính, thật tại thì không phải do nghe hay nhìn mà đắc được. Ra ngoài sự nghe và nhìn: mình phải chân chính thực hành, tu trì. Chỉ có hành vi thiết thực, thật tiễn thì mới biễu đạt được chân Đạo.

 Thói quen xấu không phải là Chân tánh đâu. Từ nơi thói quen ấy ta phải thể hội, tu trì, khế hợp lấy Chân tánh. Đó gọi là thần hội: dùng tinh thần để thể hội, liễu ngộ Chân tánh ấy.

 Không có hình thức thì không thể hiển thị được nội dung. Nhưng hình thức cần phải giữ trung đạo, không được quá man dã, không được rối loạn. Nhất là không thể xem nhẹ, quên mất rằng “hình thật như nhất”. 

 Nếu nói chuyện gì cũng có (cũng tồn tại) là mê - quan điểm mê muội. Nếu nói chuyện gì cũng không (chẳng hiện hữu) là đoạn - cái nhìn hạn hẹp. Nói có là chấp trước vào lý thường hằng, nói không là chấp trước vào lý đoạn diệt.

 Đa số tâm người ta thì mê tín. Người mê tín thì cho rằng trong toàn bầu trời chỉ có mình ta hay nhất, chỉ mình ta có năng lực giỏi dang hơn hết. Mình cần tự tin, song không được chấp trước.

 Có người khi chưa tin Phật thì không tin có thiên đàng địa ngục. Do vậy họ cứ tham lam dục vọng, hưởng thụ, tạo ra không biết bao việc ích kỷ, hại người. Một khi tin Phật rồi, họ lại mê muội rằng có thiên đàng, có địa ngục nên sinh lòng tham lam công đức. Cả hai thứ đều là mê.

 Hãy nuôi dưỡng dũng khí và nghị lực để đối diện với thực trạng; hãy dùng tâm hoan hỷ để tiếp nhận mọi cảnh giới. Không nên động một chút là cầu thần, coi bói. Nếu tâm mê muội thì thật khổ lắm. Khổ đến thân thì mình khó tự chủ được.

 Nếu chọn giữa vô tín và mê tín thì thà vô tín còn hơn mê tín. Khi tin thì tin cho có trí huệ, không nên “bắt gió, chụp bóng” (làm việc vô ích, không thể thành).

 Vì mê tín thì không bằng vô tín nên khi học Phật mình nhất định phải chuyển mê tín thành trí huệ, rời bỏ lòng phiền não của chúng sinh, trở về lại Phật tánh thanh tịnh vô nhiễm.

 Trí tín (tin với trí huệ) thì thể hội sâu xa tinh thần Phật Pháp. Mê tín thì hiểu sai lạc (rồi giải thích lầm lẫn) mỹ ý của tôn giáo. 

 Nếu bạn có tín ngưỡng đúng đắn thì trên con đường đời bạn sẽ không đi lạc hướng. Khi quan niệm của người ta không đúng thì không thể có chính nghiệp (hành động chân chính, đúng đắn). Khi quan niệm lệch lạc thì những việc làm ra rất dễ sai lầm.

 Tôn giáo có chính tín thì làm người ta có tâm chính. Tâm chính thì khí thạnh (khí tức là đức hạnh), khí thạnh thì mới tự tại. Tôn giáo có tà tín thì làm ta sinh nghi ngờ, sinh tâm tà, đầu óc đen tối, chuyên cầu thần, bói toán. Khi tin vào xăm, vào toán số thì khó chân chính hiểu sâu giáo lý được.

 Phật pháp có chính tín thì không nói tới cảm ứng, không nói tới thần thông, chỉ dạy: duy tâm là Phật.

(còn tiếp)




(tiếp theo)

 

Trở về trang nhà | Về đầu trang