Phật Tổ Đạo Ảnh

 

Cu T

Bài Ta Xưa

 

Ông lão Mặt vàng[1], trong 49 năm, chẳng thuyết mà là thuyết, không thân mà hiện thân. Hình ảnh và giáo pháp khắp cùng bốn biển, pháp âm vang dội đại thiên. Ngôn ngữ bặt mọi đường, hình tướng kiếm chẳng thấy. Mới hay, bậc Thánh là vô hình, tùy theo vật mà có hình; Thánh nhân không nói, thuận theo cơ duyên mà nói ra.  

Cuối đời cầm bông hoa, phó chúc Ca Diếp; bốn bẩy hai ba[2], phân hình biến ảnh. Hai cây quế tỏa hương[3], năm nhánh mọc ra rậm rạp[4]. Một vầng trăng trong, muôn ngàn sóng nước óng ánh. Hoặc ẩn thân nơi hang hốc, tiếng hú rợn người; hoặc xuôi tay vào chợ, tùy nghi liệu lý; hoặc núi cao nổi sóng, chẳng hiểu mối manh; hoặc bụi tung đáy nước, khó lường ý chỉ. Con cháu cùng khắp thiên hạ, tuy biết tên mà chẳng thấy được hình.  

Cho nên, chùa Vân Phúc chúng tôi có Khải Công thiền sư, từng nuôi chí bao năm, lòng thành kiên cố, thường cảm thán rằng: “Không làm cho rõ được diện mục các Tổ xưa, nêu cao cho mọi người trông thấy trước mắt, khiến cho họ biết được cội nguồn, thì con cháu làm sao cho phải đạo!”. Bởi đó mà đội nón dầm sương, lặn lội đi tìm, gõ cửa khắp nơi, cầu cho được thợ khéo, để khắc họa tượng hình chư Tổ, rồi tự tay biên soạn, nào lược truyện, nào tán từ, mong mỏi thiên hạ đời sau, chiêm ngưỡng các dung nhan mà suy tư tận ngàn năm về trước.  

Chùa Vân[5] còn việc Phật sự, mà Khải Công tuổi đã lớn, chẳng chịu vui đạo ở chốn non xanh, riêng mình miệt mài lo lắng, chẳng biết tiếc thân. Không phải là người hết lòng cho đạo pháp, thử hỏi làm sao được như vậy! Hỏi rằng: “Đã bảo bậc Thánh là chẳng có hình, vậy một số ảnh tượng đó ở đâu mà ra?” Đáp: “Mây quang thì không có mưa, chẳng thể tỏ thực được Đạo vậy!”

 

Mùa hoa cúc năm Khang Hy Bính Thìn

Phúc Thành Ngũ Sơn, Tịnh Phạm đề

 

Thành Kính Tán  

Pht T Đo nh Ca Sư T Vân Công Lão Nhân

 

Hong-Tu Linh-Mc

(8 bài)

 

  1. Bch mã đông lai truyn ha tượng

     C cung tng c ngưỡng nghi hình

     Bin hương kim nht dung thân chích

     Dch dch tu mi chiếu nhãn thanh.

 

Dch:

          Tượng v truyn qua theo bch mã

          C cung còn nh ngm linh hình

          Nay đt nhang thơm thân đnh l

          Thiên nhan rng r mt tinh anh.

 

Thái Âm đi thnh kinh v, kiếm được mt th lông d mu trng làm bút v hình Pht, t đó ông được coi như v t đu tiên miêu ha tượng Pht.

Năm Giáp Tý, nhân ghé Yên Kinh, thăm C Cung, Ung Hòa Cung, T Quang Các, được dp chiêm ngưỡng các tác phm đi Đường ha đc Thích Ca, các ngài Di Lc, Văn Thù, Huyn Trang, Lc T, vy mà không bng nay xem tp Pht T Đo nh có đy đ các thế h.  

 

2.     Hà trưng bác thái k kinh niên

        Tây thánh đông hin tp nht biên

        Tòng th danh sơn vĩnh hình th

        Quang mang hà ch chúc tam thiên

 

 3.    Thượng t niêm hoa vi tiếu niên

        Ngũ gia hương ha nht đăng truyn

        Thp tông vn phái như yên hi

        Ch chưởng khán lai nhược nhãn tin.

 

Dch:

Xa gn gom góp đã bao niên

Tây thánh đông hin mt tp biên

Danh tú hình xưa ghi li mãi

Đuc soi đâu ch cõi tam thiên

 

Đc Pht niêm hoa s tích biên

Năm nhà nhang khói mt đèn truyn

Mười tông vn phái như sương bin

Ta thy bàn tay trước mt lin.

 

Đo nh gm bn quyn, thâu thp các hình tượng k t đc Thích Ca tr đi cho đến các v thuc dòng Nam Nhc, Thanh Nguyên, ri trong Giáo tông, Lut tông, Liên tông, c các v thánh hin ng hóa, không b sót.

Nhân được phc th bên cnh Vân Công, nên có dp thì được đích thân Vân Công, tay tr, ming dn gii, ch này, ch kia, nào cơ duyên, nào tiu s, rt k càng chng khác gì đếm các ht châu đ gia bo vy.      

 

4.     Bưu đng đáo x qung sưu la

        Thương hi di châu võng cánh đa

        Trường chú pháp đăng diên th dim

        Th công ninh ch nghĩ Hng sa

 

Dch:

        Thư t qua li khp sưu tra

        Bin c mò châu lưới quét là

        Đèn pháp luôn châm gìn đuc tu

        Công này hà ch sánh Hng sa?

         

T đin tch đến các bài ghi chú ca tư gia, Vân Công đu gom góp li, đng thi còn gi thư đến chùa miếu nơi các danh sơn đ tra hi tin tc làm tư liu.

Trong s các tôn túc, nếu đích thc đã được truyn Chánh Pháp Nhãn Tng, hoc v nào có nhiu công đc cho vic hong pháp li sanh thì cu cho được chân tượng ri cho làm bn khc đ biu dương, do đó s tôn tượng đã tăng hơn trăm bc so vi bn ca Đi sư Th Nht. Còn chn lc nhân vt thì căn c vào đo hnh chân thit, nếu không phi vy mà ch là loại có tiếng tăm nht thi cũng không ghi li trong Đo nh.

 

5.     Hiu khám ng d nht đăng thanh

        Th nhãn hà tng thun tc đình

        B di đính ngy tâm dic kh

        V giao lai t thc sư tha

 

Dch:

         Đèn xanh mt ngn trn đêm ngày

         Đc sa k gì mi mt tay

         B khuyết sa sai lòng cam kh

         Truyn tha k li h tương lai

 

Chư T xut x như thế nào, cơ duyên ra sao, Vân Công đu dng công tra cu. Mi ln gp khúc mc gia các tài liu thì Công dùng gii pháp chiết trung. Khi đính chánh mt bn gc nào, hoc b khuyết mt chi tiết nào, s kho chng cũng được ghi chú rõ trong quyn đu ca tp Đo nh.

 

 6.  Ho hãn t nguyên

      Tp bút điên năng

      Không chư tượng bit

      Ngôn thuyên phi đ

      Ngã bi công văn

      T gin qu hi

      Cam khi ngu nhiên    

 

Dch:

Bát ngát ngun văn

Cao vi ngn bút

Không mi hình tướng

Lìa hết ng ngôn

Làm văn công chúng ta

La ch t thành qu

Há phi chuyn ngu nhiên?

 

Các bài truyn và tán đ kèm theo vi các tượng nh đu do Vân Công t tay son c. Đc qua, Tu tôi thường hết lòng thán phc s tài tình trong li văn, ng cú, s tinh tế trong ý tưởng, khiến chân ý hin hin qua ngn bút ca Vân Công. Đây chng phi là ch mà phường hu bi chúng tôi, nhng k b chướng ngi trong văn t, có th mơ ước ti, mà cũng chng phi là loi văn trúc trc, c ý làm cho khó hiu.  

Lun v văn chương, thì tác phm vượt hn lên chót vót, hơn c hàng Tư Đ Biu Thánh na.  

 

7.  Tướng ho quang minh t nht đường

     Táo lê tuyên cánh mc sinh hương

     Nh thiên cu bách dư niên hu

     Hu tác đoàn loan đi đo tràng

 

Dch:

     Tướng ho hào quang t mt đường

     Mc cùng lê táo to nên hương

     Tri hai mươi chín trăm năm l

     Quanh qun hòa chung mt đo tràng.  

 

8.   Như th gian nguy mt pháp thi

      Ngô tông hu mng h như ty

      Chú hương chung nht cn chiêm l

      Nghim t Linh Sơn v tán thì.

 

Dch:

      Mt pháp đến thi bui khó khăn

      Tông nhà hu mng gp gian nan

      Nay cn chiêm ngưỡng dâng nhang quý

      Phng pht Linh Sơn hi cha tan.  

 

                                                         Sau ngày kiết h năm t Hi

                                        Đồ tôn: Hong-Tu Linh-Mc đnh l kính tán

 


Thích Ca Mâu Ni Văn Phật

Phật thị sanh ư trung Thiên Trúc quốc, vi Tịnh Phạn vương chi tử. Tầm xả Chuyển Luân Thánh Vương vị xuất gia, thành vô thượng đạo, chuyển đại pháp luân. Kỳ hậu thất thập cửu tuế, thùy Bát-niết-bàn. Nãi dĩ Chánh Pháp Nhãn Tạng, phó kỳ cao đệ đệ tử Ma-ha Ca Diếp, tịnh sắc A Nan , phó nhị truyền hóa. Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê y, lịnh đại Ca Diếp chuyển phó đương lai bổ xứ Di-Lặc Phật. Kỳ thuyết kệ viết: Pháp bổn vô pháp, vô pháp pháp diệc pháp; kim phó vô pháp thời, pháp pháp hà tằng pháp?  

 

Phật thị sanh tại miền trung nước Thiên Trúc, làm con đức vua Tịnh Phạn. Ngài sớm từ bỏ ngôi vị Chuyển Luân Thánh Vương để xuất gia, rồi thành tựu đạo vô thượng và chuyển bánh xe pháp lớn. Về sau, năm bẩy mươi chín tuổi, khi sắp sửa vào Niết-bàn, Phật giao Chánh Pháp Nhãn Tạng cho cao đệ Ma-ha Ca Diếp, đồng thời bảo A Nan phải phụ giúp để truyền bá chánh pháp. Phật còn đem áo tăng-già-lê vàng đưa cho Ma-ha Ca Diếp giữ để ngày sau giao lại cho đức Di Lặc tức vị Phật tương lai. Phật nói bài kệ như sau: Pháp bổn lai chẳng pháp, cái pháp chẳng pháp đó cũng là pháp, nay giao cái pháp chẳng pháp, pháp đó chẳng pháp gì?

 

Tán

Vạn đức trang nghiêm

Nhất trần bất lập

Tứ thập cửu niên

Thái sát lang tạ

Mạt hậu niêm hoa

Tiếu đảo Ca Diếp

Chánh Pháp Nhãn Tạng

Thiên Thánh bất thức

Dịch:

Vạn đức trang nghiêm

Chẳng bợn nhiễm ô

Bốn chín năm ròng

Công lao khó nhọc

Cầm hoa mỉm cười

Truyền thừa Ca Diếp

Chánh Pháp Nhãn Tạng

Thánh Trời chẳng hay

 

 

Kệ:

 

Đâu Suất giáng sanh đế vương gia

Tứ môn du tất khí phồn hoa

Thuyết pháp diễn giáo hóa quần phẩm

Từ bi hỷ xả độ chúng hiệp

Vạn đức trang nghiêm phước huệ tu

Nhất trần bất lập tịnh tự tha

Phật Tăng truyền thừa mãn thiên hạ

Nhiếp thọ hữu tình sổ đạo ma

(Tuyên Công Thượng Nhân)

Dịch:

 

Đâu suất giáng trần chốn vương gia

Nhàn du bốn cửa chán phồn hoa

Một đời pháp bảo trao truyền lại

Hỷ xả từ bi hạnh chói lòa

Vạn đức trang nghiêm tròn phước huệ

Tự tâm thanh tịnh gạn tâm tha

Đời đời tiếp nối môn đồ Phật

Độ thoát chúng sanh tựa Hằng sa

 

 

Phật thị sanh ư trung Thiên Trúc quốc, vi Tịnh Phạn vương chi tử: Phật thị sanh tại thành Xá-vệ, miền trung nước Thiên Trúc, tức Ấn Độ ngày nay, là thái tử, con vua Tịnh Phạn.

Tầm xả Chuyển Luân Thánh Vương vị xuất gia, thành vô thượng đạo: Chữ “tầm” ở đây bao hàm ý nghĩa là chẳng bao lâu. Phật sanh ra từ chốn cung vàng, nhưng đối với năm món ham thích của thế gian như tiền tài, sắc dục, danh vọng, ăn uống, ngủ nghỉ, Phật không màng tới, cho nên, chẳng bao lâu, Phật từ bỏ luôn địa vị của Chuyển Luân Thánh Vương, bởi nếu không xuất gia thì vương vị đó là của Phật trong tương lai. Ngài bỏ lại hết, ra đi tu hành, đạt đạo vô thượng Chánh đẳng Chánh giác, theo tiếng Phạn gọi là A-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề.

Chuyển đại pháp luân: Sau khi thành đạo, Phật giảng kinh thuyết pháp, chuyển bánh xe pháp lớn để giáo hóa chúng sanh.

 Kỳ hậu thất thập cửu tuế, thùy Bát-niết-bàn: Về sau, tới bảy mươi chín tuổi, Phật nhập diệt, hay gọi là viên tịch.

 Nãi dĩ Chánh Pháp Nhãn Tạng, phó kỳ cao đệ đệ tử Ma-ha Ca Diếp: Cao đệ nghĩa là đệ tử nhiều tuổi. Phật giao Chánh Pháp Nhãn Tạng cho vị đệ tử nhiều tuổi nhất là Ma-ha Ca Diếp, tuy Tôn giả chưa hẳn là đại đệ tử của Phật. Vậy người được truyền pháp chính là Đại Ca Diếp, vị Tôn giả tu hạnh đầu đà.

 Tịnh sắc A Nan phó nhị truyền hóa:  Chữ “sắc” nghĩa là dặn bảo; “phó” là phụ vào; “nhị” là hai. Phật đồng thời bảo Tôn giả A Nan phụ giúp Tôn giả Ca Diếp trong việc hoằng dương Phật pháp.

Phục dĩ kim lũ tăng-già-lê y, lịnh đại Ca Diếp chuyển phó đương lai bổ xứ Di Lặc Phật: Tăng-già-lê là áo của Tổ, là y bát của Phật. Phật dặn dò Tôn giả Ca Diếp vào núi Kê Túc ở Vân Nam nhập định cho đến khi đức Phật Di Lặc ra đời để giao lại y bát cho đức Di Lặc.

Kỳ thuyết kệ viết: Kế đó, Phật đọc cho Tôn giả Ca Diếp nghe một bài kệ truyền pháp.

Pháp bổn pháp vô pháp: Thế nào gọi là pháp? Pháp bổn lai là không có pháp nào để nói.

Vô pháp pháp diệc pháp: Tuy nhiên, trong cái không pháp, chúng ta nói tới cái pháp đó.

Kim phó vô pháp thời: Nay, truyền y bát này là truyền pháp tâm ấn, tức là pháp chẳng có hình tướng.

Pháp pháp hà tằng pháp?: Cái pháp ở trong pháp, là cái pháp gì? Chẳng có gì hết! “Bổn lai chẳng có vật gì, còn chỗ nào là bám bụi?”

 

Tán 

Vạn đức trang nghiêm, nhất trần bất lập: Có câu nói: “tam kỳ tu phước huệ, bách kiếp chủng tướng hảo”, Phật tu phước, tu huệ, tu đến hàng vạn đức hạnh, một chút bụi nhơ cũng không bợn.

Tứ thập cửu niên, thái sát lang tạ: Trong thời gian bốn mươi chín năm, công lao khó nhọc không sao kể siết, bởi cứu độ chúng sanh chẳng phải là điều dễ dàng.

Mạt hậu niêm hoa, tiếu đảo Ca Diếp: Về sau, một hôm Phật cầm bông sen vàng giơ lên, đối trước đại chúng mỉm cười. Hết thảy đệ tử không một ai nói lên điều gì, chỉ riêng có Tôn giả Ca Diếp nở mặt, rạng rỡ mỉm cười. Thấy vậy Phật biết Tôn giả Ca Diếp đã hiểu ý Phật. Ngài bèn bảo đại chúng: “Ta có Chánh Pháp Nhãn Tạng, Niết Bàn Diệu Tâm, ta đã giao cho Ma-ha Ca Diếp!”, ý nói pháp mầu đó đã được Phật truyền lại cho Tôn giả.

Chánh Pháp Nhãn Tạng, Thiên Thánh bất thức: Chánh Pháp Nhãn Tạng là loại pháp quý báu vô cùng cho đến các Thánh Hiền cũng không nhận ra được.   

 

Kệ  

Đâu Suất giáng sanh đế vương gia: Đức Phật Thích Ca giáng trần từ nội viện của cung trời Đâu Suất. Đây là bổ xứ của Phật. Bất cứ ai, muốn thành Phật cũng phải trú ở ở đây một thời gian trước khi xuống thế. Vậy, từ nội viện cung trời Đâu Suất, Phật đã giáng sanh trong một gia đình đế vương, đó là gia đình vua Tịnh Phạn nước Xá-vệ.

Tứ môn du tất khí phồn hoa: Một hôm Ngài dạo chơi ngoài bốn cổng thành, mắt chứng kiến các  cảnh khổ của sanh, già, bệnh, chết, nhận ra rằng cuộc sống thế gian chẳng có gì là hay ho. Do sẵn túc căn, Phật quyết ý xuất gia, bỏ lại hết các thứ vinh hoa phú quý của người đời.

Thuyết pháp diễn giáo hóa quần phẩm: Để giáo hóa hết thảy chúng sanh Phật thuyết pháp trong bốn mươi chín năm, giảng kinh trong ba trăm pháp hội. 

Từ bi hỷ xả độ chúng hiệp: Phật dùng “tứ vô lượng tâm”, tức là bốn loại tâm lượng rộng lớn để giáo hóa hết thảy các chúng sanh có duyên với pháp. Tứ vô lượng tâm là từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm và xả vô lượng tâm.

Vạn đức trang nghiêm phước huệ tu: Phật có vạn đức trang nghiêm, trải qua “tam kỳ tu phước huệ”. Ngài tu trong ba đại a-tăng-kỳ kiếp, tu phước và tu huệ. A-tăng-kỳ kiếp nghĩa là vô lượng số kiếp, tức là bao nhiêu kiếp không thể kể hết số lượng. Đại a-tăng-kỳ kiếp là vô số lượng kiếp trong cái vô số lượng. Trong suốt thời gian đó, Phật đã tu phước, tu huệ, ý nói không có phước nhỏ nào mà Ngài không tu, không  có loại trí huệ nhỏ nào mà không tập. Phật lại có “bách kiếp chủng tướng hảo”, bởi trong thời gian cả trăm đại kiếp Ngài vun trồng tướng tốt sáng rực, trí huệ sáng rực, bởi vậy mới nói Phật có vạn đức trang nghiêm. Tóm lại, công đức tu phước của Ngài đến chỗ viên mãn, huệ đến chỗ viên mãn, cả phước lẫn huệ đều đầy đủ.

Nhất trần bất lập tịnh tự tha: Ở nơi Phật, không những một chút ô nhiễm cũng không bợn, các dục niệm hoàn toàn thanh tịnh, mà Ngài còn giáo hóa mọi người đến chỗ được thanh tịnh.

 Phật Tăng truyền thừa mãn thiên hạ: Phật truyền lại y bát cho Tăng, tức là giữa hai bên đã có sự tiếp nối. Điều này nói lên ý nghĩa là sự truyền thừa giáo pháp là điều bắt buộc, chớ không phải ai muốn làm sao thì làm, mà còn phải truyền pháp lại cho đời sau. “Mãn thiên hạ” nghĩa là đệ tử của Phật ở khắp các nơi trong thiên hạ, chỗ nào cũng có.

Nhiếp thọ hữu tình sổ đạo ma: “Nhiếp thọ” là dạy bảo, ý nói  giáo hóa chúng sanh, cứu độ chúng sanh đến chỗ thoát cảnh sanh tử. Số lượng chúng sanh được cứu độ thì nhiều lắm, kể ra thì đông như hạt mè, hạt thóc vậy!  

 

Bài giảng ngày mồng 2 tháng 3 năm 1984

Tuyên Công Thượng Nhân  



[1] Hoàng diện Lão nhân  黃面老人: chỉ cho Đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni.

Thành Ca-tỳ-la-vệ, tiếng Phạn là Kapilavastu, trong đó, Kapila nghĩa là màu vàng (hoàng sắc), vastu nghĩa là chỗ ở, là thành. Cho nên tiếng Phạn của thành Ca-tỳ-la-vệ có nghĩa là chỗ của vị tiên Ca-tỳ-la, vị tiên Đầu vàng. Vì đức Thích tôn sinh ra ở đây nên gọi là Hoàng diện lão tử, Hoàng diện lão nhân (Ông già mặt vàng). Cũng gọi là Hoàng diện Cù đàm, Hoàng diện lão, Hoàng đầu đại sĩ, Hoàng đầu lão, Hoàng diện, Hoàng lão, Hoàng đầu.   (theo Phật Quang Đại Từ Điển)

[2] 四七二三 (bốn bảy hai ba) có nghĩa là 4x7=28 chỉ cho 28 vị tổ Ấn Độ và 2x3=6 chỉ cho 6 vị tổ Trung Hoa lấy Tổ Đạt Ma làm tổ thứ 1. Như thế tất cả là 33 vị Tổ.

[3] Chỉ cho Sơ tổ Ca Diếp và Nhị tổ A Nan hoặc là "lưỡng gia" Nam Nhạc và Thanh Nguyên. Dòng của Nam-Nhạc chia thành phái Quy-Ngưỡng và Lâm-Tế; dòng của Thanh Nguyên chia thành 3 chi nhánh, đó là các tông Tào-Động, Vân-Môn và Pháp-Nhãn.

[4] Chỉ cho Năm tông phái của Thiền tông, còn gọi là “Ngũ gia” (Ngũ gia thất phái): Tào Động tông (曹洞宗), Vân Môn tông (雲門宗), Pháp Nhãn tông (法眼宗), Quy Ngưỡng tông (潙仰宗), và Lâm Tế tông (臨濟宗). “Ngũ gia thất tông” thì gồm có Năm tông phái vừa kể và hai bộ phái của Lâm Tế tông là Dương Kỳ phái (楊岐派) và Hoàng Long phái (黃龍派). Ngoài ra còn có chi phái Ngư Đầu (牛頭支) của Tổ Pháp Dung.

[5] Hòa Thượng Hư Vân.



Trở về trang nhà | Về đầu trang